Vải Thô Bằng Vỏ Cây
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có tấm vải bằng vỏ cây hoàn toàn mới, sắc xấu, cảm xúc khó chịu, và không có giá trị. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải bằng vỏ cây bậc trung, sắc xấu, cảm xúc khó chịu, và không có giá trị. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải bằng vỏ cây cũ kỹ, để lau chùi nồi niêu, hay đáng được quăng trên đống rác.
TTC 2Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo mới tu hành, ác giới, theo ác pháp, Ta nói rằng vị Tỷ-kheo ấy có sắc xấu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây sắc xấu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai theo vị ấy, thân cận, hầu hạ, chấp nhận, thuận theo trí kiến của vị ấy, họ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc khó chịu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây có cảm xúc khó chịu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai, vị này nhận các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, sẽ không có quả lớn, không có lợi ích lớn; đây, Ta nói rằng, không có giá trị. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây không có giá trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, nếu là trung niên Tỷ-kheo … (như trên) … . này các Tỷ-kheo, nếu là trưởng lão Tỷ-kheo, ác giới, theo ác pháp. Ta nói rằng vị ấy có sắc xấu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải làm bằng vỏ cây có sắc xấu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn từ những ai theo vị ấy, thân cận, hầu hạ, chấp nhận, thuận theo tri kiến của vị ấy, họ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài; đấy, Ta nói rằng vị ấy có xúc chạm khó chịu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây có xúc chạm khó chịu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn từ những ai, vị này nhận các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, họ sẽ không có quả lớn, không có lợi ích lớn; ở đây, Ta nói rằng, vị ấy không có giá trị. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây không có giá trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
TTC 4Như vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trưởng lão này nói lên ở giữa chúng Tăng, các Tỷ-kheo nói như sau: “Sao Thầy nghĩ rằng Thầy có thể tuyên bố, một người ngu si, không thông minh? “Vị ấy phẫn nộ, bất mãn, sẽ nói lên những lời này, chúng Tăng đuổi vị ấy ra khỏi, như người ta quăng bỏ tấm vải bằng vỏ cây ấy trên đống rác.
Vải Ba-la-nại
TTC 5—Này các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi (Ba-la-nại), hoàn toàn mới, có sắc đẹp, cảm xúc dễ chịu, và có giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi bậc trung, có sắc đẹp, cảm xúc dễ chịu, và có giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi cũ, có sắc đẹp, cảm xúc dễ chịu, và có giá trị lớn. Và này các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi cũ kỹ dùng để gói các châu báu, hay được đặt vào trong một hộp có hương thơm.
TTC 6Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo mới tu hành, giữ gìn giới luật theo thiện pháp, Ta nói rằng vị Tỷ-kheo ấy có sắc đẹp. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có sắc đẹp ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai theo vị ấy, thân cận, hầu hạ, chấp nhận, thuận theo trí kiến của vị ấy, họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc dễ chịu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có cảm xúc dễ chịu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai, vị này nhận các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, họ sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn; đây, Ta nói rằng, vị ấy có giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có giá trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.
TTC 7Còn nếu là trung niên Tỷ-kheo, … này các Tỷ-kheo, nếu là trưởng lão Tỷ-kheo, giữ gìn giới luật theo thiện pháp, đây ta tuyên bố là vị ấy có sắc đẹp. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có sắc đẹp ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai theo vị ấy, thân cận, hầu hạ, chấp nhận, thuận theo tri kiến của vị ấy, họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc dễ chịu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có cảm xúc dễ chịu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai, vị này nhận các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, họ sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn; đây, Ta nói rằng, vị ấy có giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có giá trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.
