TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
—“Này các Tỷ-kheo!”.
—“Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, gia chủ Ugga, người Vesàli, thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có. Các Thầy hãy thọ trì như vậy.
Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.
TTC 3Rồi một Tỷ-kheo đắp y vào buổi sáng, cầm bát y, đi đến trú xá của gia chủ Ugga người Vesàli; sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Ugga người Vesàli, đi đến Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Tỷ-kheo ấy nói với gia chủ Ugga, người Vesàli, đang ngồi xuống một bên:
TTC 4—Này gia chủ, Thế Tôn có nói rằng: “Gia chủ Ugga người Vesàli này, thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có”. Này gia chủ, thế nào là tám pháp vi diệu chưa từng có ấy, mà Thế Tôn nói gia chủ là người được thành tựu?
—Thưa Tôn giả, tôi không biết Thế Tôn đã nói tôi thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có là gì. Nhưng thưa Tôn giả, tôi có tám pháp vi diệu chưa từng có này, hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.
—Vâng, này gia chủ, Tỷ-kheo ấy vâng đáp gia chủ Ugga người Vesàli.
Gia chủ Ugga người Vesàli nói như sau:
TTC 5—Thưa Tôn giả, khi tôi lần đầu tiên chỉ từ xa thấy Thế Tôn thôi, thưa Tôn giả, chỉ thấy Thế Tôn thôi, tâm tôi được tịnh tín. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu thứ nhất, được có ở nơi tôi. Rồi thưa Tôn giả, với tâm tịnh tín ấy, tôi hầu hạ Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp thuận thứ cho tôi, như thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi Trời, nói đến sự nguy hại, hạ liệt, nhiễm ô của các dục và sự lợi ích của viễn ly.
TTC 6Khi Thế Tôn biết tôi tâm đã sẵn sàng, tâm đã nhu thuận, tâm không triền cái, tâm được phấn khởi, tâm được hoan hỷ, Thế Tôn mới thuyết những pháp được chư Phật tán dương đề cao: “Khổ, Tập, Diệt, Ðạo”. Cũng như một tấm vải thuần bạch, các chấm đen được gột rửa, rất dễ thấm màu nhuộm. Cũng vậy, chính tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên nơi tôi: “Phàm pháp gì được tập khởi, tất cả Pháp ấy đều bị đoạn diệt”. Rồi thưa Tôn giả, khi tôi thấy pháp, đạt pháp, biết pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ được vượt qua, do dự trù diệt, đạt được vô sở úy, không ý cứ người khác đối với pháp bậc Ðạo sư. Tại đấy, tôi quy y Phật, quy y Pháp và chúng Tăng, tôi thọ lãnh năm học pháp về Phạm hạnh. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ hai, được có ở nơi tôi.
TTC 7Thưa Tôn giả, tôi có bốn vợ đều còn trẻ tuổi. Rồi tôi đi đến các người vợ ấy; sau khi đến, tôi nói với các người vợ ấy như sau: “Này các vị, tôi đã thọ lãnh năm học pháp về Phạm hạnh. Ai muốn, hãy hưởng thọ tài sản ở chỗ này, hay làm các công đức, hay đi đến gia đình bà con của mình, hay ai có ưng ý người đàn ông nào, tôi sẽ cho các vị”. Ðược nói như vậy, thưa Tôn giả, người vợ lớn của tôi nói với tôi: “Thưa gia chủ Ugga, hãy cho tôi người đàn ông tên này”. Rồi thưa Tôn giả, tôi cho mời người ấy lại, với tay trái tôi cầm người vợ, với tay phải tôi cầm bình nước, rồi tôi rửa sạch người ấy. Thưa Tôn giả, từ khi bỏ người vợ trẻ, tâm tôi không có một chút đổi khác. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ ba, được có ở nới tôi.
TTC 8Thưa Tôn giả, có những tài sản ở trong gia đình tôi, chúng được phân chia giữa những người có giới và những người tốt lành. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ tư, được có ở với tôi.
