TTC 1Rồi Tôn giả Sàriputta, trong khi sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư suy nghĩ như sau khởi lên: “Vị Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa ai để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện?” Rồi Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Ðạo Sư để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện. Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Pháp… chúng Tăng… Học pháp… Ðịnh… không phóng dật… Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa tiếp đón thân tình để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện”. Rồi Tôn giả Sàriputta lại suy nghĩ như sau: “Những pháp này trong ta đã được thanh tịnh trong sáng. Vậy ta hãy đi đến Thế Tôn và báo cho Thế Tôn rõ những pháp này, như vậy các pháp này sẽ được thanh tịnh trong ta và được xem là trong sạch hơn nữa. Ví như một người tìm được một đồng tiền vàng lớn, thanh tịnh trong sáng. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến người thợ vàng và đưa xem đồng tiền vàng này. Ðồng tiền vàng này được ta đưa cho người thợ vàng như vậy sẽ được thanh tịnh và trong sáng hơn nữa”. Cũng vậy, các pháp này ở nơi ta được thanh tịnh, trong sáng. Ta hãy đi đến Thế Tôn và báo cho Thế Tôn rõ những pháp này. Như vậy các pháp này sẽ được thanh tịnh trong ta và được xem là trong sạch hơn nữa”. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
TTC 2—Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con sống một mình Thiền tịnh, tâm tư suy nghĩ như sau khởi lên nơi con: “Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa ai để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện?” Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Ðạo Sư để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện. Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Pháp… chúng Tăng… Học pháp… Ðịnh… không phóng dật… tiếp đón thân tình để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện”.. Rồi bạch Thế Tôn, con lại suy nghĩ như sau: “Những pháp này trong ta đã được thanh tịnh trong sáng. Vậy ta hãy đi đến Thế Tôn và báo cho Thế Tôn rõ những pháp này, như vậy các pháp này sẽ được thanh tịnh trong ta và được xem là trong sạch hơn nữa. Ví như một người tìm được một đồng tiền vàng lớn, thanh tịnh trong sáng. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến người thợ vàng và đưa xem đồng tiền vàng này. Ðồng tiền vàng này được ta đưa cho người thợ vàng như vậy sẽ được thanh tịnh và trong sáng hơn nữa”. Cũng vậy, các pháp này ở nơi ta được thanh tịnh, trong sáng. Ta hãy đi đến Thế Tôn và báo cho Thế Tôn rõ những pháp này. Như vậy các pháp này sẽ được thanh tịnh trong ta và được xem là trong sạch hơn nữa”.
—Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Này Sàriputta, Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Ðạo Sư, có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện. Này Sàriputta, Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa Pháp… chúng Tăng… Học pháp… Ðịnh… không phóng dật…Này Sariputta, Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa tiếp đón thân tình để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện.
Khi được nói vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
TTC 3—Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau: Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, sẽ cung kính Pháp, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, vị ấy cũng không cung kính Pháp. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp sẽ cung kính chúng Tăng, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, vị ấy cũng không cung kính chúng Tăng. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, sẽ cung kính Học pháp, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, vị ấy cũng không cung kính học pháp. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, sẽ cung kính Thiền định. Sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, vị ấy cũng không cung kính Thiền định. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, sẽ cung kính không phóng dật, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, vị ấy cũng không cung kính không phóng dật. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, không cung kính không phóng dật, sẽ cung kính tiếp đón thân tình, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, không cung kính không phóng dật, vị ấy cũng không cung kính tiếp đón thân tình.
Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, sẽ không cung kính Pháp, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, vị ấy cũng cung kính Pháp. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp sẽ không cung kính chúng Tăng, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, vị ấy cũng cung kính chúng Tăng. Bạch Thế Tôn, chắc chắn vị Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, sẽ không cung kính Học pháp, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, vị ấy cũng cung kính học pháp. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, sẽ không cung kính Thiền định, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, vị ấy cũng cung kính Thiền định. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, sẽ không cung kính không phóng dật, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, vị ấy cũng cung kính không phóng dật. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, cung kính không phóng dật, sẽ không cung kính tiếp đón thân tình, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, cung kính không phóng dật, vị ấy cũng cung kính tiếp đón thân tình. Bạch Thế Tôn, với lời vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
TTC 4—Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Lành thay, này Sàriputta, với lời nói vắn tắt này của Ta, Thầy đã hiểu một cách rộng rãi như vậy. Này Sàriputta, thật vậy, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, sẽ cung kính Pháp, sự kiện này không xảy ra. Này Sàriputta, Tỷ-kheo nào không cung kính bậc Ðạo Sư, vị ấy cũng không cung kính Pháp… Này Sàriputta, vị Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư… không cung kính Pháp… không cung kính chúng Tăng… không cung kính Học pháp… không cung kính Thiền định… . không cung kính không phóng dật, sẽ cung kính tiếp đón thân tình, sự kiện này không xảy ra. Này Sàriputta, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, không cung kính, không cung kính không phóng dật, vị ấy cũng không cung kính tiếp đón thân tình.
