TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại chỗ nuôi dưỡng khổng tước ở khu vườn các du sĩ. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2Thành tựu ba pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được cứu cánh của cứu cánh, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh Phạm hạnh, cứu cánh mục đích, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?
TTC 3Vô học giới uẩn, vô học định uẩn, vô học tuệ uẩn.
Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được cứu cánh của cứu cánh, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh Phạm hạnh, cứu cánh mục đích, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.
TTC 4Lại thành tựu ba pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được cứu cánh của cứu cánh… chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?
TTC 5Thần biến thần thông, ký tâm thần thông, giáo hóa thần thông.
Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt đến cứu cánh của cứu cánh… chư Thiên và loài Người.
TTC 6Lại thành tựu ba pháp khác, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được cứu cánh của cứu cánh… chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?
TTC 7Với chánh tri kiến, với chánh trí, với chánh giải thoát.
Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt đến cứu cánh của cứu cánh… chư Thiên và loài Người.
TTC 8Thành tựu với hai pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt đến cứu cánh của cứu cánh… chư Thiên và loài Người. Thế nào là hai?
TTC 9Với minh và với hạnh.
Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt đến cứu cánh của cứu cánh… chư Thiên và loài Người.
TTC 10Này các Tỷ-kheo, đây là những bài kệ do Phạm thiên Sanamkumàra nói lên:
Sát-lỵ, chúng tối thắng,
Với người tin chủng tánh,
Bậc Minh Hạnh đầy đủ,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
Này các Tỷ-kheo, những bài kệ này được khéo hát lên, không phải vụng hát, được khéo nói lên, không phải vụng nói, liên hệ đến mục đích, không phải không liên hệ đến mục đích, và được Ta chấp nhận. Này các Tỷ-kheo, Ta cũng nói lên như vậy:
Sát-lỵ, chúng tối thắng,
Với người tin chủng tánh,
Bậc Minh Hạnh đầy đủ,
Tối thắng giữa chư Thiên.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati moranivāpe paribbājakārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Tīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Katamehi tīhi?
Asekhena sīlakkhandhena, asekhena samādhikkhandhena, asekhena paññākkhandhena—
imehi, kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Katamehi tīhi?
Iddhipāṭihāriyena, ādesanāpāṭihāriyena, anusāsanīpāṭihāriyena—
imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti, accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Katamehi tīhi?
Sammādiṭṭhiyā, sammāñāṇena, sammāvimuttiyā—
imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Katamehi dvīhi?
Vijjāya, caraṇena—
imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Brahmunā pesā, bhikkhave, sanaṅkumārena gāthā bhāsitā:
‘Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ,
ye gottapaṭisārino;
Vijjācaraṇasampanno,
so seṭṭho devamānuse’ti.
Sā kho panesā, bhikkhave, sanaṅkumārena gāthā bhāsitā subhāsitā, no dubbhāsitā; atthasaṁhitā, no anatthasaṁhitā; anumatā mayā.
Ahampi, bhikkhave, evaṁ vadāmi:
‘Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ,
ye gottapaṭisārino;
Vijjācaraṇasampanno,
so seṭṭho devamānuse’”ti.
Dasamaṁ.
Nissayavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Kimatthiyā cetanā tayo,
upanisā byasanena ca;
Dve saññā manasikāro,
saddho moranivāpakanti.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, at the monastery of the wanderers in the peacocks’ feeding ground.
There the Buddha addressed the mendicants,
“Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied.
The Buddha said this:
“Mendicants, a mendicant who has three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are best among gods and humans.
What three?
The entire spectrum of an adept’s ethics, immersion, and wisdom.
A mendicant with these three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are best among gods and humans.
A mendicant who has another three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are best among gods and humans.
What three?
A demonstration of psychic power, a demonstration of revealing, and a demonstration of instruction.
A mendicant with these three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are best among gods and humans.
A mendicant who has another three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are best among gods and humans.
What three?
Right view, right knowledge, and right freedom.