TTC 9Khi tôi hầu hạ một Tỷ-kheo, tôi hầu hạ rất cẩn thận, không phải không cẩn thận. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ năm, được có ở với tôi.
TTC 10Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả ấy thuyết pháp cho tôi, tôi nghe hết sức cẩn thận, không phải không cẩn thận. Nếu Tôn giả ấy không thuyết pháp cho tôi, thời tôi thuyết pháp cho vị ấy. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ sáu, được có ở nơi tôi.
TTC 11Thật không phải là vi diệu, thưa Tôn giả, chư Thiên sau khi đến, bảo tôi: “Này gia chủ, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng!”. Khi được nói vậy, thưa Tôn giả, tôi nói với chư Thiên ấy như sau: “Dầu cho chư Thiên các người có nói như vậy hay không nói như vậy, pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng”. Thưa Tôn giả, tuy vậy tâm tôi không có tự hào về nhân duyên ấy, nghĩa là: “Chư Thiên đến với ta, ta cùng nói chuyện với chư Thiên”. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ bảy, được có ở nơi tôi.
TTC 12Thưa Tôn giả, năm hạ phần kiết sử này được Thế Tôn thuyết giảng, tôi thấy rõ không có một pháp nào không được đoạn tận ở nơi tôi. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ tám, được có ở nơi tôi.
Thưa Tôn giả, tám pháp vi diệu chưa từng có này có mặt. Nhưng tôi không biết Thế Tôn đã nói tôi thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này.
TTC 13Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi nhận đồ ăn khất thực tại trú xứ của gia chủ Ugga, người Vesàli, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi ăn xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy đem tất cả câu chuyện nói với gia chủ Ugga người Vesàli thuật lại với Thế Tôn.
TTC 14—Lành thay, lành thay! này Tỷ-kheo, gia chủ Ugga người Vesàli nếu có trả lời một cách chơn chánh, có thể trả lời như vậy. Này Tỷ-kheo, Ta đã nói gia chủ Ugga người Vesàli thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này. Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng gia chủ Ugga, người Vesàli, được thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“aṭṭhahi, bhikkhave, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ uggaṁ gahapatiṁ vesālikaṁ dhārethā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Atha kho aññataro bhikkhu pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena uggassa gahapatino vesālikassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho uggo gahapati vesāliko yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho uggaṁ gahapatiṁ vesālikaṁ so bhikkhu etadavoca:
“Aṭṭhahi kho tvaṁ, gahapati, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato.
Katame te, gahapati, aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā, yehi tvaṁ samannāgato bhagavatā byākato”ti?
“Na kho ahaṁ, bhante, jānāmi:
‘katamehi aṭṭhahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato’ti.
Api ca, bhante, ye me aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā saṁvijjanti,;
taṁ suṇohi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, gahapatī”ti kho so bhikkhu uggassa gahapatino vesālikassa paccassosi.
Uggo gahapati vesāliko etadavoca:
“yadāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ paṭhamaṁ dūratova addasaṁ;
saha dassaneneva me, bhante, bhagavato cittaṁ pasīdi.
Ayaṁ kho me, bhante, paṭhamo acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
So kho ahaṁ, bhante, pasannacitto bhagavantaṁ payirupāsiṁ.
Tassa me bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—
dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ; kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi.
Yadā maṁ bhagavā aññāsi kallacittaṁ muducittaṁ vinīvaraṇacittaṁ udaggacittaṁ pasannacittaṁ, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā taṁ pakāsesi—
dukkhaṁ, samudayaṁ, nirodhaṁ, maggaṁ.
Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya;
evamevaṁ kho me tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi:
‘yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman’ti.
So kho ahaṁ, bhante, diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane
tattheva buddhañca dhammañca saṅghañca saraṇaṁ agamāsiṁ, brahmacariyapañcamāni ca sikkhāpadāni samādiyiṁ.
