TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Tại đấy, Tôn giả Ananda bảo các Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền Tỷ-kheo.
—Vâng, thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda . Tôn giả Ananda nói như sau:
TTC 2—Thật vi diệu thay, thưa các Hiền giả! Thật hi hữu thay, thưa các Hiền giả, như thế nào là con đường thoát ly, thoát khỏi sự trói buộc, được Thế Tôn, bậc Trí giả, bậc Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tùy giác để các loài hữu tình được thanh tịnh, vượt khỏi sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, giác ngộ Niết-bàn. Ðây sẽ chỉ có mắt, chớ không có cảm thọ các sắc ấy và các xứ ấy; đây chỉ có tai, chớ không có cảm thọ các tiếng ấy và các xứ ấy; đây chỉ có mũi chớ không có cảm thọ các hương ấy và các xứ ấy; đây chỉ có lưỡi, chớ không có cảm thọ các vị ấy và các xứ ấy; đây chỉ có thân, chớ không có cảm thọ các xúc ấy và các xứ ấy.
TTC 3Khi được nói vậy, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Ananda:
—Này Hiền giả Ananda, người không cảm thọ xứ ấy, người ấy có tưởng hay không có tưởng?
—Này Hiền giả, người không cảm thọ xứ ấy, người ấy có tưởng, không phải không có tưởng.
Nhưng thưa Hiền giả, người không cảm thọ xứ ấy, người ấy tưởng cái gì?
TTC 4—Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các chướng ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Này Hiền giả, vị ấy có tưởng như vậy, nhưng không cảm thọ xứ ấy.
TTC 5Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt khỏi Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Này Hiền giả, vị ấy có tưởng như vậy, nhưng không cảm thọ xứ ấy.
TTC 6Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Này Hiền giả, vị ấy có tưởng như vậy, nhưng không cảm thọ xứ ấy.
TTC 7Này Hiền giả, một thời tôi sống ở Sàketa, rừng Anjanavana tại vườn nai. Rồi này Hiền giả, có một Tỷ-kheo-ni ở Jatilàgàha đến tôi, đảnh lễ tôi và đứng một bên. Ðứng một bên, này các Hiền giả, Tỷ-kheo-ni ở Jatilàgàha thưa với tôi:
—Thưa Tôn giả Ananda, Thiền định này không thiên tà dục, không dưỡng hận tâm; trong ấy, sự chế ngự không phải do hữu hành nhiếp phục, nhờ giải thoát, được vững chắc, nhờ vững chắc, được tri túc; nhờ tri túc, không có âu lo. Thưa Tôn giả Ananda , Thiền định này được Thế Tôn dạy, có quả gì?”
Ðược nói vậy, này Hiền giả, tôi nói với Tỷ-kheo-ni ở Jatilàgàha như sau: “—Thưa Chị, Thiền định này không thiên tà dục, không dưỡng hận tâm; trong ấy, sự chế ngự không phải do hữu hành nhiếp phục, nhờ giải thoát được vững chắc; nhờ vững chắc, được tri túc; nhờ tri túc, không có âu lo… Này Chị, Thiền định này được chánh trí là quả”.
Thế Tôn nói như vậy, này Hiền giả, vị ấy có những tưởng như vậy, nhưng không cảm thọ xứ ấy.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Tatra kho āyasmā ānando bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paccassosuṁ.
Āyasmā ānando etadavoca:
“Acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso.
Yāvañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sambādhe okāsādhigamo anubuddho sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya.
Tadeva nāma cakkhuṁ bhavissati te rūpā tañcāyatanaṁ no paṭisaṁvedissati.
Tadeva nāma sotaṁ bhavissati te saddā tañcāyatanaṁ no paṭisaṁvedissati.
Tadeva nāma ghānaṁ bhavissati te gandhā tañcāyatanaṁ no paṭisaṁvedissati.
Sāva nāma jivhā bhavissati te rasā tañcāyatanaṁ no paṭisaṁvedissati.
Sova nāma kāyo bhavissati te phoṭṭhabbā tañcāyatanaṁ no paṭisaṁvedissatī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā udāyī āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“saññīmeva nu kho, āvuso ānanda, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedeti udāhu asaññī”ti?
“Saññīmeva kho, āvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedeti, no asaññī”ti.
“Kiṁsaññī panāvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedetī”ti?
“Idhāvuso, bhikkhu, sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Evaṁsaññīpi kho, āvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedeti.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Evaṁsaññīpi kho, āvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedeti.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Evaṁsaññīpi kho, āvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedetīti.
Ekamidāhaṁ, āvuso, samayaṁ sākete viharāmi añjanavane migadāye.
