TTC 1—Này các Tỷ-kheo, sát sanh được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của sát sanh là được làm người với tuổi thọ ngắn.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, lấy của không cho được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của lấy của không cho là được làm người với sự tổn hại tài sản.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, tà hạnh trong các dục được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của tà hạnh trong các dục là được làm người với sự oán thù của kẻ địch.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, nói láo được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói láo là được làm người bị vu cáo không đúng sự thật.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, nói hai lưỡi được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói hai lưỡi là được làm người với bạn bè bị đổ vỡ.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, nói ác khẩu được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói ác khẩu là được làm người và được nghe những tiếng không khả ý.
TTC 7Này các Tỷ-kheo, nói lời phù phiếm được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói lời phù phiếm là được làm người và được nghe những lời khó chấp nhận.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, uống men rượu, rượu nấu, được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của uống rượu mem, rượu nấu là được làm người với tâm điên loạn.
“Pāṇātipāto, bhikkhave, āsevito bhāvito bahulīkato nirayasaṁvattaniko tiracchānayonisaṁvattaniko pettivisayasaṁvattaniko.
Yo sabbalahuso pāṇātipātassa vipāko, manussabhūtassa appāyukasaṁvattaniko hoti.
Adinnādānaṁ, bhikkhave, āsevitaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ nirayasaṁvattanikaṁ tiracchānayonisaṁvattanikaṁ pettivisayasaṁvattanikaṁ.
Yo sabbalahuso adinnādānassa vipāko, manussabhūtassa bhogabyasanasaṁvattaniko hoti.
Kāmesumicchācāro, bhikkhave, āsevito bhāvito bahulīkato nirayasaṁvattaniko tiracchānayonisaṁvattaniko pettivisayasaṁvattaniko.
Yo sabbalahuso kāmesumicchācārassa vipāko, manussabhūtassa sapattaverasaṁvattaniko hoti.
Musāvādo, bhikkhave, āsevito bhāvito bahulīkato nirayasaṁvattaniko tiracchānayonisaṁvattaniko pettivisayasaṁvattaniko.
Yo sabbalahuso musāvādassa vipāko, manussabhūtassa abhūtabbhakkhānasaṁvattaniko hoti.
Pisuṇā, bhikkhave, vācā āsevitā bhāvitā bahulīkatā nirayasaṁvattanikā tiracchānayonisaṁvattanikā pettivisayasaṁvattanikā.
Yo sabbalahuso pisuṇāya vācāya vipāko, manussabhūtassa mittehi bhedanasaṁvattaniko hoti.
Pharusā, bhikkhave, vācā āsevitā bhāvitā bahulīkatā nirayasaṁvattanikā tiracchānayonisaṁvattanikā pettivisayasaṁvattanikā.
Yo sabbalahuso pharusāya vācāya vipāko, manussabhūtassa amanāpasaddasaṁvattaniko hoti.
Samphappalāpo, bhikkhave, āsevito bhāvito bahulīkato nirayasaṁvattaniko tiracchānayonisaṁvattaniko pettivisayasaṁvattaniko.
Yo sabbalahuso samphappalāpassa vipāko, manussabhūtassa anādeyyavācāsaṁvattaniko hoti.
Surāmerayapānaṁ, bhikkhave, āsevitaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ nirayasaṁvattanikaṁ tiracchānayonisaṁvattanikaṁ pettivisayasaṁvattanikaṁ.
Yo sabbalahuso surāmerayapānassa vipāko, manussabhūtassa ummattakasaṁvattaniko hotī”ti.
Dasamaṁ.
Dānavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Dve dānāni vatthuñca,
khettaṁ dānūpapattiyo;
Kiriyaṁ dve sappurisā,
abhisando vipāko cāti.
SC 1(1) “Bhikkhus, the destruction of life, repeatedly pursued, developed, and cultivated, is conducive to hell, to the animal realm, and to the sphere of afflicted spirits; for one reborn as a human being the destruction of life at minimum conduces to a short life span.
SC 2(2) “Taking what is not given, repeatedly pursued, developed, and cultivated, is conducive to hell, to the animal realm, and to the sphere of afflicted spirits; for one reborn as a human being taking what is not given at minimum conduces to loss of wealth.
SC 3(3) “Sexual misconduct, repeatedly pursued, developed, and cultivated, is conducive to hell, to the animal realm, and to the sphere of afflicted spirits; for one reborn as a human being sexual misconduct at minimum conduces to enmity and rivalry.
SC 4(4) “False speech, repeatedly pursued, developed, and cultivated, is conducive to hell, to the animal realm, and to the sphere of afflicted spirits; for one reborn as a human being false speech at minimum conduces to false accusations.
