TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Mahisavatthu, trên núi Sankheyyaka, tại Dhavajàlikà. Lúc bấy giờ, Tôn giả Uttara bảo các Tỷ-kheo:
TTC 2—Lành thay, này chư hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự vi phạm của mình. Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự vi phạm của người khác. Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự thành đạt của mình. Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự thành đạt của người khác.
TTC 3Lúc bấy giờ, đại vương Vessavana đang đi từ phương Bắc đến phương nam, vì một vài công việc, đại vương Vessavana nghe Tôn giả Uttara trú ở Mahisavatthu, trên núi Sankheyyaka, tại Dhavajàlikà thuyết pháp như vậy cho các Tỷ-kheo,: “Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát … sự thành đạt của người khác”.
TTC 4Rồi đại vương Vessavana như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy biến mất ở Mahisavatthu, trên núi Sankheyyaka, ở Dhavajàlikà và hiện ra trước mặt chư Thiên ở cõi Ba mươi ba. Rồi đại vương Vessavana đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến nói với Thiên chủ Sakka:
—Ngài có biết chăng Tôn giả Uttara tại Mahisavatthu, trên núi Sankheyyaka, tại Dhavajàlikà thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát … sự thành đạt của người khác”.
TTC 5Rồi Thiên chủ Sakka như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy biến mất trước chư Thiên cõi trời Ba mươi ba, hiện ra ở Mahisavatthu, trên núi trên núi Sankheyyaka, ở Dhavajàlikà, trước mặt Tôn giả Uttara. Rồi Thiên chủ Sakka đi đến Tôn giả Uttara; sau khi đến đảnh lễ Tôn giả Uttara rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên chủ Sakka nói với Tôn giả Uttara:
—Thưa Tôn giả, có thật chăng, Tôn giả Uttara thuyết pháp cho các Tỷ kheo như sau : “Lành thay , này chư Hiền, Tỷ kheo thường thường quan sát… sự thành đạt của người khác” ?
—Thưa có vậy, này Thiên chủ.
—Thưa Tôn giả, đây là Tôn giả Uttara tự nói hay là lời của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác?
TTC 6—Vậy này Thiên chủ, ta sẽ làm một ví dụ cho người, nhờ ví dụ ở đây, một số những người có trí hiểu rõ ý nghĩa của lời nói. Ví như, này Thiên chủ, có một đống lúa lớn không xa làng, hay thị trấn, và quần chúng từ nơi đống lúa ấy mang lúa đi, hoặc trên đòn gánh, hoặc trong thùng, hoặc bên hông, hoặc với bàn tay. Này Thiên chủ, nếu có ai đến đám quần chúng ấy và hỏi như sau: “Các người mang lúa này từ đâu? “ Này Thiên chủ, đám quần chúng ấy cần phải đáp như thế nào để có thể đáp một cách chơn chánh?
—Thưa Tôn giả, đám quần chúng ấy muốn đáp một cách chơn chánh, cần phải đáp như sau: “Thưa Tôn giả, chúng tôi mang lúa từ nơi đống lúa lớn này”.
—Cũng vậy, này Thiên chủ, điều gì khéo nói, tất cả là lời nói của Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác. Dựa trên lời ấy, dựa lên trên ấy, chúng tôi và các người khác nói lên.
TTC 7—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả! Thật là khéo nói là lời nói này của Tôn giả Uttara: “Tất cả là lời nói của Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác. Dựa lên trên ấy, dựa lên trên ấy, chúng tôi và các người khác nói lên “. Một thời, thưa Tôn giả Uttara, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại núi Gijjhakùta, sau khi Devadatta bỏ đi không bao lâu. Tại đấy, Thế Tôn nhân việc Devadatta, bảo các Tỷ-kheo:
—Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự vi phạm của mình. Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự vi phạm của người khác. Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự chứng đạt của mình. Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự chứng đạt của người khác. Do bị tám phi diệu pháp chinh phục, tâm bị xâm chiếm, này các Tỷ-kheo, Devadatta bị rơi vào đọa xứ, địa ngục, sống tại đấy cả một kiếp, không được cứu khỏi. Thế nào là tám?