Atha kho, āvuso, jaṭilavāsikā bhikkhunī yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho, āvuso, jaṭilavāsikā bhikkhunī maṁ etadavoca:
‘yāyaṁ, bhante ānanda, samādhi na cābhinato na cāpanato na ca sasaṅkhāraniggayhavāritagato,
vimuttattā ṭhito, ṭhitattā santusito, santusitattā no paritassati.
Ayaṁ, bhante ānanda, samādhi kiṁphalo vutto bhagavatā’ti?
Evaṁ vutte, sohaṁ, āvuso, jaṭilavāsikaṁ bhikkhuniṁ etadavocaṁ:
‘yāyaṁ, bhagini, samādhi na cābhinato na cāpanato na ca sasaṅkhāraniggayhavāritagato,
vimuttattā ṭhito, ṭhitattā santusito, santusitattā no paritassati.
Ayaṁ, bhagini, samādhi aññāphalo vutto bhagavatā’ti.
Evaṁsaññīpi kho, āvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedetī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
On one occasion Ven. Ananda was staying in Kosambi at Ghosita’s monastery. There he addressed the monks, “Friend monks!”
“Yes, friend,” the monks replied to him.
Ven. Ananda said, “It is amazing, friends, it is marvelous, how the Blessed One who knows & sees, the worthy one, rightly self-awakened, has attained & recognized the opportunity for the purification of beings, for the overcoming of sorrow & lamentation, for the disappearance of pain & distress, for the attainment of the right method, & for the realization of Unbinding, where the eye will be, and forms, and yet one will not be sensitive to that dimension; where the ear will be, and sounds… where the nose will be, and aromas… where the tongue will be, and flavors… where the body will be, and tactile sensations, and yet one will not be sensitive to that dimension.”
When this was said, Ven. Udayin said to Ven. Ananda, “Is one percipient when not sensitive to that dimension, my friend, or unpercipient?”
[Ananda:] “One is percipient when not sensitive to that dimension, my friend, not unpercipient.”
[Udayin:] “When not sensitive to that dimension, my friend, one is percipient of what?”
[Ananda:] “There is the case where, with the complete transcending of perceptions of [physical] form, with the disappearance of perceptions of resistance, and not heeding perceptions of diversity, [perceiving,] ‘Infinite space,’ one enters & remains in the dimension of the infinitude of space. This is one way of being percipient when not sensitive to that dimension.
“Then again, with the complete transcending of the dimension of the infinitude of space, [perceiving,] ‘Infinite consciousness,’ one enters & remains in the dimension of the infinitude of consciousness. This is another way of being percipient when not sensitive to that dimension.
“Then again, with the complete transcending of the dimension of the infinitude of consciousness, [perceiving,] ‘There is nothing,’ one enters & remains in the dimension of nothingness. This is another way of being percipient when not sensitive to that dimension.
“Once, friend, when I was staying in Saketa at the Game Refuge in the Black Forest, the nun Jatila Bhagika went to where I was staying, and on arrival—having bowed to me—stood to one side. As she was standing there, she said to me: ‘The concentration whereby—neither pressed down nor forced back, nor with fabrication kept blocked or suppressed—still as a result of release, contented as a result of standing still, and as a result of contentment one is not agitated: This concentration is said by the Blessed One to be the fruit of what?’
“I said to her, ‘Sister, the concentration whereby—neither pressed down nor forced back, nor with fabrication kept blocked or suppressed—still as a result of release, contented as a result of standing still, and as a result of contentment one is not agitated: This concentration is said by the Blessed One to be the fruit of gnosis.’ This is another way of being percipient when not sensitive to that dimension.”
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Tại đấy, Tôn giả Ananda bảo các Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền Tỷ-kheo.
—Vâng, thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda . Tôn giả Ananda nói như sau:
TTC 2—Thật vi diệu thay, thưa các Hiền giả! Thật hi hữu thay, thưa các Hiền giả, như thế nào là con đường thoát ly, thoát khỏi sự trói buộc, được Thế Tôn, bậc Trí giả, bậc Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tùy giác để các loài hữu tình được thanh tịnh, vượt khỏi sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, giác ngộ Niết-bàn. Ðây sẽ chỉ có mắt, chớ không có cảm thọ các sắc ấy và các xứ ấy; đây chỉ có tai, chớ không có cảm thọ các tiếng ấy và các xứ ấy; đây chỉ có mũi chớ không có cảm thọ các hương ấy và các xứ ấy; đây chỉ có lưỡi, chớ không có cảm thọ các vị ấy và các xứ ấy; đây chỉ có thân, chớ không có cảm thọ các xúc ấy và các xứ ấy.
