Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
Lúc bấy giờ, du sĩ Sarabha, từ bỏ pháp và Luật này không bao lâu, đang tuyên bố như sau với hội chúng ở Ràjagaha: “Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ Pháp và Luật ấy”.
TTC 2Rồi có nhiều Tỷ-kheo, vào buổi sáng đắp y, cầm bát y đi vào Ràjagaha để khất thực. Các vị Tỷ-kheo ấy, nghe du sĩ Sarabha tuyên bố như sau với hội chúng ở Ràjagaha: “Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ Pháp và Luật ấy”.
Rồi các vị Tỷ-kheo đi khất thực ở Ràjagaha xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Du sĩ Sarabha, bạch Thế Tôn, đã từ bỏ Pháp và Luật này không bao lâu. Vị ấy tuyên bố: “Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ Pháp và Luật ấy”. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng lân mẫn, hãy đi đến du sĩ Sarabha!
Thế Tôn im lặng nhận lời.
TTC 3—Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền định đứng dậy, đi đến bờ sông Sappinikàti, khu vườn của các du sĩ, đến du sĩ Sarabha; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với du sĩ Sarabha:
—Có thật chăng, này Sarabha, Ông đã nói như sau: “Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ Pháp và Luật này “?
Khi được nghe nói như vậy, du sĩ Sarabha giữ im lặng.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với du sĩ Sarabha:
—Hãy nói lên, này Sarabha, Ông đã hiểu rõ pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào? Nếu Ông hiểu chưa được đầy đủ, thời Ta sẽ làm cho được đầy đủ. Nhưng nếu Ông hiểu được đầy đủ, thời Ta sẽ hoan hỉ tiếp nhận.
Lần thứ hai, du sĩ Sarabha giữ im lặng.
Lần thứ ba, Thế Tôn nói với du sĩ Sarabha:
—Chính do Ta, này Sarabha, pháp các Sa-môn Thích tử được trình bày lên. Hãy nói lên, này Sarabha, Ông đã hiểu rõ pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào? Nếu Ông hiểu chưa được đầy đủ, thời Ta sẽ làm cho được đầy đủ. Nhưng nếu Ông hiểu được đầy đủ, thời Ta sẽ hoan hỉ tiếp nhận.
Lần thứ ba, du sĩ Sarabha giữ im lặng.
Rồi các du sĩ ở Ràjagaha nói với du sĩ Sarabha:
—Này Hiền giả, những điều gì, Hiền giả cần hỏi Sa-môn Gotama, Sa-môn Gotama đã cho Hiền giả có cơ hội nói lên. Hãy nói lên, này Sarabha, Hiền giả đã hiểu pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào? Nếu Hiền giả hiểu chưa được đầy đủ, Sa-môn Gotama sẽ làm cho đầy đủ. Nếu Hiền giả hiểu được đầy đủ, Sa-môn Gotama sẽ hoan hỷ tiếp nhận.
Ðược nói như vậy, du sĩ Sarabha giữ im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không thể trả lời.
TTC 5Rồi Thế Tôn biết được du sĩ Sarabha đang giữ im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sửng sờ, ngồi không trả lời, liền nói với các du sĩ ấy:
—Này các du sĩ, ai nói với Ta như sau: “Dầu Ông tự cho là đã Chánh Ðẳng Giác, nhưng Ông không có Chánh Ðẳng Giác các pháp này”. Ở đây, Ta sẽ khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận với người ấy. Người ấy bị Ta khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận như vậy, không có chỗ nào, không có trường hợp nào, ngoài cách dựa vào một trong ba thái độ như sau: Hoặc là tránh né về vấn đề với một vấn đề khác, sẽ hướng dẫn câu chuyện ra ngoài đề tài chính, hay tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, và bất mãn hay im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói gì, như du sĩ Sarabha.
Này các du sĩ, nếu có ai nói về ta như sau: “Dầu Ông tự cho đã đoạn tận các lậu hoặc, nhưng các lậu hoặc này chưa được đoạn tận!”. Ở đây, Ta sẽ khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận với người ấy. Người ấy bị Ta khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận như vậy, không có chỗ nào, không có trường hợp nào, ngoài cách dựa vào một trong ba thái độ như sau: Hoặc là tránh né về vấn đề với một vấn đề khác, sẽ hướng dẫn câu chuyện ra ngoài đề tài chính, hay tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, và bất mãn hay im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói gì, như du sĩ Sarabha.