SC 5(5) “Divisive speech, repeatedly pursued, developed, and cultivated, is conducive to hell, to the animal realm, and to the sphere of afflicted spirits; for one reborn as a human being divisive speech at minimum conduces to being divided from one’s friends. an.iv.248
SC 6(6) “Harsh speech, repeatedly pursued, developed, and cultivated, is conducive to hell, to the animal realm, and to the sphere of afflicted spirits; for one reborn as a human being harsh speech at minimum conduces to disagreeable sounds.
SC 7(7) “Idle chatter, repeatedly pursued, developed, and cultivated, is conducive to hell, to the animal realm, and to the sphere of afflicted spirits; for one reborn as a human being idle chatter at minimum conduces to others distrusting one’s words.
SC 8(8) “Drinking liquor and wine, repeatedly pursued, developed, and cultivated, is conducive to hell, to the animal realm, and to the sphere of afflicted spirits; for one reborn as a human being drinking liquor and wine at minimum conduces to madness.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, sát sanh được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của sát sanh là được làm người với tuổi thọ ngắn.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, lấy của không cho được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của lấy của không cho là được làm người với sự tổn hại tài sản.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, tà hạnh trong các dục được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của tà hạnh trong các dục là được làm người với sự oán thù của kẻ địch.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, nói láo được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói láo là được làm người bị vu cáo không đúng sự thật.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, nói hai lưỡi được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói hai lưỡi là được làm người với bạn bè bị đổ vỡ.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, nói ác khẩu được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói ác khẩu là được làm người và được nghe những tiếng không khả ý.
TTC 7Này các Tỷ-kheo, nói lời phù phiếm được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói lời phù phiếm là được làm người và được nghe những lời khó chấp nhận.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, uống men rượu, rượu nấu, được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của uống rượu mem, rượu nấu là được làm người với tâm điên loạn.
“Pāṇātipāto, bhikkhave, āsevito bhāvito bahulīkato nirayasaṁvattaniko tiracchānayonisaṁvattaniko pettivisayasaṁvattaniko.
Yo sabbalahuso pāṇātipātassa vipāko, manussabhūtassa appāyukasaṁvattaniko hoti.
Adinnādānaṁ, bhikkhave, āsevitaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ nirayasaṁvattanikaṁ tiracchānayonisaṁvattanikaṁ pettivisayasaṁvattanikaṁ.
Yo sabbalahuso adinnādānassa vipāko, manussabhūtassa bhogabyasanasaṁvattaniko hoti.
Kāmesumicchācāro, bhikkhave, āsevito bhāvito bahulīkato nirayasaṁvattaniko tiracchānayonisaṁvattaniko pettivisayasaṁvattaniko.
Yo sabbalahuso kāmesumicchācārassa vipāko, manussabhūtassa sapattaverasaṁvattaniko hoti.
Musāvādo, bhikkhave, āsevito bhāvito bahulīkato nirayasaṁvattaniko tiracchānayonisaṁvattaniko pettivisayasaṁvattaniko.
Yo sabbalahuso musāvādassa vipāko, manussabhūtassa abhūtabbhakkhānasaṁvattaniko hoti.
Pisuṇā, bhikkhave, vācā āsevitā bhāvitā bahulīkatā nirayasaṁvattanikā tiracchānayonisaṁvattanikā pettivisayasaṁvattanikā.
Yo sabbalahuso pisuṇāya vācāya vipāko, manussabhūtassa mittehi bhedanasaṁvattaniko hoti.
Pharusā, bhikkhave, vācā āsevitā bhāvitā bahulīkatā nirayasaṁvattanikā tiracchānayonisaṁvattanikā pettivisayasaṁvattanikā.
Yo sabbalahuso pharusāya vācāya vipāko, manussabhūtassa amanāpasaddasaṁvattaniko hoti.
Samphappalāpo, bhikkhave, āsevito bhāvito bahulīkato nirayasaṁvattaniko tiracchānayonisaṁvattaniko pettivisayasaṁvattaniko.
Yo sabbalahuso samphappalāpassa vipāko, manussabhūtassa anādeyyavācāsaṁvattaniko hoti.
Surāmerayapānaṁ, bhikkhave, āsevitaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ nirayasaṁvattanikaṁ tiracchānayonisaṁvattanikaṁ pettivisayasaṁvattanikaṁ.
Yo sabbalahuso surāmerayapānassa vipāko, manussabhūtassa ummattakasaṁvattaniko hotī”ti.
Dasamaṁ.
Dānavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Dve dānāni vatthuñca,
khettaṁ dānūpapattiyo;
Kiriyaṁ dve sappurisā,
abhisando vipāko cāti.