TTC 8Như vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trưởng lão này nói lên ở giữa chúng Tăng. Các Tỷ kheo ấy nói như sau: “Chư Tôn giả hãy im lặng, Tỷ-kheo trưởng lão đang nói pháp và luật, và lời nói của vị ấy trở thành châu báu cần phải cất giữ, như một người cất giữ tấm vải kàsi trong một hộp có hương thơm.” Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng ta sẽ được như ví dụ tấm vải kàsi, không giống như ví dụ tấm vải bằng vỏ cây”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
“Navopi, bhikkhave, potthako dubbaṇṇo ca hoti dukkhasamphasso ca appaggho ca;
majjhimopi, bhikkhave, potthako dubbaṇṇo ca hoti dukkhasamphasso ca appaggho ca;
jiṇṇopi, bhikkhave, potthako dubbaṇṇo ca hoti dukkhasamphasso ca appaggho ca.
Jiṇṇampi, bhikkhave, potthakaṁ ukkhaliparimajjanaṁ vā karonti saṅkārakūṭe vā naṁ chaḍḍenti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, navo cepi bhikkhu hoti dussīlo pāpadhammo.
Idamassa dubbaṇṇatāya vadāmi.
Seyyathāpi so, bhikkhave, potthako dubbaṇṇo tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Ye kho panassa sevanti bhajanti payirupāsanti diṭṭhānugatiṁ āpajjanti, tesaṁ taṁ hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Idamassa dukkhasamphassatāya vadāmi.
Seyyathāpi so, bhikkhave, potthako dukkhasamphasso tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Yesaṁ kho pana so paṭiggaṇhāti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ, tesaṁ taṁ na mahapphalaṁ hoti na mahānisaṁsaṁ.
Idamassa appagghatāya vadāmi.
Seyyathāpi so, bhikkhave, potthako appaggho tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Majjhimo cepi, bhikkhave, bhikkhu hoti …pe…
thero cepi, bhikkhave, bhikkhu hoti dussīlo pāpadhammo, idamassa dubbaṇṇatāya vadāmi.
Seyyathāpi so, bhikkhave, potthako dubbaṇṇo tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Ye kho panassa sevanti bhajanti payirupāsanti diṭṭhānugatiṁ āpajjanti, tesaṁ taṁ hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Idamassa dukkhasamphassatāya vadāmi.
Seyyathāpi so, bhikkhave, potthako dukkhasamphasso tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Yesaṁ kho pana so paṭiggaṇhāti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ, tesaṁ taṁ na mahapphalaṁ hoti na mahānisaṁsaṁ.
Idamassa appagghatāya vadāmi.
Seyyathāpi so, bhikkhave, potthako appaggho tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpo cāyaṁ, bhikkhave, thero bhikkhu saṅghamajjhe bhaṇati.
Tamenaṁ bhikkhū evamāhaṁsu:
‘kiṁ nu kho tuyhaṁ bālassa abyattassa bhaṇitena,
tvampi nāma bhaṇitabbaṁ maññasī’ti.
So kupito anattamano tathārūpiṁ vācaṁ nicchāreti yathārūpāya vācāya saṅgho taṁ ukkhipati, saṅkārakūṭeva naṁ potthakaṁ.
Navampi, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ vaṇṇavantañceva hoti sukhasamphassañca mahagghañca; majjhimampi, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ vaṇṇavantañceva hoti sukhasamphassañca mahagghañca; jiṇṇampi, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ vaṇṇavantañceva hoti sukhasamphassañca mahagghañca.
Jiṇṇampi, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ ratanapaliveṭhanaṁ vā karoti gandhakaraṇḍake vā naṁ pakkhipanti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, navo cepi bhikkhu hoti sīlavā kalyāṇadhammo, idamassa suvaṇṇatāya vadāmi.
Seyyathāpi taṁ, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ vaṇṇavantaṁ tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Ye kho panassa sevanti bhajanti payirupāsanti diṭṭhānugatiṁ āpajjanti, tesaṁ taṁ hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
Idamassa sukhasamphassatāya vadāmi.
Seyyathāpi taṁ, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ sukhasamphassaṁ tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Yesaṁ kho pana so paṭiggaṇhāti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ, tesaṁ taṁ mahapphalaṁ hoti mahānisaṁsaṁ.