Này các du sĩ, nếu có ai nói về Ta như sau: “Pháp do Ông thuyết giảng với mục đích chơn chánh đoạn tận khổ đau, không có đưa người thực hành đến mục đích ấy”. Ở đây, Ta sẽ khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận với người ấy. Người ấy bị Ta khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận như vậy, không có chỗ nào, không có trường hợp nào, ngoài cách dựa vào một trong ba thái độ như sau: Hoặc là tránh né về vấn đề với một vấn đề khác, sẽ hướng dẫn câu chuyện ra ngoài đề tài chính, hay tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, và bất mãn hay im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói gì, như du sĩ Sarabha.
Rồi Thế Tôn, tại khu vườn các du sĩ, trên bờ sông Sappinnikàti, sau khi rống lên ba lần tiếng rống con sư tử, liền ra đi trên hư không.
TTC 6Các du sĩ ấy, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, liền bao vây du sĩ Sarabha, công kích du sĩ Sarabha với những dòng nước nhiếc mắng như sau:
—“Này Hiền giả Sarabha, như con dã can già yếu trong rừng rậm nghĩ rằng: “Ta sẽ rống tiếng con Sư tử”, nhưng nó chỉ thốt ra tiếng rú con dã can, chỉ thốt ra tiếng rú con thú ăn thịt. Cũng vậy, này Hiền giả Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama có thể có tiếng rống con sư tử, Ông nghĩ: “Ta sẽ rống tiếng rống con sư tử”, nhưng Ông chỉ thốt ra tiếng rú con dã can, chỉ thốt ra tiếng rú con thú ăn thịt.
Ví như, này Hiền giả Sarabha, con gà con nghĩ rằng: “Ta sẽ gáy lên tiếng gáy con gà trống”, nhưng nó chỉ có thể thốt ra tiếng kêu con gà con. Cũng vậy, này Hiền giả Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama có thể gáy lên tiếng gáy gà trống, Ông nghĩ: “Ta có thể gáy lên tiếng gáy con gà trống”, nhưng Ông chỉ thốt ra tiếng gáy con gà con.
Ví như, con bò cái con, này Hiền giả Sarabha, khi chuồng bò trống không, nghĩ rằng có thể rống tiếng rống sâu đậm con bò đực. Cũng vậy, này Hiền giả Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama ra, Ông nghĩ rằng Ông có thể rống lên tiếng rống sâu đậm con bò đực, nhưng Ông chỉ thốt ra tiếng rống con bò cái con.
Như vậy, các du sĩ ấy bao vây du sĩ Sarabha, công kích du sĩ Sarabha với những dòng nước nhiếc mắng như vậy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Tena kho pana samayena sarabho nāma paribbājako acirapakkanto hoti imasmā dhammavinayā.
So rājagahe parisati evaṁ vācaṁ bhāsati:
“aññāto mayā samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo.
Aññāya ca panāhaṁ samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammaṁ evāhaṁ tasmā dhammavinayā apakkanto”ti.
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pavisiṁsu.
Assosuṁ kho te bhikkhū sarabhassa paribbājakassa rājagahe parisati evaṁ vācaṁ bhāsamānassa:
“aññāto mayā samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo.
Aññāya ca panāhaṁ samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammaṁ evāhaṁ tasmā dhammavinayā apakkanto”ti.
Atha kho te bhikkhū rājagahe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“sarabho nāma, bhante, paribbājako acirapakkanto imasmā dhammavinayā.
So rājagahe parisati evaṁ vācaṁ bhāsati:
‘aññāto mayā samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo.
Aññāya ca panāhaṁ samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammaṁ evāhaṁ tasmā dhammavinayā apakkanto’ti.
Sādhu, bhante, bhagavā yena sippinikātīraṁ paribbājakārāmo yena sarabho paribbājako tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena sippinikātīraṁ paribbājakārāmo yena sarabho paribbājako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā sarabhaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“saccaṁ kira tvaṁ, sarabha, evaṁ vadesi:
‘aññāto mayā samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo.
