TTC 1Có năm cựu Bà-la-môn pháp này, này các Tỷ-kheo, nay được thấy giữa các con chó, không được thấy giữa các Bà-la-môn. Thế nào là năm?
TTC 2Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn chỉ đi đến nữ Bà-la-môn, không đến phi nữ Bà-la-môn. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn đi đến nữ Bà-la-môn, cũng đi đến phi nữ Bà-la-môn. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các con chó đực chỉ đi đến con chó cái, không đi đến không phải con chó cái. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không thấy được giữa các Bà-la-môn.
TTC 3Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn chỉ đi đến nữ Bà-la-môn trong thời có thể thụ thai, không có đi trong thời kỳ không thể thụ thai. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn đi đến nữ Bà-la-môn trong thời có thể thụ thai và cũng trong thời không thể thụ thai. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các con chó đực chỉ đi đến con chó cái trong thời có thể thụ thai, không đi đến trong thời kỳ không thể thụ thai. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không thấy được giữa các Bà-la-môn.
TTC 4Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn không mua, không bán nữ Bà-la-môn cọng trú trong tình tương ái, tiếp tục trong sự thuận hòa. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn mua và bán nữ Bà-la-môn, cọng trú trong tình tương ái, tiếp tục trong sự thuận hòa. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các con chó đực không mua, không bán con chó cái cọng trú trong tình tương ái, tiếp tục trong sự thuận hòa. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không thấy được giữa các Bà-la-môn.
TTC 5Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn không cất chứa tài sản, ngũ cốc, bạc và vàng. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn cất chứa tài sản, ngũ cốc, bạc và vàng. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các loài chó không cất chứa tài sản, ngũ cốc, bạc và vàng. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không được thấy giữa các Bà-la-môn.
TTC 6Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn vào buổi chiều tìm đồ ăn buổi chiều, vào buổi sáng tìm đồ ăn buổi sáng. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn ăn cho đến no nê thỏa bụng, rồi lấy các đồ ăn còn lại và mang đi. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các con chó, vào buổi chiều tìm đồ ăn buổi chiều, vào buổi sáng tìm đồ ăn buổi sáng. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không được thấy giữa các Bà-la-môn.
Năm cựu Bà-la-môn pháp này, này các Tỷ-kheo, nay được thấy giữa các loài chó, không được thấy giữa các Bà-la-môn.
“Pañcime, bhikkhave, porāṇā brāhmaṇadhammā etarahi sunakhesu sandissanti, no brāhmaṇesu.
Katame pañca?
Pubbe sudaṁ, bhikkhave, brāhmaṇā brāhmaṇiṁyeva gacchanti, no abrāhmaṇiṁ.
Etarahi, bhikkhave, brāhmaṇā brāhmaṇimpi gacchanti, abrāhmaṇimpi gacchanti.
Etarahi, bhikkhave, sunakhā sunakhiṁyeva gacchanti, no asunakhiṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo porāṇo brāhmaṇadhammo etarahi sunakhesu sandissati, no brāhmaṇesu.
Pubbe sudaṁ, bhikkhave, brāhmaṇā brāhmaṇiṁ utuniṁyeva gacchanti, no anutuniṁ.
Etarahi, bhikkhave, brāhmaṇā brāhmaṇiṁ utunimpi gacchanti, anutunimpi gacchanti.
Etarahi, bhikkhave, sunakhā sunakhiṁ utuniṁyeva gacchanti, no anutuniṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo porāṇo brāhmaṇadhammo etarahi sunakhesu sandissati, no brāhmaṇesu.
Pubbe sudaṁ, bhikkhave, brāhmaṇā brāhmaṇiṁ neva kiṇanti no vikkiṇanti, sampiyeneva saṁvāsaṁ sambandhāya sampavattenti.
Etarahi, bhikkhave, brāhmaṇā brāhmaṇiṁ kiṇantipi vikkiṇantipi, sampiyenapi saṁvāsaṁ sambandhāya sampavattenti.
Etarahi, bhikkhave, sunakhā sunakhiṁ neva kiṇanti no vikkiṇanti, sampiyeneva saṁvāsaṁ sambandhāya sampavattenti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo porāṇo brāhmaṇadhammo etarahi sunakhesu sandissati, no brāhmaṇesu.