Này Sàriputta, chắc chắn Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo sư, sẽ không cung kính Pháp, sự kiện này không xảy ra. Này Sàriputta, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, vị ấy cũng cung kính Pháp… Này Sàriputta, vị Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư… cung kính Pháp… cung kính chúng Tăng… cung kính Học pháp… cung kính Thiền định… cung kính không phóng dật, sẽ không cung kính tiếp đón thân tình, sự kiện này không xảy ra. Này Sàriputta, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, cung kính không phóng dật, vị ấy cũng cung kính tiếp đón thân tình. Này Sàriputta, lời nói vắn tắt này của Ta, ý nghĩa cần phải được thấy một cách rộng rãi như vậy.
Atha kho āyasmato sāriputtassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“kiṁ nu kho, bhikkhu, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyyā”ti?
Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi:
“satthāraṁ kho, bhikkhu, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyya.
Dhammaṁ kho, bhikkhu …pe…
saṅghaṁ kho, bhikkhu …pe…
sikkhaṁ kho, bhikkhu …pe…
samādhiṁ kho, bhikkhu …pe…
appamādaṁ kho, bhikkhu …pe…
paṭisanthāraṁ kho, bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyyā”ti.
Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi:
“ime kho me dhammā parisuddhā pariyodātā, yannūnāhaṁ ime dhamme gantvā bhagavato āroceyyaṁ.
Evaṁ me ime dhammā parisuddhā ceva bhavissanti parisuddhasaṅkhātatarā ca.
Seyyathāpi nāma puriso suvaṇṇanikkhaṁ adhigaccheyya parisuddhaṁ pariyodātaṁ.
Tassa evamassa:
‘ayaṁ kho me suvaṇṇanikkho parisuddho pariyodāto, yannūnāhaṁ imaṁ suvaṇṇanikkhaṁ gantvā kammārānaṁ dasseyyaṁ.
Evaṁ me ayaṁ suvaṇṇanikkho sakammāragato parisuddho ceva bhavissati parisuddhasaṅkhātataro ca.
Evamevaṁ me ime dhammā parisuddhā pariyodātā, yannūnāhaṁ ime dhamme gantvā bhagavato āroceyyaṁ.
Evaṁ me ime dhammā parisuddhā ceva bhavissanti parisuddhasaṅkhātatarā cā’”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“Idha mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
‘kiṁ nu kho bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyyā’ti?
Atha kho tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi:
‘satthāraṁ kho bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyya.
Dhammaṁ kho bhikkhu …pe…
paṭisanthāraṁ kho bhikkhu sakkatvā …pe…
kusalaṁ bhāveyyā’ti.
Atha kho tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi:
‘ime kho me dhammā parisuddhā pariyodātā, yannūnāhaṁ ime dhamme gantvā bhagavato āroceyyaṁ.
Evaṁ me ime dhammā parisuddhā ceva bhavissanti parisuddhasaṅkhātatarā ca.
Seyyathāpi nāma puriso suvaṇṇanikkhaṁ adhigaccheyya parisuddhaṁ pariyodātaṁ.
Tassa evamassa—
ayaṁ kho me suvaṇṇanikkho parisuddho pariyodāto, yannūnāhaṁ imaṁ suvaṇṇanikkhaṁ gantvā kammārānaṁ dasseyyaṁ.
Evaṁ me ayaṁ suvaṇṇanikkho sakammāragato parisuddho ceva bhavissati parisuddhasaṅkhātataro ca.
Evamevaṁ me ime dhammā parisuddhā pariyodātā, yannūnāhaṁ ime dhamme gantvā bhagavato āroceyyaṁ.
Evaṁ me ime dhammā parisuddhā ceva bhavissanti parisuddhasaṅkhātatarā cā’”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Satthāraṁ kho, sāriputta, bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyya.
Dhammaṁ kho, sāriputta, bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyya.