Aññāya ca panāhaṁ samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammaṁ evāhaṁ tasmā dhammavinayā apakkanto’”ti?
Evaṁ vutte, sarabho paribbājako tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho bhagavā sarabhaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“vadehi, sarabha, kinti te aññāto samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo?
Sace te aparipūraṁ bhavissati, ahaṁ paripūressāmi.
Sace pana te paripūraṁ bhavissati, ahaṁ anumodissāmī”ti.
Dutiyampi kho sarabho paribbājako tuṇhī ahosi.
Tatiyampi kho bhagavā sarabhaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“yo kho, sarabha, paññāyati samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo vadehi, sarabha, kinti te aññāto samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo?
Sace te aparipūraṁ bhavissati, ahaṁ paripūressāmi.
Sace pana te paripūraṁ bhavissati, ahaṁ anumodissāmī”ti.
Tatiyampi kho sarabho paribbājako tuṇhī ahosi.
Atha kho te paribbājakā sarabhaṁ paribbājakaṁ etadavocuṁ:
“yadeva kho tvaṁ, āvuso sarabha, samaṇaṁ gotamaṁ yāceyyāsi tadeva te samaṇo gotamo pavāreti.
Vadehāvuso sarabha, kinti te aññāto samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo?
Sace te aparipūraṁ bhavissati, samaṇo gotamo paripūressati.
Sace pana te paripūraṁ bhavissati, samaṇo gotamo anumodissatī”ti.
Evaṁ vutte, sarabho paribbājako tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdi.
Atha kho bhagavā sarabhaṁ paribbājakaṁ tuṇhībhūtaṁ maṅkubhūtaṁ pattakkhandhaṁ adhomukhaṁ pajjhāyantaṁ appaṭibhānaṁ viditvā te paribbājake etadavoca:
“Yo kho maṁ, paribbājakā, evaṁ vadeyya:
‘sammāsambuddhassa te paṭijānato ime dhammā anabhisambuddhā’ti, tamahaṁ tattha sādhukaṁ samanuyuñjeyyaṁ samanugāheyyaṁ samanubhāseyyaṁ.
So vata mayā sādhukaṁ samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ so tiṇṇaṁ ṭhānānaṁ nāññataraṁ ṭhānaṁ nigaccheyya, aññena vā aññaṁ paṭicarissati, bahiddhā kathaṁ apanāmessati, kopañca dosañca appaccayañca pātukarissati, tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdissati, seyyathāpi sarabho paribbājako.
Yo kho maṁ, paribbājakā, evaṁ vadeyya:
‘khīṇāsavassa te paṭijānato ime āsavā aparikkhīṇā’ti, tamahaṁ tattha sādhukaṁ samanuyuñjeyyaṁ samanugāheyyaṁ samanubhāseyyaṁ.
So vata mayā sādhukaṁ samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ so tiṇṇaṁ ṭhānānaṁ nāññataraṁ ṭhānaṁ nigaccheyya, aññena vā aññaṁ paṭicarissati, bahiddhā kathaṁ apanāmessati, kopañca dosañca appaccayañca pātukarissati, tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdissati, seyyathāpi sarabho paribbājako.
Yo kho maṁ, paribbājakā, evaṁ vadeyya:
‘yassa kho pana te atthāya dhammo desito, so na niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti, tamahaṁ tattha sādhukaṁ samanuyuñjeyyaṁ samanugāheyyaṁ samanubhāseyyaṁ.
So vata mayā sādhukaṁ samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ so tiṇṇaṁ ṭhānānaṁ nāññataraṁ ṭhānaṁ nigaccheyya, aññena vā aññaṁ paṭicarissati, bahiddhā kathaṁ apanāmessati, kopañca dosañca appaccayañca pātukarissati, tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdissati, seyyathāpi sarabho paribbājako”ti.
Atha kho bhagavā sippinikātīre paribbājakārāme tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā vehāsaṁ pakkāmi.