Pubbe sudaṁ, bhikkhave, brāhmaṇā na sannidhiṁ karonti dhanassapi dhaññassapi rajatassapi jātarūpassapi.
Etarahi, bhikkhave, brāhmaṇā sannidhiṁ karonti dhanassapi dhaññassapi rajatassapi jātarūpassapi.
Etarahi, bhikkhave, sunakhā na sannidhiṁ karonti dhanassapi dhaññassapi rajatassapi jātarūpassapi.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho porāṇo brāhmaṇadhammo etarahi sunakhesu sandissati, no brāhmaṇesu.
Pubbe sudaṁ, bhikkhave, brāhmaṇā sāyaṁ sāyamāsāya pāto pātarāsāya bhikkhaṁ pariyesanti.
Etarahi, bhikkhave, brāhmaṇā yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā avasesaṁ ādāya pakkamanti.
Etarahi, bhikkhave, sunakhā sāyaṁ sāyamāsāya pāto pātarāsāya bhikkhaṁ pariyesanti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo porāṇo brāhmaṇadhammo etarahi sunakhesu sandissati, no brāhmaṇesu.
Ime kho, bhikkhave, pañca porāṇā brāhmaṇadhammā etarahi sunakhesu sandissanti, no brāhmaṇesū”ti.
Paṭhamaṁ.
“Mendicants, these five ancient traditions of the brahmins are exhibited these days among hounds, but not among brahmins.
What five?
In the past brahmins had sex only with brahmin women, not with others.
These days brahmins have sex with both brahmin women and others.
But these days hounds have sex only with female hounds, not with other species.
This is the first ancient tradition of the brahmins exhibited these days among hounds, but not among brahmins.
In the past brahmins had sex only with brahmin women in the fertile phase of the menstrual cycle, not at other times.
These days brahmins have sex with brahmin women both in the fertile phase of the menstrual cycle and at other times.
But these days hounds have sex only with female hounds when they are in heat, not at other times.
This is the second ancient tradition of the brahmins exhibited these days among hounds, but not among brahmins.
In the past brahmins neither bought nor sold brahmin women. They lived together because they loved each other and wanted their family line to continue.
These days brahmins both buy and sell brahmin women. They live together whether they love each other or not and they want their family line to continue.
But these days hounds neither buy nor sell female hounds. They live together because they’re attracted to each other and want their family line to continue.
This is the third ancient tradition of the brahmins exhibited these days among hounds, but not among brahmins.
In the past brahmins did not store up money, grain, silver, or gold.
These days brahmins do store up money, grain, silver, and gold.
But these days hounds don’t store up money, grain, silver, or gold.
This is the fourth ancient tradition of the brahmins exhibited these days among hounds, but not among brahmins.
In the past brahmins went looking for almsfood for dinner at dusk, and for breakfast at daybreak.
These days brahmins eat as much as they like until their bellies are full, then take away the leftovers.
But these days hounds go looking for dinner at dusk, and for breakfast at daybreak.
This is the fifth ancient tradition of the brahmins exhibited these days among hounds, but not among brahmins.
These five ancient traditions of the brahmins are exhibited these days among hounds, but not among brahmins.”
TTC 1Có năm cựu Bà-la-môn pháp này, này các Tỷ-kheo, nay được thấy giữa các con chó, không được thấy giữa các Bà-la-môn. Thế nào là năm?
TTC 2Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn chỉ đi đến nữ Bà-la-môn, không đến phi nữ Bà-la-môn. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn đi đến nữ Bà-la-môn, cũng đi đến phi nữ Bà-la-môn. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các con chó đực chỉ đi đến con chó cái, không đi đến không phải con chó cái. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không thấy được giữa các Bà-la-môn.
TTC 3Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn chỉ đi đến nữ Bà-la-môn trong thời có thể thụ thai, không có đi trong thời kỳ không thể thụ thai. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn đi đến nữ Bà-la-môn trong thời có thể thụ thai và cũng trong thời không thể thụ thai. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các con chó đực chỉ đi đến con chó cái trong thời có thể thụ thai, không đi đến trong thời kỳ không thể thụ thai. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không thấy được giữa các Bà-la-môn.
TTC 4Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn không mua, không bán nữ Bà-la-môn cọng trú trong tình tương ái, tiếp tục trong sự thuận hòa. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn mua và bán nữ Bà-la-môn, cọng trú trong tình tương ái, tiếp tục trong sự thuận hòa. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các con chó đực không mua, không bán con chó cái cọng trú trong tình tương ái, tiếp tục trong sự thuận hòa. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không thấy được giữa các Bà-la-môn.
