TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn điều Như Lai không phải che đậy, và đối với ba điều, Ngài không có phạm lỗi. Thế nào là bốn điều Như Lai không phải che đậy?
TTC 2Này các Tỷ-kheo, thân hành của Như Lai là thanh tịnh. Như Lai không có thân ác hành, khiến Như Lai phải che đậy: “Ðừng để cho người khác biết việc này của Ta!”. Này các Tỷ-kheo, khẩu hành của Như Lai là thanh tịnh. Như Lai không có khẩu ác hành, khiến Như Lai phải che đậy: “Ðừng để cho người khác biết việc này của Ta!”. Này các Tỷ-kheo, ý hành của Như Lai là thanh tịnh. Như Lai không có ý ác hành, khiến Như Lai phải che đậy: “Ðừng để cho người khác biết việc này của Ta!”. Này các Tỷ-kheo mạng sống của Như Lai là thanh tịnh. Như Lai không có tà mạng, khiến Như Lai phải che đậy: “Ðừng để cho người khác biết việc này của Ta!”.
Bốn điều này, Như Lai không phải che đậy. Thế nào là ba điều Như Lai không có phạm lỗi?
TTC 3Này các Tỷ-kheo, pháp được Như Lai khéo thuyết. Ở đây, chắc chắn không có một ai, hoặc Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay Thiên nhân, hay Ác ma, hay Phạm thiên, hay một ai ở đời sẽ có thể buộc tội một cách đúng pháp: “Ở đây, pháp không được Ngài khéo thuyết”. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có tướng này. Này các Tỷ-kheo, do không thấy có tướng này, Ta an trú, đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được không hoảng sợ. Này các Tỷ-kheo, con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử được Ta làm cho khéo rõ biết. Nhờ thực hành con đường như vậy, các đệ tử của Ta do diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ở đây chắc chắn không có một ai, hoặc Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay Thiên nhân, hay Ác ma, hay Phạm thiên, hay một ai ở đời sẽ có thể buộc tội một cách đúng pháp: “Ở đây, con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử không được Ngài làm cho khéo rõ biết. Nhờ thực hành con đường như vậy, các đệ tử của Ngài do diệt tận các lậu hoặc…, … và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có tướng này. Này các Tỷ-kheo, do không thấy có tướng này, Ta an trú, đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được không hoảng sợ. Này các Tỷ-kheo, có đến hàng trăm hội chúng đệ tử của Ta do diệt tận các lậu hoặc, … chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ở đây chắc chắn không có một ai, hoặc Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay Thiên nhân, hay Ác ma, hay Phạm thiên, hay một ai ở đời sẽ có thể buộc tội một cách đúng pháp: “Như vậy, Ngài không có hàng trăm hội chúng đệ tử, do diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.”. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có tướng này. Này các Tỷ-kheo, do không thấy có tướng này, Ta an trú, đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được không hoảng sợ. Ðối với ba điều này, Ta không có phạm lỗi.
Này các Tỷ-kheo, có bốn điều này, Như Lai không phải che đậy, và đối với ba điều này, Ngài không có phạm lỗi.
“Cattārimāni, bhikkhave, tathāgatassa arakkheyyāni, tīhi ca anupavajjo.
Katamāni cattāri tathāgatassa arakkheyyāni?
Parisuddhakāyasamācāro, bhikkhave, tathāgato;
natthi tathāgatassa kāyaduccaritaṁ yaṁ tathāgato rakkheyya:
‘mā me idaṁ paro aññāsī’ti.
Parisuddhavacīsamācāro, bhikkhave, tathāgato;
natthi tathāgatassa vacīduccaritaṁ yaṁ tathāgato rakkheyya:
‘mā me idaṁ paro aññāsī’ti.
Parisuddhamanosamācāro, bhikkhave, tathāgato;
natthi tathāgatassa manoduccaritaṁ yaṁ tathāgato rakkheyya:
‘mā me idaṁ paro aññāsī’ti.
Parisuddhājīvo, bhikkhave, tathāgato;
natthi tathāgatassa micchāājīvo yaṁ tathāgato rakkheyya:
‘mā me idaṁ paro aññāsī’ti.
Imāni cattāri tathāgatassa arakkheyyāni.
Katamehi tīhi anupavajjo?
Svākkhātadhammo, bhikkhave, tathāgato.
Tatra vata maṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā devo vā māro vā brahmā vā koci vā lokasmiṁ sahadhammena paṭicodessati:
‘itipi tvaṁ na svākkhātadhammo’ti.
Nimittametaṁ, bhikkhave, na samanupassāmi.
Etamahaṁ, bhikkhave, nimittaṁ asamanupassanto khemappatto abhayappatto vesārajjappatto viharāmi.