Atha kho te paribbājakā acirapakkantassa bhagavato sarabhaṁ paribbājakaṁ samantato vācāyasannitodakena sañjambharimakaṁsu:
“seyyathāpi, āvuso sarabha, brahāraññe jarasiṅgālo ‘sīhanādaṁ nadissāmī’ti siṅgālakaṁyeva nadati, bheraṇḍakaṁyeva nadati;
evamevaṁ kho tvaṁ, āvuso sarabha, aññatreva samaṇena gotamena ‘sīhanādaṁ nadissāmī’ti siṅgālakaṁyeva nadasi bheraṇḍakaṁyeva nadasi.
Seyyathāpi, āvuso sarabha, ambukasañcarī ‘purisakaravitaṁ ravissāmī’ti ambukasañcariravitaṁyeva ravati;
evamevaṁ kho tvaṁ, āvuso sarabha, aññatreva samaṇena gotamena ‘purisakaravitaṁ ravissāmī’ti, ambukasañcariravitaṁyeva ravasi.
Seyyathāpi, āvuso sarabha, usabho suññāya gosālāya gambhīraṁ naditabbaṁ maññati;
evamevaṁ kho tvaṁ, āvuso sarabha, aññatreva samaṇena gotamena gambhīraṁ naditabbaṁ maññasī”ti.
Atha kho te paribbājakā sarabhaṁ paribbājakaṁ samantato vācāyasannitodakena sañjambharimakaṁsūti.
Catutthaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Rājagaha on Mount Vulture Peak. Now on that occasion a wanderer named Sarabha had recently left this Dhamma and discipline. He had been telling an assembly in Rājagaha: “I have learned the Dhamma of the ascetics who follow the Sakyan son. After I learned their Dhamma, I left that Dhamma and discipline.”
SC 2Then, one morning, a number of bhikkhus dressed, took their bowls and robes, and entered Rājagaha for alms. They then heard the wanderer Sarabha making such a statement to an assembly in Rājagaha. When those bhikkhus had walked for alms in Rājagaha, after their meal, when they returned from their alms round, they approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:
SC 3“Bhante, the wanderer Sarabha, who recently left this Dhamma and discipline, has been telling an assembly in Rājagaha: ‘I have learned the Dhamma of the ascetics who follow the Sakyan son. After I learned their Dhamma, I left that Dhamma and discipline.’ It would be good, Bhante, if the Blessed One would go to the wanderers’ park on the bank of the Sappinikā river and, out of compassion, approach the wanderer Sarabha.” The Blessed One consented by silence.
SC 4Then, in the evening, the Blessed One emerged from seclusion and went to the wanderers’ park on the bank of the Sappinikā river. He approached the wanderer Sarabha, sat down on the seat that was prepared an.i.186 for him, and said to him: “Is it true, Sarabha, that you have been saying: ‘I have learned the Dhamma of the ascetics who follow the Sakyan son. After I learned their Dhamma, I left that Dhamma and discipline’?” When this was said, the wanderer Sarabha was silent.
SC 5A second time the Blessed One said to the wanderer Sarabha: “Tell me, Sarabha, how have you learned the Dhamma of the ascetics who follow the Sakyan son? If you have not learned it completely, I will complete it. But if you have learned it completely, I will rejoice.” But a second time the wanderer Sarabha was silent.
SC 6A third time the Blessed One said to the wanderer Sarabha: “Tell me, Sarabha, how have you learned the Dhamma of the ascetics who follow the Sakyan son? If you have not learned it completely, I will complete it. But if you have learned it completely, I will rejoice.” But a third time the wanderer Sarabha was silent.
SC 7Then those wanderers said to the wanderer Sarabha: “The ascetic Gotama has offered to give you whatever you might ask him for, friend Sarabha. Speak, friend Sarabha! How have you learned the Dhamma of the ascetics who follow the Sakyan son? If you have not learned it completely, the ascetic Gotama will complete it for you. But if you have learned it completely, he will rejoice.” When this was said, the wanderer Sarabha sat silenced, disconcerted, hunched over, downcast, glum, and speechless.