Này các Tỷ-kheo, bị lợi dưỡng chinh phục, tâm bị xâm chiếm, Devadatta bị sanh vào đọa xứ, địa ngục sống tại đấy cả một kiếp, không được cứu khỏi. Này các Tỷ-kheo, bị không lợi dưỡng chinh phục, … bị danh vọng chinh phục … bị không danh vọng chinh phục … bị cung kính chinh phục … bị không cung kính chinh phục… bị ác dục chinh phục … bị ác bằng hữu chinh phục, tâm bị xâm chiếm, Devadatta bị rơi vào đọa xứ, địa ngục, sống tại đấy cả một kiếp, không được cứu khỏi.
Này các Tỷ kheo, bị tám phi diệu pháp này chinh phục, tâm bị xâm chiếm, Devadatta bị sanh vào đoạ xứ, địa ngục, sống tại đây cả một kiếp, không được cứu khỏi.
“Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống có thể chinh phục lợi dưỡng được sanh khởi, … không lợi dưỡng được sanh khởi … danh vọng được sanh khởi … không danh vọng được sanh khởi … cung kính được sanh khởi … không cung kính được sanh khởi … ác dục được sanh khởi … ác bằng hữu được sanh khởi … “
TTC 8“Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do duyên mục đích gì phải sống chinh phục lợi dưỡng được khởi lên? Này các Tỷ-kheo, do sống không chinh phục lợi dưỡng được khởi lên, các lậu hoặc, các tổn hại, nhiệt não sanh khởi. Do sống chinh phục lợi dưỡng được khởi lên, như vậy, các lậu hoặc, các tổn hại, nhiệt não ấy không có mặt. Này các Tỷ-kheo, do sống chinh phục không lợi dưỡng được khởi lên … danh vọng được khởi lên … không danh vọng được khởi lên … cung kính được khởi lên … không cung kính được khởi lên … ác dục được khởi lên … ác bằng hữu được khởi lên, các lậu hoặc, các tổn hại, nhiệt não khởi lên, như vậy các lậu hoặc, các tổn hại, nhiệt não ấy không có mặt. Này các Tỷ-kheo, do duyên mục đích này, Tỷ-kheo phải sống chinh phục lợi dưỡng được khởi lên … không lợi dưỡng được khởi lên … danh vọng được khởi lên … không danh vọng được khởi lên … cung kính được khởi lên … không cung kính được khởi lên … ác dục được khởi lên … ác bằng hữu được khởi lên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau:
TTC 9“Ta sẽ sống chinh phục lợi dưỡng được khởi lên … không lợi dưỡng được khởi lên … danh vọng được khởi lên … không danh vọng được khởi lên … cung kính được khởi lên … không cung kính được khởi lên … ác dục được khởi lên … ác bằng hữu được khởi lên”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
TTC 10Cho đến nay, thưa Tôn giả Uttara, trong bốn hội chúng giữa loài người: Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, pháp môn này không được một ai thiết lập. Thưa Tôn giả, Tôn giả Uttara hãy học pháp môn này. Thưa Tôn giả, Tôn giả Uttara hãy học thuộc lòng pháp môn này. Thưa Tôn giả, Tôn giả Uttara hãy thọ trì pháp môn này. Thưa Tôn giả, pháp môn này liên hệ đến mục đích, là căn bản Phạm hạnh.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā uttaro mahisavatthusmiṁ viharati saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ.
Tatra kho āyasmā uttaro bhikkhū āmantesi:
“sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attasampattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ parasampattiṁ paccavekkhitā hotī”ti.
Tena kho pana samayena vessavaṇo mahārājā uttarāya disāya dakkhiṇaṁ disaṁ gacchati kenacideva karaṇīyena.