Idamassa mahagghatāya vadāmi.
Seyyathāpi taṁ, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ mahagghaṁ tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Majjhimo cepi, bhikkhave, bhikkhu hoti …pe…
thero cepi, bhikkhave, bhikkhu hoti …pe… puggalaṁ vadāmi.
Evarūpo cāyaṁ, bhikkhave, thero bhikkhu saṅghamajjhe bhaṇati.
Tamenaṁ bhikkhū evamāhaṁsu:
‘appasaddā āyasmanto hotha, thero bhikkhu dhammañca vinayañca bhaṇatī’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘kāsikavatthūpamā bhavissāma, na potthakūpamā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“Jute canvas is ugly, unpleasant to touch, and worthless whether it’s new, worn in, or worn out.
They use worn out jute canvas for scrubbing cauldrons, or else they just throw it away on the rubbish heap.
In the same way, if a junior mendicant is unethical, of bad character,
this is how they’re ugly, I say.
That individual is just as ugly as jute canvas.
If you associate with, accompany, and attend to them, following their example, it’ll be for your lasting harm and suffering.
This is how they’re unpleasant to touch, I say.
That individual is just as unpleasant to touch as jute canvas.
Any robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick that they receive are not very fruitful or beneficial for the donor.
This is how they’re worthless, I say.
That individual is just as worthless as jute canvas.
If a middle mendicant is unethical, of bad character, this is how they’re ugly, I say. …
If a senior mendicant is unethical, of bad character, this is how they’re ugly, I say. …
If you associate with, accompany, and attend to them, following their example, it’ll be for your lasting harm and suffering. …
If such a senior mendicant speaks among the Saṅgha,
the mendicants say:
‘What’s an incompetent fool like you got to say?
How on earth could you imagine you’ve got something worth saying!’
They become angry and upset, and blurt out things that make the Saṅgha throw them out, as if they were throwing jute canvas away on the rubbish heap.
Cloth from Kāsi is beautiful, pleasant to touch, and valuable whether it’s new, worn in, or worn out.
They use worn out cloth from Kāsi for wrapping, or else they place it in a fragrant casket.
In the same way, if a junior mendicant is ethical, of good character, this is how they’re beautiful, I say.
That individual is just as beautiful as cloth from Kāsi.
If you associate with, accompany, and attend to such an individual, following their example, it will be for your lasting welfare and happiness.
This is how they’re pleasant to touch, I say.
That individual is just as pleasant to touch as cloth from Kāsi.
Any robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick that they receive are very fruitful and beneficial for the donor.
This is how they’re valuable, I say.
That individual is just as valuable as cloth from Kāsi.
If a middle mendicant is ethical, of good character, this is how they’re beautiful, I say. …
If a senior mendicant is ethical, of good character, this is how they’re beautiful, I say. …
If such a senior mendicant speaks in the midst of the Saṅgha,
the mendicants say:
‘Venerables, be quiet! The senior mendicant is speaking on the teaching and training.’
So you should train like this:
‘We will be like cloth from Kāsi, not like jute canvas.’
That’s how you should train.”
Vải Thô Bằng Vỏ Cây
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có tấm vải bằng vỏ cây hoàn toàn mới, sắc xấu, cảm xúc khó chịu, và không có giá trị. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải bằng vỏ cây bậc trung, sắc xấu, cảm xúc khó chịu, và không có giá trị. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải bằng vỏ cây cũ kỹ, để lau chùi nồi niêu, hay đáng được quăng trên đống rác.