SC 8Then the Blessed One, having understood that the wanderer Sarabha sat silenced, disconcerted, hunched over, downcast, glum, and speechless, said to those wanderers:
SC 9(1) “Wanderers, if anyone should say about me: ‘Though you claim to be perfectly enlightened, you are not fully enlightened about these things,’ an.i.187 I might question him closely about this matter, interrogate him, and cross-examine him. When he is being closely questioned by me, interrogated, and cross-examined, it is impossible and inconceivable that he would not incur one or another of three consequences: he would either answer evasively and divert the discussion to an irrelevant subject; or display anger, hatred, and bitterness; or would sit silenced, disconcerted, hunched over, downcast, glum, and speechless, just like the wanderer Sarabha.
SC 10(2) “If, wanderers, anyone should say about me: ‘Though you claim to be one whose taints are destroyed, you have not fully destroyed these taints,’ I might question him closely about this matter, interrogate him, and cross-examine him. When he is being closely questioned by me, interrogated, and cross-examined, it is impossible and inconceivable that he would not incur one or another of three consequences: he would either answer evasively and divert the discussion to an irrelevant subject; or display anger, hatred, and bitterness; or would sit silenced, disconcerted, hunched over, downcast, glum, and speechless, just like the wanderer Sarabha.
SC 11(3) “If, wanderers, anyone should say about me: ‘The Dhamma does not lead one who practices it to the complete destruction of suffering, the goal for the sake of which you teach it,’ I might question him closely about this matter, interrogate him, and cross-examine him. When he is being closely questioned by me, interrogated, and cross-examined, it is impossible and inconceivable that he would not incur one or another of three consequences: he would either answer evasively and divert the discussion to an irrelevant subject, or display anger, hatred, and bitterness, or would sit silenced, disconcerted, hunched over, downcast, glum, and speechless, just like the wanderer Sarabha.”
SC 12Then the Blessed One, having roared his lion’s roar three times in the wanderers’ park on the bank of the Sappinikā river, rose up into the air and departed.
SC 13Then, soon after the Blessed One had left, those wanderers gave the wanderer Sarabha a thorough verbal lashing, saying: “Just as an old jackal in a huge forest might think: ‘I will roar a lion’s roar,’ and yet would only howl and yelp like a jackal, so, friend Sarabha, claiming in the absence of the ascetic Gotama: ‘I will roar a lion’s roar,’ an.i.188 you only howled and yelped like a jackal. Just as, friend Sarabha, a chick might think: ‘I will sing like a cock,’ and yet would only sing like a chick, so, friend Sarabha, claiming in the absence of the ascetic Gotama: ‘I will sing like a cock,’ you only sang like a chick. Just as, friend Sarabha, a bull might think to bellow deeply in an empty cow shed, so, friend Sarabha, in the absence of the ascetic Gotama you thought you could bellow deeply.” In this way those wanderers gave the wanderer Sarabha a thorough verbal lashing.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
Lúc bấy giờ, du sĩ Sarabha, từ bỏ pháp và Luật này không bao lâu, đang tuyên bố như sau với hội chúng ở Ràjagaha: “Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ Pháp và Luật ấy”.
TTC 2Rồi có nhiều Tỷ-kheo, vào buổi sáng đắp y, cầm bát y đi vào Ràjagaha để khất thực. Các vị Tỷ-kheo ấy, nghe du sĩ Sarabha tuyên bố như sau với hội chúng ở Ràjagaha: “Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ Pháp và Luật ấy”.
Rồi các vị Tỷ-kheo đi khất thực ở Ràjagaha xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Du sĩ Sarabha, bạch Thế Tôn, đã từ bỏ Pháp và Luật này không bao lâu. Vị ấy tuyên bố: “Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ Pháp và Luật ấy”. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng lân mẫn, hãy đi đến du sĩ Sarabha!
Thế Tôn im lặng nhận lời.
TTC 3—Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền định đứng dậy, đi đến bờ sông Sappinikàti, khu vườn của các du sĩ, đến du sĩ Sarabha; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với du sĩ Sarabha:
—Có thật chăng, này Sarabha, Ông đã nói như sau: “Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ Pháp và Luật này “?