Assosi kho vessavaṇo mahārājā āyasmato uttarassa mahisavatthusmiṁ saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ desentassa:
“sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attasampattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ parasampattiṁ paccavekkhitā hotī”ti.
Atha kho vessavaṇo mahārājā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evamevaṁ mahisavatthusmiṁ saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ antarahito devesu tāvatiṁsesu pāturahosi.
Atha kho vessavaṇo mahārājā yena sakko devānamindo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
“yagghe, mārisa, jāneyyāsi.
Eso āyasmā uttaro mahisavatthusmiṁ saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ deseti:
‘sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ …pe…
attasampattiṁ …
parasampattiṁ paccavekkhitā hotī’”ti.
Atha kho sakko devānamindo seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evamevaṁ devesu tāvatiṁsesu antarahito mahisavatthusmiṁ saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ āyasmato uttarassa sammukhe pāturahosi.
Atha kho sakko devānamindo yenāyasmā uttaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ uttaraṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho sakko devānamindo āyasmantaṁ uttaraṁ etadavoca:
“Saccaṁ kira, bhante, āyasmā uttaro bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ desesi:
‘sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti,
sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ …pe…
attasampattiṁ …
parasampattiṁ paccavekkhitā hotī’”ti?
“Evaṁ, devānamindā”ti.
“Kiṁ panidaṁ, bhante, āyasmato uttarassa sakaṁ paṭibhānaṁ, udāhu tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassā”ti?
“Tena hi, devānaminda, upamaṁ te karissāmi.
Upamāya m’idhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
Seyyathāpi, devānaminda, gāmassa vā nigamassa vā avidūre mahādhaññarāsi.
Tato mahājanakāyo dhaññaṁ āhareyya—
kājehipi piṭakehipi ucchaṅgehipi añjalīhipi.
Yo nu kho, devānaminda, taṁ mahājanakāyaṁ upasaṅkamitvā evaṁ puccheyya:
‘kuto imaṁ dhaññaṁ āharathā’ti, kathaṁ byākaramāno nu kho, devānaminda, so mahājanakāyo sammā byākaramāno byākareyyā”ti?
“‘Amumhā mahādhaññarāsimhā āharāmā’ti kho, bhante, so mahājanakāyo sammā byākaramāno byākareyyā”ti.
“Evamevaṁ kho, devānaminda, yaṁ kiñci subhāsitaṁ sabbaṁ taṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa.
Tato upādāyupādāya mayaṁ caññe ca bhaṇāmā”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ bhante.
Yāva subhāsitañcidaṁ āyasmatā uttarena:
‘yaṁ kiñci subhāsitaṁ sabbaṁ taṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa.
Tato upādāyupādāya mayañcaññe ca bhaṇāmā’ti.
Ekamidaṁ, bhante uttara, samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate acirapakkante devadatte.
Tatra kho bhagavā devadattaṁ ārabbha bhikkhū āmantesi:
‘Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ …pe…
attasampattiṁ …
parasampattiṁ paccavekkhitā hoti.
Aṭṭhahi, bhikkhave, asaddhammehi abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
Katamehi aṭṭhahi?
Lābhena hi, bhikkhave, abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho;
alābhena, bhikkhave …pe…
yasena, bhikkhave …
ayasena, bhikkhave …
sakkārena, bhikkhave …
asakkārena, bhikkhave …
pāpicchatāya, bhikkhave …
pāpamittatāya, bhikkhave, abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
Imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahi asaddhammehi abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya;
uppannaṁ alābhaṁ …pe…
uppannaṁ yasaṁ …
uppannaṁ ayasaṁ …
uppannaṁ sakkāraṁ …
uppannaṁ asakkāraṁ …
uppannaṁ pāpicchataṁ …
uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya;
uppannaṁ alābhaṁ …pe…
uppannaṁ yasaṁ …
uppannaṁ ayasaṁ …
uppannaṁ sakkāraṁ …
uppannaṁ asakkāraṁ …
uppannaṁ pāpicchataṁ …
uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya?