A mendicant with these three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are best among gods and humans.
A mendicant who has two qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are best among gods and humans.
What two?
Knowledge and conduct.
A mendicant with these two qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are best among gods and humans.
The divinity Sanaṅkumāra also spoke this verse:
‘The aristocrat is best among people
who take clan as the standard.
But one accomplished in knowledge and conduct
is first among gods and humans.’
Now, that verse spoken by the divinity Sanaṅkumāra is well spoken, not poorly spoken. It’s beneficial, not pointless, and I agree with it.
I also say:
‘The aristocrat is best among people
who take clan as the standard.
But one accomplished in knowledge and conduct
is first among gods and humans.’”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại chỗ nuôi dưỡng khổng tước ở khu vườn các du sĩ. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2Thành tựu ba pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được cứu cánh của cứu cánh, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh Phạm hạnh, cứu cánh mục đích, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?
TTC 3Vô học giới uẩn, vô học định uẩn, vô học tuệ uẩn.
Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được cứu cánh của cứu cánh, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh Phạm hạnh, cứu cánh mục đích, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.
TTC 4Lại thành tựu ba pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được cứu cánh của cứu cánh… chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?
TTC 5Thần biến thần thông, ký tâm thần thông, giáo hóa thần thông.
Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt đến cứu cánh của cứu cánh… chư Thiên và loài Người.
TTC 6Lại thành tựu ba pháp khác, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được cứu cánh của cứu cánh… chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?
TTC 7Với chánh tri kiến, với chánh trí, với chánh giải thoát.
Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt đến cứu cánh của cứu cánh… chư Thiên và loài Người.
TTC 8Thành tựu với hai pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt đến cứu cánh của cứu cánh… chư Thiên và loài Người. Thế nào là hai?
TTC 9Với minh và với hạnh.
Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt đến cứu cánh của cứu cánh… chư Thiên và loài Người.
TTC 10Này các Tỷ-kheo, đây là những bài kệ do Phạm thiên Sanamkumàra nói lên:
Sát-lỵ, chúng tối thắng,
Với người tin chủng tánh,
Bậc Minh Hạnh đầy đủ,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
Này các Tỷ-kheo, những bài kệ này được khéo hát lên, không phải vụng hát, được khéo nói lên, không phải vụng nói, liên hệ đến mục đích, không phải không liên hệ đến mục đích, và được Ta chấp nhận. Này các Tỷ-kheo, Ta cũng nói lên như vậy:
Sát-lỵ, chúng tối thắng,
Với người tin chủng tánh,
Bậc Minh Hạnh đầy đủ,
Tối thắng giữa chư Thiên.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati moranivāpe paribbājakārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Tīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Katamehi tīhi?
Asekhena sīlakkhandhena, asekhena samādhikkhandhena, asekhena paññākkhandhena—
imehi, kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Katamehi tīhi?
Iddhipāṭihāriyena, ādesanāpāṭihāriyena, anusāsanīpāṭihāriyena—
imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti, accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Katamehi tīhi?
Sammādiṭṭhiyā, sammāñāṇena, sammāvimuttiyā—
imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Katamehi dvīhi?
Vijjāya, caraṇena—
imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ.
Brahmunā pesā, bhikkhave, sanaṅkumārena gāthā bhāsitā:
‘Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ,
ye gottapaṭisārino;
Vijjācaraṇasampanno,
so seṭṭho devamānuse’ti.
Sā kho panesā, bhikkhave, sanaṅkumārena gāthā bhāsitā subhāsitā, no dubbhāsitā; atthasaṁhitā, no anatthasaṁhitā; anumatā mayā.
Ahampi, bhikkhave, evaṁ vadāmi:
‘Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ,
ye gottapaṭisārino;
Vijjācaraṇasampanno,
so seṭṭho devamānuse’”ti.
Dasamaṁ.
Nissayavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Kimatthiyā cetanā tayo,
upanisā byasanena ca;
Dve saññā manasikāro,
saddho moranivāpakanti.