Khi được nghe nói như vậy, du sĩ Sarabha giữ im lặng.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với du sĩ Sarabha:
—Hãy nói lên, này Sarabha, Ông đã hiểu rõ pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào? Nếu Ông hiểu chưa được đầy đủ, thời Ta sẽ làm cho được đầy đủ. Nhưng nếu Ông hiểu được đầy đủ, thời Ta sẽ hoan hỉ tiếp nhận.
Lần thứ hai, du sĩ Sarabha giữ im lặng.
Lần thứ ba, Thế Tôn nói với du sĩ Sarabha:
—Chính do Ta, này Sarabha, pháp các Sa-môn Thích tử được trình bày lên. Hãy nói lên, này Sarabha, Ông đã hiểu rõ pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào? Nếu Ông hiểu chưa được đầy đủ, thời Ta sẽ làm cho được đầy đủ. Nhưng nếu Ông hiểu được đầy đủ, thời Ta sẽ hoan hỉ tiếp nhận.
Lần thứ ba, du sĩ Sarabha giữ im lặng.
Rồi các du sĩ ở Ràjagaha nói với du sĩ Sarabha:
—Này Hiền giả, những điều gì, Hiền giả cần hỏi Sa-môn Gotama, Sa-môn Gotama đã cho Hiền giả có cơ hội nói lên. Hãy nói lên, này Sarabha, Hiền giả đã hiểu pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào? Nếu Hiền giả hiểu chưa được đầy đủ, Sa-môn Gotama sẽ làm cho đầy đủ. Nếu Hiền giả hiểu được đầy đủ, Sa-môn Gotama sẽ hoan hỷ tiếp nhận.
Ðược nói như vậy, du sĩ Sarabha giữ im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không thể trả lời.
TTC 5Rồi Thế Tôn biết được du sĩ Sarabha đang giữ im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sửng sờ, ngồi không trả lời, liền nói với các du sĩ ấy:
—Này các du sĩ, ai nói với Ta như sau: “Dầu Ông tự cho là đã Chánh Ðẳng Giác, nhưng Ông không có Chánh Ðẳng Giác các pháp này”. Ở đây, Ta sẽ khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận với người ấy. Người ấy bị Ta khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận như vậy, không có chỗ nào, không có trường hợp nào, ngoài cách dựa vào một trong ba thái độ như sau: Hoặc là tránh né về vấn đề với một vấn đề khác, sẽ hướng dẫn câu chuyện ra ngoài đề tài chính, hay tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, và bất mãn hay im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói gì, như du sĩ Sarabha.
Này các du sĩ, nếu có ai nói về ta như sau: “Dầu Ông tự cho đã đoạn tận các lậu hoặc, nhưng các lậu hoặc này chưa được đoạn tận!”. Ở đây, Ta sẽ khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận với người ấy. Người ấy bị Ta khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận như vậy, không có chỗ nào, không có trường hợp nào, ngoài cách dựa vào một trong ba thái độ như sau: Hoặc là tránh né về vấn đề với một vấn đề khác, sẽ hướng dẫn câu chuyện ra ngoài đề tài chính, hay tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, và bất mãn hay im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói gì, như du sĩ Sarabha.
Này các du sĩ, nếu có ai nói về Ta như sau: “Pháp do Ông thuyết giảng với mục đích chơn chánh đoạn tận khổ đau, không có đưa người thực hành đến mục đích ấy”. Ở đây, Ta sẽ khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận với người ấy. Người ấy bị Ta khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận như vậy, không có chỗ nào, không có trường hợp nào, ngoài cách dựa vào một trong ba thái độ như sau: Hoặc là tránh né về vấn đề với một vấn đề khác, sẽ hướng dẫn câu chuyện ra ngoài đề tài chính, hay tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, và bất mãn hay im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói gì, như du sĩ Sarabha.
Rồi Thế Tôn, tại khu vườn các du sĩ, trên bờ sông Sappinnikàti, sau khi rống lên ba lần tiếng rống con sư tử, liền ra đi trên hư không.
