—Này các Tỷ-kheo, ba hạng người này rơi vào đọa xứ, rơi vào địa ngục, trừ phi họ đoạn bỏ pháp này. Thế nào là ba?
Ai sống không Phạm hạnh, tự xưng là có sống Phạm hạnh; đối với người sống Phạm hạnh thanh tịnh, hành Phạm hạnh thật thanh tịnh, ai công kích là không Phạm hạnh một cách không căn cứ; ai chủ trương như sau: “Không có lỗi lầm trong các dục vọng” và rơi vào say đắm trong các dục vọng; những hạng người này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người rơi vào trong đọa xứ, rơi vào địa ngục, trừ phi họ đoạn bỏ pháp này.
“Tayome, bhikkhave, āpāyikā nerayikā idamappahāya.
Katame tayo?
Yo ca abrahmacārī brahmacāripaṭiñño,
yo ca suddhaṁ brahmacariyaṁ carantaṁ amūlakena abrahmacariyena anuddhaṁseti,
yo cāyaṁ evaṁvādī evaṁdiṭṭhi: ‘natthi kāmesu doso’ti, so tāya kāmesu pātabyataṁ āpajjati.
Ime kho, bhikkhave, tayo āpāyikā nerayikā idamappahāyā”ti.
Paṭhamaṁ.
“Mendicants, these three are bound for a place of loss, bound for hell, if they don’t give up this fault.
What three?
Someone who is unchaste, but claims to be chaste;
someone who makes a groundless accusation of unchastity against a person whose chastity is pure;
and someone who has the view, ‘There is nothing wrong with sensual pleasures,’ so they throw themselves into sensual pleasures.
These are the three who are bound for a place of loss, bound for hell, if they don’t give up this fault.”
—Này các Tỷ-kheo, ba hạng người này rơi vào đọa xứ, rơi vào địa ngục, trừ phi họ đoạn bỏ pháp này. Thế nào là ba?
Ai sống không Phạm hạnh, tự xưng là có sống Phạm hạnh; đối với người sống Phạm hạnh thanh tịnh, hành Phạm hạnh thật thanh tịnh, ai công kích là không Phạm hạnh một cách không căn cứ; ai chủ trương như sau: “Không có lỗi lầm trong các dục vọng” và rơi vào say đắm trong các dục vọng; những hạng người này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người rơi vào trong đọa xứ, rơi vào địa ngục, trừ phi họ đoạn bỏ pháp này.
“Tayome, bhikkhave, āpāyikā nerayikā idamappahāya.
Katame tayo?
Yo ca abrahmacārī brahmacāripaṭiñño,
yo ca suddhaṁ brahmacariyaṁ carantaṁ amūlakena abrahmacariyena anuddhaṁseti,
yo cāyaṁ evaṁvādī evaṁdiṭṭhi: ‘natthi kāmesu doso’ti, so tāya kāmesu pātabyataṁ āpajjati.
Ime kho, bhikkhave, tayo āpāyikā nerayikā idamappahāyā”ti.
Paṭhamaṁ.