Yaṁ hissa, bhikkhave, uppannaṁ lābhaṁ anabhibhuyya viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya viharato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
Yaṁ hissa, bhikkhave, uppannaṁ alābhaṁ …pe…
uppannaṁ yasaṁ …
uppannaṁ ayasaṁ …
uppannaṁ sakkāraṁ …
uppannaṁ asakkāraṁ …
uppannaṁ pāpicchataṁ …
uppannaṁ pāpamittataṁ anabhibhuyya viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya viharato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
Idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya;
uppannaṁ alābhaṁ …pe…
uppannaṁ yasaṁ …
uppannaṁ ayasaṁ …
uppannaṁ sakkāraṁ …
uppannaṁ asakkāraṁ …
uppannaṁ pāpicchataṁ …
uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
“uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya viharissāma,
uppannaṁ alābhaṁ …pe…
uppannaṁ yasaṁ …
uppannaṁ ayasaṁ …
uppannaṁ sakkāraṁ …
uppannaṁ asakkāraṁ …
uppannaṁ pāpicchataṁ …
uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya viharissāmā”ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban’ti.
Ettāvatā, bhante uttara, manussesu catasso parisā—
bhikkhū, bhikkhuniyo, upāsakā, upāsikāyo.
Nāyaṁ dhammapariyāyo kismiñci upaṭṭhito.
Uggaṇhatu, bhante, āyasmā uttaro imaṁ dhammapariyāyaṁ.
Pariyāpuṇātu, bhante, āyasmā uttaro imaṁ dhammapariyāyaṁ.
Dhāretu, bhante, āyasmā uttaro imaṁ dhammapariyāyaṁ.
Atthasaṁhito ayaṁ, bhante, dhammapariyāyo ādibrahmacariyako”ti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1On one occasion the Venerable Uttara was dwelling at Mahisavatthu, in Dhavajālikā on Mount Saṅkheyya. There the Venerable Uttara addressed the bhikkhus….
SC 2“Friends, it is good for a bhikkhu from time to time to review his own failings. It is good for a bhikkhu from time to time to review the failings of others. It is good for a bhikkhu from time to time to review his own achievements. It is good for a bhikkhu from time to time to review the achievements of others.”
SC 3Now on that occasion the great deva king Vessavaṇa was traveling from north to south on some business. He heard the Venerable Uttara at Mahisavatthu, in Dhavajālikā on Mount Saṅkheyya, teaching the Dhamma to the bhikkhus thus: ‘Friends, it is good for a bhikkhu from time to time to review his own failings … the failings of others … his own achievements … the achievements of others.’ Then, just as a strong man might extend his drawn-in arm or draw in his extended arm, Vessavaṇa disappeared from Mount Saṅkheyya and reappeared among the Tāvatiṁsa devas.
SC 4He approached Sakka, ruler of the devas, and said to him: “Respected sir, you should know that the Venerable Uttara, at Mahisavatthu, an.iv.163 in Dhavajālikā on Mount Saṅkheyya, has been teaching the Dhamma to the bhikkhus thus: ‘Friends, it is good for a bhikkhu from time to time to review his own failings … the failings of others … his own achievements … the achievements of others.’”
SC 5Then, just as a strong man might extend his drawn-in arm or draw in his extended arm, Sakka disappeared from among the Tāvatiṁsa devas and reappeared at Mahisavatthu, in Dhavajālikā on Mount Saṅkheyya, in front of the Venerable Uttara. He approached the Venerable Uttara, paid homage to him, stood to one side, and said to him:
SC 6“Is it true, Bhante, as is said, that you have been teaching the Dhamma to the bhikkhus thus: ‘Friends, it is good for a bhikkhu from time to time to review his own failings … the failings of others … his own achievements … the achievements of others’?”