Supaññattā kho pana me, bhikkhave, sāvakānaṁ nibbānagāminī paṭipadā.
Yathāpaṭipannā mama sāvakā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
Tatra vata maṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā devo vā māro vā brahmā vā koci vā lokasmiṁ sahadhammena paṭicodessati:
‘itipi te na supaññattā sāvakānaṁ nibbānagāminī paṭipadā. Yathāpaṭipannā tava sāvakā āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharantī’ti.
Nimittametaṁ, bhikkhave, na samanupassāmi.
Etamahaṁ, bhikkhave, nimittaṁ asamanupassanto khemappatto abhayappatto vesārajjappatto viharāmi.
Anekasatā kho pana me, bhikkhave, sāvakaparisā āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharanti.
Tatra vata maṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā devo vā māro vā brahmā vā koci vā lokasmiṁ sahadhammena paṭicodessati:
‘itipi te na anekasatā sāvakaparisā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī’ti.
Nimittametaṁ, bhikkhave, na samanupassāmi.
Etamahaṁ, bhikkhave, nimittaṁ asamanupassanto khemappatto abhayappatto vesārajjappatto viharāmi.
Imehi tīhi anupavajjo.
Imāni kho, bhikkhave, cattāri tathāgatassa arakkheyyāni, imehi ca tīhi anupavajjo”ti.
Pañcamaṁ.
“Mendicants, there are four areas where the Realized One has nothing to hide, and three ways he is irreproachable.
What are the four areas where the Realized One has nothing to hide?
His bodily behavior is pure.
So the Realized One has no bodily misconduct to hide, thinking:
‘Don’t let others find this out about me!’
His verbal behavior is pure.
So the Realized One has no verbal misconduct to hide, thinking:
‘Don’t let others find this out about me!’
His mental behavior is pure.
So the Realized One has no mental misconduct to hide, thinking:
‘Don’t let others find this out about me!’
His livelihood is pure.
So the Realized One has no wrong livelihood to hide, thinking:
‘Don’t let others find this out about me!’
These are the four areas where the Realized One has nothing to hide.
What are the three ways the Realized One is irreproachable?
The Realized One has explained the teaching well.
I see no reason for anyone—whether ascetic, brahmin, god, Māra, or the Divinity, or anyone else in the world—to legitimately scold me, saying:
‘For such and such reasons you haven’t explained the teaching well.’
Since I see no such reason, I live secure, fearless, and assured.
I have clearly described the practice that leads to extinguishment for my disciples.
Practicing in accordance with this, my disciples realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.
I see no reason for anyone—whether ascetic, brahmin, god, Māra, or the Divinity, or anyone else in the world—to legitimately scold me, saying:
‘For such and such reasons you haven’t clearly described the practice that leads to extinguishment for your disciples.’
Since I see no such reason, I live secure, fearless, and assured.
Many hundreds in my assembly of disciples have realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.
I see no reason for anyone—whether ascetic, brahmin, god, Māra, or the Divinity, or anyone else in the world—to legitimately scold me, saying:
‘For such and such reasons you don’t have many hundreds of disciples in your following who have realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life, and who live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.’
Since I see no such reason, I live secure, fearless, and assured.
These are the three ways the Realized One is irreproachable.
These are the four areas where the Realized One has nothing to hide, and the three ways he is irreproachable.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn điều Như Lai không phải che đậy, và đối với ba điều, Ngài không có phạm lỗi. Thế nào là bốn điều Như Lai không phải che đậy?
TTC 2Này các Tỷ-kheo, thân hành của Như Lai là thanh tịnh. Như Lai không có thân ác hành, khiến Như Lai phải che đậy: “Ðừng để cho người khác biết việc này của Ta!”. Này các Tỷ-kheo, khẩu hành của Như Lai là thanh tịnh. Như Lai không có khẩu ác hành, khiến Như Lai phải che đậy: “Ðừng để cho người khác biết việc này của Ta!”. Này các Tỷ-kheo, ý hành của Như Lai là thanh tịnh. Như Lai không có ý ác hành, khiến Như Lai phải che đậy: “Ðừng để cho người khác biết việc này của Ta!”. Này các Tỷ-kheo mạng sống của Như Lai là thanh tịnh. Như Lai không có tà mạng, khiến Như Lai phải che đậy: “Ðừng để cho người khác biết việc này của Ta!”.
Bốn điều này, Như Lai không phải che đậy. Thế nào là ba điều Như Lai không có phạm lỗi?