Ayaṁ kho me, bhante, dutiyo acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
Tassa mayhaṁ, bhante, catasso komāriyo pajāpatiyo ahesuṁ.
Atha khvāhaṁ, bhante, yena tā pajāpatiyo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā tā pajāpatiyo etadavacaṁ:
‘mayā kho, bhaginiyo, brahmacariyapañcamāni sikkhāpadāni samādinnāni.
Yā icchati sā idheva bhoge ca bhuñjatu puññāni ca karotu, sakāni vā ñātikulāni gacchatu.
Hoti vā pana purisādhippāyo, kassa vo dammī’ti?
Evaṁ vutte, sā, bhante, jeṭṭhā pajāpati maṁ etadavoca:
‘itthannāmassa maṁ, ayyaputta, purisassa dehī’ti.
Atha kho ahaṁ, bhante, taṁ purisaṁ pakkosāpetvā vāmena hatthena pajāpatiṁ gahetvā dakkhiṇena hatthena bhiṅgāraṁ gahetvā tassa purisassa oṇojesiṁ.
Komāriṁ kho panāhaṁ, bhante, dāraṁ pariccajanto nābhijānāmi cittassa aññathattaṁ.
Ayaṁ kho me, bhante, tatiyo acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
Saṁvijjanti kho pana me, bhante, kule bhogā.
Te ca kho appaṭivibhattā sīlavantehi kalyāṇadhammehi.
Ayaṁ kho me, bhante, catuttho acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
Yaṁ kho panāhaṁ, bhante, bhikkhuṁ payirupāsāmi;
sakkaccaṁyeva payirupāsāmi, no asakkaccaṁ.
Ayaṁ kho me, bhante, pañcamo acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
So ce, bhante, me āyasmā dhammaṁ deseti;
sakkaccaṁyeva suṇomi, no asakkaccaṁ.
No ce me so āyasmā dhammaṁ deseti, ahamassa dhammaṁ desemi.
Ayaṁ kho me, bhante, chaṭṭho acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
Anacchariyaṁ kho pana maṁ, bhante, devatā upasaṅkamitvā ārocenti:
‘svākkhāto, gahapati, bhagavatā dhammo’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, tā devatā evaṁ vadāmi:
‘vadeyyātha vā evaṁ kho tumhe devatā no vā vadeyyātha, atha kho svākkhāto bhagavatā dhammo’ti.
Na kho panāhaṁ, bhante, abhijānāmi tatonidānaṁ cittassa unnatiṁ:
‘maṁ vā devatā upasaṅkamanti, ahaṁ vā devatāhi saddhiṁ sallapāmī’ti.
Ayaṁ kho me, bhante, sattamo acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
Yānimāni, bhante, bhagavatā desitāni pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni, nāhaṁ tesaṁ kiñci attani appahīnaṁ samanupassāmi.
Ayaṁ kho me, bhante, aṭṭhamo acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
Ime kho me, bhante, aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā saṁvijjanti.
Na ca kho ahaṁ jānāmi—
katamehi cāhaṁ aṭṭhahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato”ti.
Atha kho so bhikkhu uggassa gahapatino vesālikassa nivesane piṇḍapātaṁ gahetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho so bhikkhu pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu yāvatako ahosi uggena gahapatinā vesālikena saddhiṁ kathāsallāpo, taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Yathā taṁ uggo gahapati vesāliko sammā byākaramāno byākareyya, imeheva kho, bhikkhu, aṭṭhahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato uggo gahapati vesāliko mayā byākato.
Imehi ca pana, bhikkhu, aṭṭhahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ uggaṁ gahapatiṁ vesālikaṁ dhārehī”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Vesālī in the hall with the peaked roof in the Great Wood. There the Blessed One addressed the bhikkhus: “Bhikkhus!”
SC 2“Venerable sir!” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 3“Bhikkhus, you should remember the householder Ugga of Vesālī as one who possesses eight astounding and amazing qualities.” an.iv.209 This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One rose from his seat and entered his dwelling.