“Yes, ruler of the devas.”
SC 7“But, Bhante, was this your own discernment, or was it the word of the Blessed One, the Arahant, the Perfectly Enlightened One?”
SC 8“Well then, ruler of the devas, I will give you a simile; even by means of a simile, some intelligent people understand the meaning of what has been said. Suppose not far from a village or town there was a great heap of grain, and a large crowd of people were to take away grain with carrying-poles, baskets, hip-sacks, an.iv.164 and their cupped hands. If someone were to approach that large crowd of people and ask them: ‘Where did you get this grain?’ what should they say?”
SC 9“Bhante, those people should say: ‘We got it from that great heap of grain.’”
SC 10“So too, ruler of the devas, whatever is well spoken is all the word of the Blessed One, the Arahant, the Perfectly Enlightened One. I myself and others derive our good words from him.”
SC 11“It’s astounding and amazing, Bhante, how well you stated this: ‘Whatever is well spoken is all the word of the Blessed One, the Arahant, the Perfectly Enlightened One. I myself and others derive our good words from him.’
SC 12“On one occasion, Bhante Uttara, the Blessed One was dwelling at Rājagaha, on Mount Vulture Peak, not long after Devadatta had left. There the Blessed One addressed the bhikkhus with reference to Devadatta: ‘Bhikkhus, it is good for a bhikkhu from time to time to review his own failings…. Sakka here cites the Buddha’s entire discourse of 8:7, down to: [165–66] … It is in such a way, bhikkhus, that you should train yourselves.’
SC 13“Bhante Uttara, this exposition of the Dhamma has not been promulgated anywhere among the four human assemblies: that is, among bhikkhus, bhikkhunīs, male lay followers, and female lay followers. Bhante, learn this exposition of the Dhamma, master this exposition of the Dhamma, and retain this exposition of the Dhamma in mind. This exposition of the Dhamma is beneficial; it pertains to the fundamentals of the spiritual life.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Mahisavatthu, trên núi Sankheyyaka, tại Dhavajàlikà. Lúc bấy giờ, Tôn giả Uttara bảo các Tỷ-kheo:
TTC 2—Lành thay, này chư hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự vi phạm của mình. Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự vi phạm của người khác. Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự thành đạt của mình. Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự thành đạt của người khác.
TTC 3Lúc bấy giờ, đại vương Vessavana đang đi từ phương Bắc đến phương nam, vì một vài công việc, đại vương Vessavana nghe Tôn giả Uttara trú ở Mahisavatthu, trên núi Sankheyyaka, tại Dhavajàlikà thuyết pháp như vậy cho các Tỷ-kheo,: “Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát … sự thành đạt của người khác”.
TTC 4Rồi đại vương Vessavana như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy biến mất ở Mahisavatthu, trên núi Sankheyyaka, ở Dhavajàlikà và hiện ra trước mặt chư Thiên ở cõi Ba mươi ba. Rồi đại vương Vessavana đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến nói với Thiên chủ Sakka:
—Ngài có biết chăng Tôn giả Uttara tại Mahisavatthu, trên núi Sankheyyaka, tại Dhavajàlikà thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát … sự thành đạt của người khác”.
TTC 5Rồi Thiên chủ Sakka như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy biến mất trước chư Thiên cõi trời Ba mươi ba, hiện ra ở Mahisavatthu, trên núi trên núi Sankheyyaka, ở Dhavajàlikà, trước mặt Tôn giả Uttara. Rồi Thiên chủ Sakka đi đến Tôn giả Uttara; sau khi đến đảnh lễ Tôn giả Uttara rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên chủ Sakka nói với Tôn giả Uttara:
—Thưa Tôn giả, có thật chăng, Tôn giả Uttara thuyết pháp cho các Tỷ kheo như sau : “Lành thay , này chư Hiền, Tỷ kheo thường thường quan sát… sự thành đạt của người khác” ?