TTC 3Này các Tỷ-kheo, pháp được Như Lai khéo thuyết. Ở đây, chắc chắn không có một ai, hoặc Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay Thiên nhân, hay Ác ma, hay Phạm thiên, hay một ai ở đời sẽ có thể buộc tội một cách đúng pháp: “Ở đây, pháp không được Ngài khéo thuyết”. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có tướng này. Này các Tỷ-kheo, do không thấy có tướng này, Ta an trú, đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được không hoảng sợ. Này các Tỷ-kheo, con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử được Ta làm cho khéo rõ biết. Nhờ thực hành con đường như vậy, các đệ tử của Ta do diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ở đây chắc chắn không có một ai, hoặc Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay Thiên nhân, hay Ác ma, hay Phạm thiên, hay một ai ở đời sẽ có thể buộc tội một cách đúng pháp: “Ở đây, con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử không được Ngài làm cho khéo rõ biết. Nhờ thực hành con đường như vậy, các đệ tử của Ngài do diệt tận các lậu hoặc…, … và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có tướng này. Này các Tỷ-kheo, do không thấy có tướng này, Ta an trú, đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được không hoảng sợ. Này các Tỷ-kheo, có đến hàng trăm hội chúng đệ tử của Ta do diệt tận các lậu hoặc, … chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ở đây chắc chắn không có một ai, hoặc Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay Thiên nhân, hay Ác ma, hay Phạm thiên, hay một ai ở đời sẽ có thể buộc tội một cách đúng pháp: “Như vậy, Ngài không có hàng trăm hội chúng đệ tử, do diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.”. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy có tướng này. Này các Tỷ-kheo, do không thấy có tướng này, Ta an trú, đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được không hoảng sợ. Ðối với ba điều này, Ta không có phạm lỗi.
Này các Tỷ-kheo, có bốn điều này, Như Lai không phải che đậy, và đối với ba điều này, Ngài không có phạm lỗi.
“Cattārimāni, bhikkhave, tathāgatassa arakkheyyāni, tīhi ca anupavajjo.
Katamāni cattāri tathāgatassa arakkheyyāni?
Parisuddhakāyasamācāro, bhikkhave, tathāgato;
natthi tathāgatassa kāyaduccaritaṁ yaṁ tathāgato rakkheyya:
‘mā me idaṁ paro aññāsī’ti.
Parisuddhavacīsamācāro, bhikkhave, tathāgato;
natthi tathāgatassa vacīduccaritaṁ yaṁ tathāgato rakkheyya:
‘mā me idaṁ paro aññāsī’ti.
Parisuddhamanosamācāro, bhikkhave, tathāgato;
natthi tathāgatassa manoduccaritaṁ yaṁ tathāgato rakkheyya:
‘mā me idaṁ paro aññāsī’ti.
Parisuddhājīvo, bhikkhave, tathāgato;
natthi tathāgatassa micchāājīvo yaṁ tathāgato rakkheyya:
‘mā me idaṁ paro aññāsī’ti.
Imāni cattāri tathāgatassa arakkheyyāni.
Katamehi tīhi anupavajjo?
Svākkhātadhammo, bhikkhave, tathāgato.
Tatra vata maṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā devo vā māro vā brahmā vā koci vā lokasmiṁ sahadhammena paṭicodessati:
‘itipi tvaṁ na svākkhātadhammo’ti.
Nimittametaṁ, bhikkhave, na samanupassāmi.
Etamahaṁ, bhikkhave, nimittaṁ asamanupassanto khemappatto abhayappatto vesārajjappatto viharāmi.
Supaññattā kho pana me, bhikkhave, sāvakānaṁ nibbānagāminī paṭipadā.
Yathāpaṭipannā mama sāvakā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
Tatra vata maṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā devo vā māro vā brahmā vā koci vā lokasmiṁ sahadhammena paṭicodessati:
‘itipi te na supaññattā sāvakānaṁ nibbānagāminī paṭipadā. Yathāpaṭipannā tava sāvakā āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharantī’ti.
Nimittametaṁ, bhikkhave, na samanupassāmi.
Etamahaṁ, bhikkhave, nimittaṁ asamanupassanto khemappatto abhayappatto vesārajjappatto viharāmi.
Anekasatā kho pana me, bhikkhave, sāvakaparisā āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharanti.
Tatra vata maṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā devo vā māro vā brahmā vā koci vā lokasmiṁ sahadhammena paṭicodessati:
‘itipi te na anekasatā sāvakaparisā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī’ti.
Nimittametaṁ, bhikkhave, na samanupassāmi.
Etamahaṁ, bhikkhave, nimittaṁ asamanupassanto khemappatto abhayappatto vesārajjappatto viharāmi.
Imehi tīhi anupavajjo.
Imāni kho, bhikkhave, cattāri tathāgatassa arakkheyyāni, imehi ca tīhi anupavajjo”ti.
Pañcamaṁ.