SC 4Then, in the morning, a certain bhikkhu dressed, took his bowl and robe, and went to the residence of the householder Ugga of Vesālī. When he arrived, he sat down on the seat that was prepared for him. Then the householder Ugga of Vesālī approached that bhikkhu, paid homage to him, and sat down to one side. The bhikkhu then said to him:
SC 5“Householder, the Blessed One declared that you possess eight astounding and amazing qualities. What are they?”
SC 6“I don’t know, Bhante, what eight astounding and amazing qualities the Blessed One declared that I possess. However, there are found in me eight astounding and amazing qualities. Listen and attend closely. I will speak.”
SC 7“Yes, householder,” the bhikkhu replied. The householder Ugga of Vesālī said this:
SC 8(1) “When, Bhante, I first saw the Blessed One in the distance, as soon as I saw him my mind acquired confidence in him. This is the first astounding and amazing quality found in me.
SC 9(2) “With a confident mind, I attended on the Blessed One. The Blessed One then gave me a progressive discourse, that is, a talk on giving, virtuous behavior, and heaven; he revealed the danger, degradation, and defilement of sensual pleasures and the benefit of renunciation. When the Blessed One knew that my mind was pliant, softened, rid of hindrances, uplifted, and confident, he an.iv.210 revealed that Dhamma teaching special to the Buddhas: suffering, its origin, its cessation, and the path. Then, just as a clean cloth rid of dark spots would readily absorb dye, so too, while I sat in that same seat, the dust-free, stainless Dhamma-eye arose in me: ‘Whatever is subject to origination is all subject to cessation.’ I saw the Dhamma, attained the Dhamma, understood the Dhamma, fathomed the Dhamma, crossed over doubt, got rid of bewilderment, attained self-confidence, and became independent of others in the teaching of the Teacher. Right there I went for refuge to the Buddha, the Dhamma, and the Saṅgha, and undertook the training rules with celibacy as the fifth. This is the second astounding and amazing quality found in me.
SC 10(3) “I had four young wives. I then went to them and said: ‘Sisters, I have undertaken the training rules with celibacy as the fifth. If you want, you can enjoy wealth right here and do merits, or go back to your own family circle, or inform me if you want me to give you over to another man.’ My eldest wife then said to me: ‘Young sir, give me to such and such a man.’ I sent for that man, and with my left hand I took my wife, with my right hand I took the ceremonial vase, and I gave her to that man. But even while giving away my young wife, I don’t recall that any alteration took place in my mind. This is the third astounding and amazing quality found in me. an.iv.211
SC 11(4) “My family is wealthy but the wealth is shared unreservedly with virtuous people of good character. This is the fourth astounding and amazing quality found in me.
SC 12(5) “Whenever I attend on a bhikkhu, I attend on him respectfully, not without respect. This is the fifth astounding and amazing quality found in me.
SC 13(6) “If that venerable one teaches me the Dhamma, I listen to it respectfully, not without respect. If he doesn’t teach me the Dhamma, then I teach him the Dhamma. This is the sixth astounding and amazing quality found in me.
SC 14(7) “It isn’t unusual for deities to come and report to me: ‘Householder, the Dhamma is well expounded by the Blessed One.’ I then say to those deities: ‘Whether you say so or not, the Dhamma is well expounded by the Blessed One.’ Still, I do not recall any mental exultation arising because deities come to me or because I converse with deities. This is the seventh astounding and amazing quality found in me.
SC 15(8) “Of the five lower fetters taught by the Blessed One, I don’t see any that I haven’t abandoned. This is the eighth astounding and amazing quality found in me. an.iv.212
SC 16“These, Bhante, are eight astounding and amazing qualities found in me. But I don’t know what eight astounding and amazing qualities the Blessed One declared that I possess.”
SC 17Then that bhikkhu, having received almsfood at the residence of the householder Ugga of Vesālī, rose from his seat and departed. After his meal, on returning from his alms round, he approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and reported to him the entire conversation he had had with the householder Ugga of Vesālī.