—Thưa có vậy, này Thiên chủ.
—Thưa Tôn giả, đây là Tôn giả Uttara tự nói hay là lời của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác?
TTC 6—Vậy này Thiên chủ, ta sẽ làm một ví dụ cho người, nhờ ví dụ ở đây, một số những người có trí hiểu rõ ý nghĩa của lời nói. Ví như, này Thiên chủ, có một đống lúa lớn không xa làng, hay thị trấn, và quần chúng từ nơi đống lúa ấy mang lúa đi, hoặc trên đòn gánh, hoặc trong thùng, hoặc bên hông, hoặc với bàn tay. Này Thiên chủ, nếu có ai đến đám quần chúng ấy và hỏi như sau: “Các người mang lúa này từ đâu? “ Này Thiên chủ, đám quần chúng ấy cần phải đáp như thế nào để có thể đáp một cách chơn chánh?
—Thưa Tôn giả, đám quần chúng ấy muốn đáp một cách chơn chánh, cần phải đáp như sau: “Thưa Tôn giả, chúng tôi mang lúa từ nơi đống lúa lớn này”.
—Cũng vậy, này Thiên chủ, điều gì khéo nói, tất cả là lời nói của Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác. Dựa trên lời ấy, dựa lên trên ấy, chúng tôi và các người khác nói lên.
TTC 7—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả! Thật là khéo nói là lời nói này của Tôn giả Uttara: “Tất cả là lời nói của Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác. Dựa lên trên ấy, dựa lên trên ấy, chúng tôi và các người khác nói lên “. Một thời, thưa Tôn giả Uttara, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại núi Gijjhakùta, sau khi Devadatta bỏ đi không bao lâu. Tại đấy, Thế Tôn nhân việc Devadatta, bảo các Tỷ-kheo:
—Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự vi phạm của mình. Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự vi phạm của người khác. Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự chứng đạt của mình. Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự chứng đạt của người khác. Do bị tám phi diệu pháp chinh phục, tâm bị xâm chiếm, này các Tỷ-kheo, Devadatta bị rơi vào đọa xứ, địa ngục, sống tại đấy cả một kiếp, không được cứu khỏi. Thế nào là tám?
Này các Tỷ-kheo, bị lợi dưỡng chinh phục, tâm bị xâm chiếm, Devadatta bị sanh vào đọa xứ, địa ngục sống tại đấy cả một kiếp, không được cứu khỏi. Này các Tỷ-kheo, bị không lợi dưỡng chinh phục, … bị danh vọng chinh phục … bị không danh vọng chinh phục … bị cung kính chinh phục … bị không cung kính chinh phục… bị ác dục chinh phục … bị ác bằng hữu chinh phục, tâm bị xâm chiếm, Devadatta bị rơi vào đọa xứ, địa ngục, sống tại đấy cả một kiếp, không được cứu khỏi.
Này các Tỷ kheo, bị tám phi diệu pháp này chinh phục, tâm bị xâm chiếm, Devadatta bị sanh vào đoạ xứ, địa ngục, sống tại đây cả một kiếp, không được cứu khỏi.
“Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống có thể chinh phục lợi dưỡng được sanh khởi, … không lợi dưỡng được sanh khởi … danh vọng được sanh khởi … không danh vọng được sanh khởi … cung kính được sanh khởi … không cung kính được sanh khởi … ác dục được sanh khởi … ác bằng hữu được sanh khởi … “
TTC 8“Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do duyên mục đích gì phải sống chinh phục lợi dưỡng được khởi lên? Này các Tỷ-kheo, do sống không chinh phục lợi dưỡng được khởi lên, các lậu hoặc, các tổn hại, nhiệt não sanh khởi. Do sống chinh phục lợi dưỡng được khởi lên, như vậy, các lậu hoặc, các tổn hại, nhiệt não ấy không có mặt. Này các Tỷ-kheo, do sống chinh phục không lợi dưỡng được khởi lên … danh vọng được khởi lên … không danh vọng được khởi lên … cung kính được khởi lên … không cung kính được khởi lên … ác dục được khởi lên … ác bằng hữu được khởi lên, các lậu hoặc, các tổn hại, nhiệt não khởi lên, như vậy các lậu hoặc, các tổn hại, nhiệt não ấy không có mặt. Này các Tỷ-kheo, do duyên mục đích này, Tỷ-kheo phải sống chinh phục lợi dưỡng được khởi lên … không lợi dưỡng được khởi lên … danh vọng được khởi lên … không danh vọng được khởi lên … cung kính được khởi lên … không cung kính được khởi lên … ác dục được khởi lên … ác bằng hữu được khởi lên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau:
TTC 9“Ta sẽ sống chinh phục lợi dưỡng được khởi lên … không lợi dưỡng được khởi lên … danh vọng được khởi lên … không danh vọng được khởi lên … cung kính được khởi lên … không cung kính được khởi lên … ác dục được khởi lên … ác bằng hữu được khởi lên”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
TTC 10Cho đến nay, thưa Tôn giả Uttara, trong bốn hội chúng giữa loài người: Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, pháp môn này không được một ai thiết lập. Thưa Tôn giả, Tôn giả Uttara hãy học pháp môn này. Thưa Tôn giả, Tôn giả Uttara hãy học thuộc lòng pháp môn này. Thưa Tôn giả, Tôn giả Uttara hãy thọ trì pháp môn này. Thưa Tôn giả, pháp môn này liên hệ đến mục đích, là căn bản Phạm hạnh.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā uttaro mahisavatthusmiṁ viharati saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ.
Tatra kho āyasmā uttaro bhikkhū āmantesi:
“sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attasampattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ parasampattiṁ paccavekkhitā hotī”ti.
Tena kho pana samayena vessavaṇo mahārājā uttarāya disāya dakkhiṇaṁ disaṁ gacchati kenacideva karaṇīyena.
Assosi kho vessavaṇo mahārājā āyasmato uttarassa mahisavatthusmiṁ saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ desentassa:
“sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attasampattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ parasampattiṁ paccavekkhitā hotī”ti.
Atha kho vessavaṇo mahārājā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evamevaṁ mahisavatthusmiṁ saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ antarahito devesu tāvatiṁsesu pāturahosi.
Atha kho vessavaṇo mahārājā yena sakko devānamindo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
“yagghe, mārisa, jāneyyāsi.
Eso āyasmā uttaro mahisavatthusmiṁ saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ deseti:
‘sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ …pe…
attasampattiṁ …
parasampattiṁ paccavekkhitā hotī’”ti.
Atha kho sakko devānamindo seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evamevaṁ devesu tāvatiṁsesu antarahito mahisavatthusmiṁ saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ āyasmato uttarassa sammukhe pāturahosi.
Atha kho sakko devānamindo yenāyasmā uttaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ uttaraṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho sakko devānamindo āyasmantaṁ uttaraṁ etadavoca:
“Saccaṁ kira, bhante, āyasmā uttaro bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ desesi:
‘sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti,
sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ …pe…
attasampattiṁ …
parasampattiṁ paccavekkhitā hotī’”ti?
“Evaṁ, devānamindā”ti.
“Kiṁ panidaṁ, bhante, āyasmato uttarassa sakaṁ paṭibhānaṁ, udāhu tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassā”ti?
“Tena hi, devānaminda, upamaṁ te karissāmi.
Upamāya m’idhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
Seyyathāpi, devānaminda, gāmassa vā nigamassa vā avidūre mahādhaññarāsi.
Tato mahājanakāyo dhaññaṁ āhareyya—
kājehipi piṭakehipi ucchaṅgehipi añjalīhipi.