TTC 2Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo mới tu hành, ác giới, theo ác pháp, Ta nói rằng vị Tỷ-kheo ấy có sắc xấu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây sắc xấu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai theo vị ấy, thân cận, hầu hạ, chấp nhận, thuận theo trí kiến của vị ấy, họ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc khó chịu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây có cảm xúc khó chịu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai, vị này nhận các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, sẽ không có quả lớn, không có lợi ích lớn; đây, Ta nói rằng, không có giá trị. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây không có giá trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, nếu là trung niên Tỷ-kheo … (như trên) … . này các Tỷ-kheo, nếu là trưởng lão Tỷ-kheo, ác giới, theo ác pháp. Ta nói rằng vị ấy có sắc xấu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải làm bằng vỏ cây có sắc xấu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn từ những ai theo vị ấy, thân cận, hầu hạ, chấp nhận, thuận theo tri kiến của vị ấy, họ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài; đấy, Ta nói rằng vị ấy có xúc chạm khó chịu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây có xúc chạm khó chịu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn từ những ai, vị này nhận các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, họ sẽ không có quả lớn, không có lợi ích lớn; ở đây, Ta nói rằng, vị ấy không có giá trị. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây không có giá trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
TTC 4Như vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trưởng lão này nói lên ở giữa chúng Tăng, các Tỷ-kheo nói như sau: “Sao Thầy nghĩ rằng Thầy có thể tuyên bố, một người ngu si, không thông minh? “Vị ấy phẫn nộ, bất mãn, sẽ nói lên những lời này, chúng Tăng đuổi vị ấy ra khỏi, như người ta quăng bỏ tấm vải bằng vỏ cây ấy trên đống rác.
Vải Ba-la-nại
TTC 5—Này các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi (Ba-la-nại), hoàn toàn mới, có sắc đẹp, cảm xúc dễ chịu, và có giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi bậc trung, có sắc đẹp, cảm xúc dễ chịu, và có giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi cũ, có sắc đẹp, cảm xúc dễ chịu, và có giá trị lớn. Và này các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi cũ kỹ dùng để gói các châu báu, hay được đặt vào trong một hộp có hương thơm.
TTC 6Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo mới tu hành, giữ gìn giới luật theo thiện pháp, Ta nói rằng vị Tỷ-kheo ấy có sắc đẹp. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có sắc đẹp ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai theo vị ấy, thân cận, hầu hạ, chấp nhận, thuận theo trí kiến của vị ấy, họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc dễ chịu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có cảm xúc dễ chịu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai, vị này nhận các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, họ sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn; đây, Ta nói rằng, vị ấy có giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có giá trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.
TTC 7Còn nếu là trung niên Tỷ-kheo, … này các Tỷ-kheo, nếu là trưởng lão Tỷ-kheo, giữ gìn giới luật theo thiện pháp, đây ta tuyên bố là vị ấy có sắc đẹp. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có sắc đẹp ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai theo vị ấy, thân cận, hầu hạ, chấp nhận, thuận theo tri kiến của vị ấy, họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc dễ chịu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có cảm xúc dễ chịu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai, vị này nhận các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, họ sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn; đây, Ta nói rằng, vị ấy có giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có giá trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người này là giống như ví dụ ấy.
TTC 8Như vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trưởng lão này nói lên ở giữa chúng Tăng. Các Tỷ kheo ấy nói như sau: “Chư Tôn giả hãy im lặng, Tỷ-kheo trưởng lão đang nói pháp và luật, và lời nói của vị ấy trở thành châu báu cần phải cất giữ, như một người cất giữ tấm vải kàsi trong một hộp có hương thơm.” Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng ta sẽ được như ví dụ tấm vải kàsi, không giống như ví dụ tấm vải bằng vỏ cây”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
“Navopi, bhikkhave, potthako dubbaṇṇo ca hoti dukkhasamphasso ca appaggho ca;
majjhimopi, bhikkhave, potthako dubbaṇṇo ca hoti dukkhasamphasso ca appaggho ca;
jiṇṇopi, bhikkhave, potthako dubbaṇṇo ca hoti dukkhasamphasso ca appaggho ca.
Jiṇṇampi, bhikkhave, potthakaṁ ukkhaliparimajjanaṁ vā karonti saṅkārakūṭe vā naṁ chaḍḍenti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, navo cepi bhikkhu hoti dussīlo pāpadhammo.