SC 18The Blessed One said: “Good, good, bhikkhu! I had declared that the householder Ugga of Vesālī possesses the same eight astounding and amazing qualities that he rightly explained to you. You should remember the householder Ugga of Vesālī as one who possesses these eight astounding and amazing qualities.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
—“Này các Tỷ-kheo!”.
—“Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, gia chủ Ugga, người Vesàli, thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có. Các Thầy hãy thọ trì như vậy.
Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.
TTC 3Rồi một Tỷ-kheo đắp y vào buổi sáng, cầm bát y, đi đến trú xá của gia chủ Ugga người Vesàli; sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Ugga người Vesàli, đi đến Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Tỷ-kheo ấy nói với gia chủ Ugga, người Vesàli, đang ngồi xuống một bên:
TTC 4—Này gia chủ, Thế Tôn có nói rằng: “Gia chủ Ugga người Vesàli này, thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có”. Này gia chủ, thế nào là tám pháp vi diệu chưa từng có ấy, mà Thế Tôn nói gia chủ là người được thành tựu?
—Thưa Tôn giả, tôi không biết Thế Tôn đã nói tôi thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có là gì. Nhưng thưa Tôn giả, tôi có tám pháp vi diệu chưa từng có này, hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.
—Vâng, này gia chủ, Tỷ-kheo ấy vâng đáp gia chủ Ugga người Vesàli.
Gia chủ Ugga người Vesàli nói như sau:
TTC 5—Thưa Tôn giả, khi tôi lần đầu tiên chỉ từ xa thấy Thế Tôn thôi, thưa Tôn giả, chỉ thấy Thế Tôn thôi, tâm tôi được tịnh tín. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu thứ nhất, được có ở nơi tôi. Rồi thưa Tôn giả, với tâm tịnh tín ấy, tôi hầu hạ Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp thuận thứ cho tôi, như thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi Trời, nói đến sự nguy hại, hạ liệt, nhiễm ô của các dục và sự lợi ích của viễn ly.
TTC 6Khi Thế Tôn biết tôi tâm đã sẵn sàng, tâm đã nhu thuận, tâm không triền cái, tâm được phấn khởi, tâm được hoan hỷ, Thế Tôn mới thuyết những pháp được chư Phật tán dương đề cao: “Khổ, Tập, Diệt, Ðạo”. Cũng như một tấm vải thuần bạch, các chấm đen được gột rửa, rất dễ thấm màu nhuộm. Cũng vậy, chính tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên nơi tôi: “Phàm pháp gì được tập khởi, tất cả Pháp ấy đều bị đoạn diệt”. Rồi thưa Tôn giả, khi tôi thấy pháp, đạt pháp, biết pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ được vượt qua, do dự trù diệt, đạt được vô sở úy, không ý cứ người khác đối với pháp bậc Ðạo sư. Tại đấy, tôi quy y Phật, quy y Pháp và chúng Tăng, tôi thọ lãnh năm học pháp về Phạm hạnh. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ hai, được có ở nơi tôi.
TTC 7Thưa Tôn giả, tôi có bốn vợ đều còn trẻ tuổi. Rồi tôi đi đến các người vợ ấy; sau khi đến, tôi nói với các người vợ ấy như sau: “Này các vị, tôi đã thọ lãnh năm học pháp về Phạm hạnh. Ai muốn, hãy hưởng thọ tài sản ở chỗ này, hay làm các công đức, hay đi đến gia đình bà con của mình, hay ai có ưng ý người đàn ông nào, tôi sẽ cho các vị”. Ðược nói như vậy, thưa Tôn giả, người vợ lớn của tôi nói với tôi: “Thưa gia chủ Ugga, hãy cho tôi người đàn ông tên này”. Rồi thưa Tôn giả, tôi cho mời người ấy lại, với tay trái tôi cầm người vợ, với tay phải tôi cầm bình nước, rồi tôi rửa sạch người ấy. Thưa Tôn giả, từ khi bỏ người vợ trẻ, tâm tôi không có một chút đổi khác. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ ba, được có ở nới tôi.