Saṅghaṁ kho …pe…
sikkhaṁ kho …
samādhiṁ kho …
appamādaṁ kho …
paṭisanthāraṁ kho, sāriputta, bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyyā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi.
So vata, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhammepi so agāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghepi so agāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāyapi so agāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismimpi so agāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ agāravo appamāde sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ agāravo appamādepi so agāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ agāravo appamāde agāravo paṭisanthāre sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari agāravo …pe… appamāde agāravo paṭisanthārepi so agāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari sagāravo dhamme agāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Yo so, bhante, bhikkhu satthari sagāravo dhammepi so sagāravo …pe….
So vata, bhante, bhikkhu satthari sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthāre agāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthārepi so sagāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari sagāravo dhammepi sagāravo bhavissatīti ṭhānametaṁ vijjati. Yo so, bhante, bhikkhu satthari sagāravo dhammepi so sagāravo …pe….
So vata, bhante, bhikkhu satthari sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthārepi sagāravo bhavissatīti ṭhānametaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari sagāravo dhamme sagāravo saṅghe sagāravo sikkhāya sagāravo samādhismiṁ sagāravo appamāde sagāravo paṭisanthārepi so sagāravoti.
Imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Sādhu kho tvaṁ, sāriputta, imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāsi.
So vata, sāriputta, bhikkhu satthari agāravo dhamme sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati …pe…
yo so, sāriputta, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ agāravo appamādepi so agāravo.
So vata, sāriputta, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ agāravo appamāde agāravo paṭisanthāre sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, sāriputta, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ agāravo appamāde agāravo paṭisanthārepi so agāravo.
So vata, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo dhamme agāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati …pe… yo so, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo dhammepi so sagāravo …pe….
So vata, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo dhamme sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthāre agāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthārepi so sagāravo.
So vata, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo dhammepi sagāravo bhavissatīti ṭhānametaṁ vijjati. Yo so, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo dhammepi so sagāravo …pe….
So vata, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthārepi so sagāravo bhavissatīti ṭhānametaṁ vijjati.
Yo so, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthārepi so sagāravoti.
Imassa kho, sāriputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Then as Venerable Sāriputta was in private retreat this thought came to his mind,
“What should a mendicant honor and respect and rely on, to give up the unskillful and develop the skillful?”
Then he thought,
“A mendicant should honor and respect and rely on the Teacher …
the teaching …
the Saṅgha …
the training …
immersion …
diligence …
A mendicant should honor and respect and rely on hospitality, to give up the unskillful and develop the skillful.”
Then he thought,
“These qualities are pure and bright in me. Why don’t I go and tell them to the Buddha?
Then these qualities will not only be purified in me, but will be better known as purified.
Suppose a man were to acquire a gold ingot, pure and bright.
They’d think,
‘My gold ingot is pure and bright. Why don’t I take it to show the smiths?
Then it will not only be purified, but will be better known as purified.’
In the same way, these qualities are pure and bright in me. Why don’t I go and tell them to the Buddha?
Then these qualities will not only be purified in me, but will be better known as purified.”
Then in the late afternoon, Sāriputta came out of retreat and went to the Buddha. He bowed, sat down to one side, and told the Buddha of his thoughts while on retreat.
“Good, good, Sāriputta!
A mendicant should honor and respect and rely on the Teacher, to give up the unskillful and develop the skillful.
A mendicant should honor and respect and rely on the teaching …
the Saṅgha …
the training …
immersion …
diligence …
A mendicant should honor and respect and rely on hospitality, to give up the unskillful and develop the skillful.”
When he said this, Venerable Sāriputta said to the Buddha:
“Sir, this is how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement.
It is quite impossible for a mendicant who doesn’t respect the Teacher to respect the teaching.
A mendicant who disrespects the Teacher disrespects the teaching.
It is quite impossible for a mendicant who doesn’t respect the Teacher and the teaching to respect the Saṅgha.
A mendicant who disrespects the Teacher and the teaching disrespects the Saṅgha.
It is quite impossible for a mendicant who doesn’t respect the Teacher, the teaching, and the Saṅgha to respect the training.
A mendicant who disrespects the Teacher, the teaching, and the Saṅgha disrespects the training.
It is quite impossible for a mendicant who doesn’t respect the Teacher, the teaching, the Saṅgha, and the training to respect immersion.
A mendicant who disrespects the Teacher, the teaching, the Saṅgha, and the training disrespects immersion.