TTC 5Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn không cất chứa tài sản, ngũ cốc, bạc và vàng. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn cất chứa tài sản, ngũ cốc, bạc và vàng. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các loài chó không cất chứa tài sản, ngũ cốc, bạc và vàng. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không được thấy giữa các Bà-la-môn.
TTC 6Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn vào buổi chiều tìm đồ ăn buổi chiều, vào buổi sáng tìm đồ ăn buổi sáng. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn ăn cho đến no nê thỏa bụng, rồi lấy các đồ ăn còn lại và mang đi. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các con chó, vào buổi chiều tìm đồ ăn buổi chiều, vào buổi sáng tìm đồ ăn buổi sáng. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không được thấy giữa các Bà-la-môn.
Năm cựu Bà-la-môn pháp này, này các Tỷ-kheo, nay được thấy giữa các loài chó, không được thấy giữa các Bà-la-môn.
“Pañcime, bhikkhave, porāṇā brāhmaṇadhammā etarahi sunakhesu sandissanti, no brāhmaṇesu.
Katame pañca?
Pubbe sudaṁ, bhikkhave, brāhmaṇā brāhmaṇiṁyeva gacchanti, no abrāhmaṇiṁ.
Etarahi, bhikkhave, brāhmaṇā brāhmaṇimpi gacchanti, abrāhmaṇimpi gacchanti.
Etarahi, bhikkhave, sunakhā sunakhiṁyeva gacchanti, no asunakhiṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo porāṇo brāhmaṇadhammo etarahi sunakhesu sandissati, no brāhmaṇesu.
Pubbe sudaṁ, bhikkhave, brāhmaṇā brāhmaṇiṁ utuniṁyeva gacchanti, no anutuniṁ.
Etarahi, bhikkhave, brāhmaṇā brāhmaṇiṁ utunimpi gacchanti, anutunimpi gacchanti.
Etarahi, bhikkhave, sunakhā sunakhiṁ utuniṁyeva gacchanti, no anutuniṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo porāṇo brāhmaṇadhammo etarahi sunakhesu sandissati, no brāhmaṇesu.
Pubbe sudaṁ, bhikkhave, brāhmaṇā brāhmaṇiṁ neva kiṇanti no vikkiṇanti, sampiyeneva saṁvāsaṁ sambandhāya sampavattenti.
Etarahi, bhikkhave, brāhmaṇā brāhmaṇiṁ kiṇantipi vikkiṇantipi, sampiyenapi saṁvāsaṁ sambandhāya sampavattenti.
Etarahi, bhikkhave, sunakhā sunakhiṁ neva kiṇanti no vikkiṇanti, sampiyeneva saṁvāsaṁ sambandhāya sampavattenti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo porāṇo brāhmaṇadhammo etarahi sunakhesu sandissati, no brāhmaṇesu.
Pubbe sudaṁ, bhikkhave, brāhmaṇā na sannidhiṁ karonti dhanassapi dhaññassapi rajatassapi jātarūpassapi.
Etarahi, bhikkhave, brāhmaṇā sannidhiṁ karonti dhanassapi dhaññassapi rajatassapi jātarūpassapi.
Etarahi, bhikkhave, sunakhā na sannidhiṁ karonti dhanassapi dhaññassapi rajatassapi jātarūpassapi.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho porāṇo brāhmaṇadhammo etarahi sunakhesu sandissati, no brāhmaṇesu.
Pubbe sudaṁ, bhikkhave, brāhmaṇā sāyaṁ sāyamāsāya pāto pātarāsāya bhikkhaṁ pariyesanti.
Etarahi, bhikkhave, brāhmaṇā yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā avasesaṁ ādāya pakkamanti.
Etarahi, bhikkhave, sunakhā sāyaṁ sāyamāsāya pāto pātarāsāya bhikkhaṁ pariyesanti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo porāṇo brāhmaṇadhammo etarahi sunakhesu sandissati, no brāhmaṇesu.
Ime kho, bhikkhave, pañca porāṇā brāhmaṇadhammā etarahi sunakhesu sandissanti, no brāhmaṇesū”ti.
Paṭhamaṁ.