TTC 8Thưa Tôn giả, có những tài sản ở trong gia đình tôi, chúng được phân chia giữa những người có giới và những người tốt lành. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ tư, được có ở với tôi.
TTC 9Khi tôi hầu hạ một Tỷ-kheo, tôi hầu hạ rất cẩn thận, không phải không cẩn thận. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ năm, được có ở với tôi.
TTC 10Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả ấy thuyết pháp cho tôi, tôi nghe hết sức cẩn thận, không phải không cẩn thận. Nếu Tôn giả ấy không thuyết pháp cho tôi, thời tôi thuyết pháp cho vị ấy. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ sáu, được có ở nơi tôi.
TTC 11Thật không phải là vi diệu, thưa Tôn giả, chư Thiên sau khi đến, bảo tôi: “Này gia chủ, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng!”. Khi được nói vậy, thưa Tôn giả, tôi nói với chư Thiên ấy như sau: “Dầu cho chư Thiên các người có nói như vậy hay không nói như vậy, pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng”. Thưa Tôn giả, tuy vậy tâm tôi không có tự hào về nhân duyên ấy, nghĩa là: “Chư Thiên đến với ta, ta cùng nói chuyện với chư Thiên”. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ bảy, được có ở nơi tôi.
TTC 12Thưa Tôn giả, năm hạ phần kiết sử này được Thế Tôn thuyết giảng, tôi thấy rõ không có một pháp nào không được đoạn tận ở nơi tôi. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ tám, được có ở nơi tôi.
Thưa Tôn giả, tám pháp vi diệu chưa từng có này có mặt. Nhưng tôi không biết Thế Tôn đã nói tôi thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này.
TTC 13Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi nhận đồ ăn khất thực tại trú xứ của gia chủ Ugga, người Vesàli, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi ăn xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy đem tất cả câu chuyện nói với gia chủ Ugga người Vesàli thuật lại với Thế Tôn.
TTC 14—Lành thay, lành thay! này Tỷ-kheo, gia chủ Ugga người Vesàli nếu có trả lời một cách chơn chánh, có thể trả lời như vậy. Này Tỷ-kheo, Ta đã nói gia chủ Ugga người Vesàli thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này. Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng gia chủ Ugga, người Vesàli, được thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“aṭṭhahi, bhikkhave, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ uggaṁ gahapatiṁ vesālikaṁ dhārethā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Atha kho aññataro bhikkhu pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena uggassa gahapatino vesālikassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho uggo gahapati vesāliko yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho uggaṁ gahapatiṁ vesālikaṁ so bhikkhu etadavoca:
“Aṭṭhahi kho tvaṁ, gahapati, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato.
Katame te, gahapati, aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā, yehi tvaṁ samannāgato bhagavatā byākato”ti?
“Na kho ahaṁ, bhante, jānāmi:
‘katamehi aṭṭhahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato’ti.
Api ca, bhante, ye me aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā saṁvijjanti,;
taṁ suṇohi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, gahapatī”ti kho so bhikkhu uggassa gahapatino vesālikassa paccassosi.
Uggo gahapati vesāliko etadavoca:
“yadāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ paṭhamaṁ dūratova addasaṁ;
saha dassaneneva me, bhante, bhagavato cittaṁ pasīdi.
Ayaṁ kho me, bhante, paṭhamo acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
So kho ahaṁ, bhante, pasannacitto bhagavantaṁ payirupāsiṁ.
Tassa me bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—
dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ; kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi.
Yadā maṁ bhagavā aññāsi kallacittaṁ muducittaṁ vinīvaraṇacittaṁ udaggacittaṁ pasannacittaṁ, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā taṁ pakāsesi—
dukkhaṁ, samudayaṁ, nirodhaṁ, maggaṁ.
Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya;
evamevaṁ kho me tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi:
‘yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman’ti.