TTC 3Khi được nói vậy, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Ananda:
—Này Hiền giả Ananda, người không cảm thọ xứ ấy, người ấy có tưởng hay không có tưởng?
—Này Hiền giả, người không cảm thọ xứ ấy, người ấy có tưởng, không phải không có tưởng.
Nhưng thưa Hiền giả, người không cảm thọ xứ ấy, người ấy tưởng cái gì?
TTC 4—Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các chướng ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Này Hiền giả, vị ấy có tưởng như vậy, nhưng không cảm thọ xứ ấy.
TTC 5Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt khỏi Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Này Hiền giả, vị ấy có tưởng như vậy, nhưng không cảm thọ xứ ấy.
TTC 6Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Này Hiền giả, vị ấy có tưởng như vậy, nhưng không cảm thọ xứ ấy.
TTC 7Này Hiền giả, một thời tôi sống ở Sàketa, rừng Anjanavana tại vườn nai. Rồi này Hiền giả, có một Tỷ-kheo-ni ở Jatilàgàha đến tôi, đảnh lễ tôi và đứng một bên. Ðứng một bên, này các Hiền giả, Tỷ-kheo-ni ở Jatilàgàha thưa với tôi:
—Thưa Tôn giả Ananda, Thiền định này không thiên tà dục, không dưỡng hận tâm; trong ấy, sự chế ngự không phải do hữu hành nhiếp phục, nhờ giải thoát, được vững chắc, nhờ vững chắc, được tri túc; nhờ tri túc, không có âu lo. Thưa Tôn giả Ananda , Thiền định này được Thế Tôn dạy, có quả gì?”
Ðược nói vậy, này Hiền giả, tôi nói với Tỷ-kheo-ni ở Jatilàgàha như sau: “—Thưa Chị, Thiền định này không thiên tà dục, không dưỡng hận tâm; trong ấy, sự chế ngự không phải do hữu hành nhiếp phục, nhờ giải thoát được vững chắc; nhờ vững chắc, được tri túc; nhờ tri túc, không có âu lo… Này Chị, Thiền định này được chánh trí là quả”.
Thế Tôn nói như vậy, này Hiền giả, vị ấy có những tưởng như vậy, nhưng không cảm thọ xứ ấy.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Tatra kho āyasmā ānando bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paccassosuṁ.
Āyasmā ānando etadavoca:
“Acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso.
Yāvañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sambādhe okāsādhigamo anubuddho sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya.
Tadeva nāma cakkhuṁ bhavissati te rūpā tañcāyatanaṁ no paṭisaṁvedissati.
Tadeva nāma sotaṁ bhavissati te saddā tañcāyatanaṁ no paṭisaṁvedissati.
Tadeva nāma ghānaṁ bhavissati te gandhā tañcāyatanaṁ no paṭisaṁvedissati.
Sāva nāma jivhā bhavissati te rasā tañcāyatanaṁ no paṭisaṁvedissati.
Sova nāma kāyo bhavissati te phoṭṭhabbā tañcāyatanaṁ no paṭisaṁvedissatī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā udāyī āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“saññīmeva nu kho, āvuso ānanda, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedeti udāhu asaññī”ti?
“Saññīmeva kho, āvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedeti, no asaññī”ti.
“Kiṁsaññī panāvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedetī”ti?
“Idhāvuso, bhikkhu, sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Evaṁsaññīpi kho, āvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedeti.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Evaṁsaññīpi kho, āvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedeti.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Evaṁsaññīpi kho, āvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedetīti.
Ekamidāhaṁ, āvuso, samayaṁ sākete viharāmi añjanavane migadāye.
Atha kho, āvuso, jaṭilavāsikā bhikkhunī yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho, āvuso, jaṭilavāsikā bhikkhunī maṁ etadavoca:
‘yāyaṁ, bhante ānanda, samādhi na cābhinato na cāpanato na ca sasaṅkhāraniggayhavāritagato,
vimuttattā ṭhito, ṭhitattā santusito, santusitattā no paritassati.
Ayaṁ, bhante ānanda, samādhi kiṁphalo vutto bhagavatā’ti?
Evaṁ vutte, sohaṁ, āvuso, jaṭilavāsikaṁ bhikkhuniṁ etadavocaṁ:
‘yāyaṁ, bhagini, samādhi na cābhinato na cāpanato na ca sasaṅkhāraniggayhavāritagato,
vimuttattā ṭhito, ṭhitattā santusito, santusitattā no paritassati.
Ayaṁ, bhagini, samādhi aññāphalo vutto bhagavatā’ti.
Evaṁsaññīpi kho, āvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedetī”ti.
Chaṭṭhaṁ.