Yo nu kho, devānaminda, taṁ mahājanakāyaṁ upasaṅkamitvā evaṁ puccheyya:
‘kuto imaṁ dhaññaṁ āharathā’ti, kathaṁ byākaramāno nu kho, devānaminda, so mahājanakāyo sammā byākaramāno byākareyyā”ti?
“‘Amumhā mahādhaññarāsimhā āharāmā’ti kho, bhante, so mahājanakāyo sammā byākaramāno byākareyyā”ti.
“Evamevaṁ kho, devānaminda, yaṁ kiñci subhāsitaṁ sabbaṁ taṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa.
Tato upādāyupādāya mayaṁ caññe ca bhaṇāmā”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ bhante.
Yāva subhāsitañcidaṁ āyasmatā uttarena:
‘yaṁ kiñci subhāsitaṁ sabbaṁ taṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa.
Tato upādāyupādāya mayañcaññe ca bhaṇāmā’ti.
Ekamidaṁ, bhante uttara, samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate acirapakkante devadatte.
Tatra kho bhagavā devadattaṁ ārabbha bhikkhū āmantesi:
‘Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti.
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ …pe…
attasampattiṁ …
parasampattiṁ paccavekkhitā hoti.
Aṭṭhahi, bhikkhave, asaddhammehi abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
Katamehi aṭṭhahi?
Lābhena hi, bhikkhave, abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho;
alābhena, bhikkhave …pe…
yasena, bhikkhave …
ayasena, bhikkhave …
sakkārena, bhikkhave …
asakkārena, bhikkhave …
pāpicchatāya, bhikkhave …
pāpamittatāya, bhikkhave, abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
Imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahi asaddhammehi abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya;
uppannaṁ alābhaṁ …pe…
uppannaṁ yasaṁ …
uppannaṁ ayasaṁ …
uppannaṁ sakkāraṁ …
uppannaṁ asakkāraṁ …
uppannaṁ pāpicchataṁ …
uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya;
uppannaṁ alābhaṁ …pe…
uppannaṁ yasaṁ …
uppannaṁ ayasaṁ …
uppannaṁ sakkāraṁ …
uppannaṁ asakkāraṁ …
uppannaṁ pāpicchataṁ …
uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya?
Yaṁ hissa, bhikkhave, uppannaṁ lābhaṁ anabhibhuyya viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya viharato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
Yaṁ hissa, bhikkhave, uppannaṁ alābhaṁ …pe…
uppannaṁ yasaṁ …
uppannaṁ ayasaṁ …
uppannaṁ sakkāraṁ …
uppannaṁ asakkāraṁ …
uppannaṁ pāpicchataṁ …
uppannaṁ pāpamittataṁ anabhibhuyya viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya viharato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
Idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya;
uppannaṁ alābhaṁ …pe…
uppannaṁ yasaṁ …
uppannaṁ ayasaṁ …
uppannaṁ sakkāraṁ …
uppannaṁ asakkāraṁ …
uppannaṁ pāpicchataṁ …
uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
“uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya viharissāma,
uppannaṁ alābhaṁ …pe…
uppannaṁ yasaṁ …
uppannaṁ ayasaṁ …
uppannaṁ sakkāraṁ …
uppannaṁ asakkāraṁ …
uppannaṁ pāpicchataṁ …
uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya viharissāmā”ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban’ti.
Ettāvatā, bhante uttara, manussesu catasso parisā—
bhikkhū, bhikkhuniyo, upāsakā, upāsikāyo.
Nāyaṁ dhammapariyāyo kismiñci upaṭṭhito.
Uggaṇhatu, bhante, āyasmā uttaro imaṁ dhammapariyāyaṁ.
Pariyāpuṇātu, bhante, āyasmā uttaro imaṁ dhammapariyāyaṁ.
Dhāretu, bhante, āyasmā uttaro imaṁ dhammapariyāyaṁ.
Atthasaṁhito ayaṁ, bhante, dhammapariyāyo ādibrahmacariyako”ti.
Aṭṭhamaṁ.