So kho ahaṁ, bhante, diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane
tattheva buddhañca dhammañca saṅghañca saraṇaṁ agamāsiṁ, brahmacariyapañcamāni ca sikkhāpadāni samādiyiṁ.
Ayaṁ kho me, bhante, dutiyo acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
Tassa mayhaṁ, bhante, catasso komāriyo pajāpatiyo ahesuṁ.
Atha khvāhaṁ, bhante, yena tā pajāpatiyo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā tā pajāpatiyo etadavacaṁ:
‘mayā kho, bhaginiyo, brahmacariyapañcamāni sikkhāpadāni samādinnāni.
Yā icchati sā idheva bhoge ca bhuñjatu puññāni ca karotu, sakāni vā ñātikulāni gacchatu.
Hoti vā pana purisādhippāyo, kassa vo dammī’ti?
Evaṁ vutte, sā, bhante, jeṭṭhā pajāpati maṁ etadavoca:
‘itthannāmassa maṁ, ayyaputta, purisassa dehī’ti.
Atha kho ahaṁ, bhante, taṁ purisaṁ pakkosāpetvā vāmena hatthena pajāpatiṁ gahetvā dakkhiṇena hatthena bhiṅgāraṁ gahetvā tassa purisassa oṇojesiṁ.
Komāriṁ kho panāhaṁ, bhante, dāraṁ pariccajanto nābhijānāmi cittassa aññathattaṁ.
Ayaṁ kho me, bhante, tatiyo acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
Saṁvijjanti kho pana me, bhante, kule bhogā.
Te ca kho appaṭivibhattā sīlavantehi kalyāṇadhammehi.
Ayaṁ kho me, bhante, catuttho acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
Yaṁ kho panāhaṁ, bhante, bhikkhuṁ payirupāsāmi;
sakkaccaṁyeva payirupāsāmi, no asakkaccaṁ.
Ayaṁ kho me, bhante, pañcamo acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
So ce, bhante, me āyasmā dhammaṁ deseti;
sakkaccaṁyeva suṇomi, no asakkaccaṁ.
No ce me so āyasmā dhammaṁ deseti, ahamassa dhammaṁ desemi.
Ayaṁ kho me, bhante, chaṭṭho acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
Anacchariyaṁ kho pana maṁ, bhante, devatā upasaṅkamitvā ārocenti:
‘svākkhāto, gahapati, bhagavatā dhammo’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, tā devatā evaṁ vadāmi:
‘vadeyyātha vā evaṁ kho tumhe devatā no vā vadeyyātha, atha kho svākkhāto bhagavatā dhammo’ti.
Na kho panāhaṁ, bhante, abhijānāmi tatonidānaṁ cittassa unnatiṁ:
‘maṁ vā devatā upasaṅkamanti, ahaṁ vā devatāhi saddhiṁ sallapāmī’ti.
Ayaṁ kho me, bhante, sattamo acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
Yānimāni, bhante, bhagavatā desitāni pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni, nāhaṁ tesaṁ kiñci attani appahīnaṁ samanupassāmi.
Ayaṁ kho me, bhante, aṭṭhamo acchariyo abbhuto dhammo saṁvijjati.
Ime kho me, bhante, aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā saṁvijjanti.
Na ca kho ahaṁ jānāmi—
katamehi cāhaṁ aṭṭhahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato”ti.
Atha kho so bhikkhu uggassa gahapatino vesālikassa nivesane piṇḍapātaṁ gahetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho so bhikkhu pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu yāvatako ahosi uggena gahapatinā vesālikena saddhiṁ kathāsallāpo, taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Yathā taṁ uggo gahapati vesāliko sammā byākaramāno byākareyya, imeheva kho, bhikkhu, aṭṭhahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato uggo gahapati vesāliko mayā byākato.
Imehi ca pana, bhikkhu, aṭṭhahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ uggaṁ gahapatiṁ vesālikaṁ dhārehī”ti.
Paṭhamaṁ.