Idamassa dubbaṇṇatāya vadāmi.
Seyyathāpi so, bhikkhave, potthako dubbaṇṇo tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Ye kho panassa sevanti bhajanti payirupāsanti diṭṭhānugatiṁ āpajjanti, tesaṁ taṁ hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Idamassa dukkhasamphassatāya vadāmi.
Seyyathāpi so, bhikkhave, potthako dukkhasamphasso tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Yesaṁ kho pana so paṭiggaṇhāti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ, tesaṁ taṁ na mahapphalaṁ hoti na mahānisaṁsaṁ.
Idamassa appagghatāya vadāmi.
Seyyathāpi so, bhikkhave, potthako appaggho tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Majjhimo cepi, bhikkhave, bhikkhu hoti …pe…
thero cepi, bhikkhave, bhikkhu hoti dussīlo pāpadhammo, idamassa dubbaṇṇatāya vadāmi.
Seyyathāpi so, bhikkhave, potthako dubbaṇṇo tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Ye kho panassa sevanti bhajanti payirupāsanti diṭṭhānugatiṁ āpajjanti, tesaṁ taṁ hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Idamassa dukkhasamphassatāya vadāmi.
Seyyathāpi so, bhikkhave, potthako dukkhasamphasso tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Yesaṁ kho pana so paṭiggaṇhāti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ, tesaṁ taṁ na mahapphalaṁ hoti na mahānisaṁsaṁ.
Idamassa appagghatāya vadāmi.
Seyyathāpi so, bhikkhave, potthako appaggho tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpo cāyaṁ, bhikkhave, thero bhikkhu saṅghamajjhe bhaṇati.
Tamenaṁ bhikkhū evamāhaṁsu:
‘kiṁ nu kho tuyhaṁ bālassa abyattassa bhaṇitena,
tvampi nāma bhaṇitabbaṁ maññasī’ti.
So kupito anattamano tathārūpiṁ vācaṁ nicchāreti yathārūpāya vācāya saṅgho taṁ ukkhipati, saṅkārakūṭeva naṁ potthakaṁ.
Navampi, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ vaṇṇavantañceva hoti sukhasamphassañca mahagghañca; majjhimampi, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ vaṇṇavantañceva hoti sukhasamphassañca mahagghañca; jiṇṇampi, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ vaṇṇavantañceva hoti sukhasamphassañca mahagghañca.
Jiṇṇampi, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ ratanapaliveṭhanaṁ vā karoti gandhakaraṇḍake vā naṁ pakkhipanti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, navo cepi bhikkhu hoti sīlavā kalyāṇadhammo, idamassa suvaṇṇatāya vadāmi.
Seyyathāpi taṁ, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ vaṇṇavantaṁ tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Ye kho panassa sevanti bhajanti payirupāsanti diṭṭhānugatiṁ āpajjanti, tesaṁ taṁ hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
Idamassa sukhasamphassatāya vadāmi.
Seyyathāpi taṁ, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ sukhasamphassaṁ tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Yesaṁ kho pana so paṭiggaṇhāti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ, tesaṁ taṁ mahapphalaṁ hoti mahānisaṁsaṁ.
Idamassa mahagghatāya vadāmi.
Seyyathāpi taṁ, bhikkhave, kāsikaṁ vatthaṁ mahagghaṁ tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Majjhimo cepi, bhikkhave, bhikkhu hoti …pe…
thero cepi, bhikkhave, bhikkhu hoti …pe… puggalaṁ vadāmi.
Evarūpo cāyaṁ, bhikkhave, thero bhikkhu saṅghamajjhe bhaṇati.
Tamenaṁ bhikkhū evamāhaṁsu:
‘appasaddā āyasmanto hotha, thero bhikkhu dhammañca vinayañca bhaṇatī’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘kāsikavatthūpamā bhavissāma, na potthakūpamā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Aṭṭhamaṁ.