TTC 6Các du sĩ ấy, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, liền bao vây du sĩ Sarabha, công kích du sĩ Sarabha với những dòng nước nhiếc mắng như sau:
—“Này Hiền giả Sarabha, như con dã can già yếu trong rừng rậm nghĩ rằng: “Ta sẽ rống tiếng con Sư tử”, nhưng nó chỉ thốt ra tiếng rú con dã can, chỉ thốt ra tiếng rú con thú ăn thịt. Cũng vậy, này Hiền giả Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama có thể có tiếng rống con sư tử, Ông nghĩ: “Ta sẽ rống tiếng rống con sư tử”, nhưng Ông chỉ thốt ra tiếng rú con dã can, chỉ thốt ra tiếng rú con thú ăn thịt.
Ví như, này Hiền giả Sarabha, con gà con nghĩ rằng: “Ta sẽ gáy lên tiếng gáy con gà trống”, nhưng nó chỉ có thể thốt ra tiếng kêu con gà con. Cũng vậy, này Hiền giả Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama có thể gáy lên tiếng gáy gà trống, Ông nghĩ: “Ta có thể gáy lên tiếng gáy con gà trống”, nhưng Ông chỉ thốt ra tiếng gáy con gà con.
Ví như, con bò cái con, này Hiền giả Sarabha, khi chuồng bò trống không, nghĩ rằng có thể rống tiếng rống sâu đậm con bò đực. Cũng vậy, này Hiền giả Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama ra, Ông nghĩ rằng Ông có thể rống lên tiếng rống sâu đậm con bò đực, nhưng Ông chỉ thốt ra tiếng rống con bò cái con.
Như vậy, các du sĩ ấy bao vây du sĩ Sarabha, công kích du sĩ Sarabha với những dòng nước nhiếc mắng như vậy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Tena kho pana samayena sarabho nāma paribbājako acirapakkanto hoti imasmā dhammavinayā.
So rājagahe parisati evaṁ vācaṁ bhāsati:
“aññāto mayā samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo.
Aññāya ca panāhaṁ samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammaṁ evāhaṁ tasmā dhammavinayā apakkanto”ti.
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pavisiṁsu.
Assosuṁ kho te bhikkhū sarabhassa paribbājakassa rājagahe parisati evaṁ vācaṁ bhāsamānassa:
“aññāto mayā samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo.
Aññāya ca panāhaṁ samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammaṁ evāhaṁ tasmā dhammavinayā apakkanto”ti.
Atha kho te bhikkhū rājagahe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“sarabho nāma, bhante, paribbājako acirapakkanto imasmā dhammavinayā.
So rājagahe parisati evaṁ vācaṁ bhāsati:
‘aññāto mayā samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo.
Aññāya ca panāhaṁ samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammaṁ evāhaṁ tasmā dhammavinayā apakkanto’ti.
Sādhu, bhante, bhagavā yena sippinikātīraṁ paribbājakārāmo yena sarabho paribbājako tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena sippinikātīraṁ paribbājakārāmo yena sarabho paribbājako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā sarabhaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“saccaṁ kira tvaṁ, sarabha, evaṁ vadesi:
‘aññāto mayā samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo.
Aññāya ca panāhaṁ samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammaṁ evāhaṁ tasmā dhammavinayā apakkanto’”ti?
Evaṁ vutte, sarabho paribbājako tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho bhagavā sarabhaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“vadehi, sarabha, kinti te aññāto samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo?
Sace te aparipūraṁ bhavissati, ahaṁ paripūressāmi.
Sace pana te paripūraṁ bhavissati, ahaṁ anumodissāmī”ti.
Dutiyampi kho sarabho paribbājako tuṇhī ahosi.
Tatiyampi kho bhagavā sarabhaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“yo kho, sarabha, paññāyati samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo vadehi, sarabha, kinti te aññāto samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo?
Sace te aparipūraṁ bhavissati, ahaṁ paripūressāmi.
Sace pana te paripūraṁ bhavissati, ahaṁ anumodissāmī”ti.
Tatiyampi kho sarabho paribbājako tuṇhī ahosi.
Atha kho te paribbājakā sarabhaṁ paribbājakaṁ etadavocuṁ:
“yadeva kho tvaṁ, āvuso sarabha, samaṇaṁ gotamaṁ yāceyyāsi tadeva te samaṇo gotamo pavāreti.
Vadehāvuso sarabha, kinti te aññāto samaṇānaṁ sakyaputtikānaṁ dhammo?
