TTC 1—Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú quán bất tịnh trên thân, với tưởng ghê tởm đối với các món ăn, với tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, quán vô thường đối với tất cả hành, với tưởng về chết, nội tâm khéo an trú.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc.
“Pañcime, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā āsavānaṁ khayāya saṁvattanti.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhu asubhānupassī kāye viharati, āhāre paṭikūlasaññī, sabbaloke anabhiratasaññī, sabbasaṅkhāresu aniccānupassī, maraṇasaññā kho panassa ajjhattaṁ sūpaṭṭhitā hoti.
Ime kho, bhikkhave, pañca dhammā bhāvitā bahulīkatā āsavānaṁ khayāya saṁvattantī”ti.
Dasamaṁ.
Saññāvaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Dve ca saññā dve vaḍḍhī ca,
sākacchena ca sājīvaṁ;
Iddhipādā ca dve vuttā,
nibbidā cāsavakkhayāti.
“Mendicants, these five things, when developed and cultivated, lead to the ending of defilements.
What five?
A mendicant meditates observing the ugliness of the body, perceives the repulsiveness of food, perceives dissatisfaction with the whole world, observes the impermanence of all conditions, and has well established the perception of their own death.
These five things, when developed and cultivated, lead to the ending of defilements.”
TTC 1—Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú quán bất tịnh trên thân, với tưởng ghê tởm đối với các món ăn, với tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, quán vô thường đối với tất cả hành, với tưởng về chết, nội tâm khéo an trú.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc.
“Pañcime, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā āsavānaṁ khayāya saṁvattanti.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhu asubhānupassī kāye viharati, āhāre paṭikūlasaññī, sabbaloke anabhiratasaññī, sabbasaṅkhāresu aniccānupassī, maraṇasaññā kho panassa ajjhattaṁ sūpaṭṭhitā hoti.
Ime kho, bhikkhave, pañca dhammā bhāvitā bahulīkatā āsavānaṁ khayāya saṁvattantī”ti.
Dasamaṁ.
Saññāvaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Dve ca saññā dve vaḍḍhī ca,
sākacchena ca sājīvaṁ;
Iddhipādā ca dve vuttā,
nibbidā cāsavakkhayāti.