Sace te aparipūraṁ bhavissati, samaṇo gotamo paripūressati.
Sace pana te paripūraṁ bhavissati, samaṇo gotamo anumodissatī”ti.
Evaṁ vutte, sarabho paribbājako tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdi.
Atha kho bhagavā sarabhaṁ paribbājakaṁ tuṇhībhūtaṁ maṅkubhūtaṁ pattakkhandhaṁ adhomukhaṁ pajjhāyantaṁ appaṭibhānaṁ viditvā te paribbājake etadavoca:
“Yo kho maṁ, paribbājakā, evaṁ vadeyya:
‘sammāsambuddhassa te paṭijānato ime dhammā anabhisambuddhā’ti, tamahaṁ tattha sādhukaṁ samanuyuñjeyyaṁ samanugāheyyaṁ samanubhāseyyaṁ.
So vata mayā sādhukaṁ samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ so tiṇṇaṁ ṭhānānaṁ nāññataraṁ ṭhānaṁ nigaccheyya, aññena vā aññaṁ paṭicarissati, bahiddhā kathaṁ apanāmessati, kopañca dosañca appaccayañca pātukarissati, tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdissati, seyyathāpi sarabho paribbājako.
Yo kho maṁ, paribbājakā, evaṁ vadeyya:
‘khīṇāsavassa te paṭijānato ime āsavā aparikkhīṇā’ti, tamahaṁ tattha sādhukaṁ samanuyuñjeyyaṁ samanugāheyyaṁ samanubhāseyyaṁ.
So vata mayā sādhukaṁ samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ so tiṇṇaṁ ṭhānānaṁ nāññataraṁ ṭhānaṁ nigaccheyya, aññena vā aññaṁ paṭicarissati, bahiddhā kathaṁ apanāmessati, kopañca dosañca appaccayañca pātukarissati, tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdissati, seyyathāpi sarabho paribbājako.
Yo kho maṁ, paribbājakā, evaṁ vadeyya:
‘yassa kho pana te atthāya dhammo desito, so na niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti, tamahaṁ tattha sādhukaṁ samanuyuñjeyyaṁ samanugāheyyaṁ samanubhāseyyaṁ.
So vata mayā sādhukaṁ samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ so tiṇṇaṁ ṭhānānaṁ nāññataraṁ ṭhānaṁ nigaccheyya, aññena vā aññaṁ paṭicarissati, bahiddhā kathaṁ apanāmessati, kopañca dosañca appaccayañca pātukarissati, tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdissati, seyyathāpi sarabho paribbājako”ti.
Atha kho bhagavā sippinikātīre paribbājakārāme tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā vehāsaṁ pakkāmi.
Atha kho te paribbājakā acirapakkantassa bhagavato sarabhaṁ paribbājakaṁ samantato vācāyasannitodakena sañjambharimakaṁsu:
“seyyathāpi, āvuso sarabha, brahāraññe jarasiṅgālo ‘sīhanādaṁ nadissāmī’ti siṅgālakaṁyeva nadati, bheraṇḍakaṁyeva nadati;
evamevaṁ kho tvaṁ, āvuso sarabha, aññatreva samaṇena gotamena ‘sīhanādaṁ nadissāmī’ti siṅgālakaṁyeva nadasi bheraṇḍakaṁyeva nadasi.
Seyyathāpi, āvuso sarabha, ambukasañcarī ‘purisakaravitaṁ ravissāmī’ti ambukasañcariravitaṁyeva ravati;
evamevaṁ kho tvaṁ, āvuso sarabha, aññatreva samaṇena gotamena ‘purisakaravitaṁ ravissāmī’ti, ambukasañcariravitaṁyeva ravasi.
Seyyathāpi, āvuso sarabha, usabho suññāya gosālāya gambhīraṁ naditabbaṁ maññati;
evamevaṁ kho tvaṁ, āvuso sarabha, aññatreva samaṇena gotamena gambhīraṁ naditabbaṁ maññasī”ti.
Atha kho te paribbājakā sarabhaṁ paribbājakaṁ samantato vācāyasannitodakena sañjambharimakaṁsūti.
Catutthaṁ.