It is quite impossible for a mendicant who doesn’t respect the Teacher, the teaching, the Saṅgha, the training, and immersion to respect diligence.
A mendicant who disrespects the Teacher, the teaching, the Saṅgha, the training, and immersion disrespects diligence.
It is quite impossible for a mendicant who doesn’t respect the Teacher, the teaching, the Saṅgha, the training, immersion, and diligence to respect hospitality.
A mendicant who disrespects the Teacher, the teaching, the Saṅgha, the training, immersion, and diligence disrespects hospitality.
It is quite impossible for a mendicant who does respect the Teacher to disrespect the teaching. …
A mendicant who respects the Teacher, the teaching, the Saṅgha, the training, immersion, and diligence respects hospitality.
It’s quite possible for a mendicant who respects the Teacher to respect the teaching. …
A mendicant who respects the Teacher, the teaching, the Saṅgha, the training, immersion, and diligence respects hospitality.
That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement.”
“Good, good, Sāriputta!
It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.
It is quite impossible for a mendicant who doesn’t respect the Teacher to respect the teaching. …
A mendicant who disrespects the Teacher, the teaching, the Saṅgha, the training, immersion, and diligence disrespects hospitality.
It is quite impossible for a mendicant who does respect the Teacher to disrespect the teaching. …
A mendicant who respects the Teacher, the teaching, the Saṅgha, the training, immersion, and diligence respects hospitality.
It’s quite possible for a mendicant who does respect the Teacher to respect the teaching. …
A mendicant who respects the Teacher, the teaching, the Saṅgha, the training, immersion, and diligence respects hospitality.
This is how to understand the detailed meaning of what I said in brief.”
TTC 1Rồi Tôn giả Sàriputta, trong khi sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư suy nghĩ như sau khởi lên: “Vị Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa ai để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện?” Rồi Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Ðạo Sư để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện. Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Pháp… chúng Tăng… Học pháp… Ðịnh… không phóng dật… Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa tiếp đón thân tình để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện”. Rồi Tôn giả Sàriputta lại suy nghĩ như sau: “Những pháp này trong ta đã được thanh tịnh trong sáng. Vậy ta hãy đi đến Thế Tôn và báo cho Thế Tôn rõ những pháp này, như vậy các pháp này sẽ được thanh tịnh trong ta và được xem là trong sạch hơn nữa. Ví như một người tìm được một đồng tiền vàng lớn, thanh tịnh trong sáng. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến người thợ vàng và đưa xem đồng tiền vàng này. Ðồng tiền vàng này được ta đưa cho người thợ vàng như vậy sẽ được thanh tịnh và trong sáng hơn nữa”. Cũng vậy, các pháp này ở nơi ta được thanh tịnh, trong sáng. Ta hãy đi đến Thế Tôn và báo cho Thế Tôn rõ những pháp này. Như vậy các pháp này sẽ được thanh tịnh trong ta và được xem là trong sạch hơn nữa”. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
TTC 2—Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con sống một mình Thiền tịnh, tâm tư suy nghĩ như sau khởi lên nơi con: “Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa ai để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện?” Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Ðạo Sư để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện. Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Pháp… chúng Tăng… Học pháp… Ðịnh… không phóng dật… tiếp đón thân tình để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện”.. Rồi bạch Thế Tôn, con lại suy nghĩ như sau: “Những pháp này trong ta đã được thanh tịnh trong sáng. Vậy ta hãy đi đến Thế Tôn và báo cho Thế Tôn rõ những pháp này, như vậy các pháp này sẽ được thanh tịnh trong ta và được xem là trong sạch hơn nữa. Ví như một người tìm được một đồng tiền vàng lớn, thanh tịnh trong sáng. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến người thợ vàng và đưa xem đồng tiền vàng này. Ðồng tiền vàng này được ta đưa cho người thợ vàng như vậy sẽ được thanh tịnh và trong sáng hơn nữa”. Cũng vậy, các pháp này ở nơi ta được thanh tịnh, trong sáng. Ta hãy đi đến Thế Tôn và báo cho Thế Tôn rõ những pháp này. Như vậy các pháp này sẽ được thanh tịnh trong ta và được xem là trong sạch hơn nữa”.
—Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Này Sàriputta, Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Ðạo Sư, có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện. Này Sàriputta, Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa Pháp… chúng Tăng… Học pháp… Ðịnh… không phóng dật…Này Sariputta, Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa tiếp đón thân tình để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện.
Khi được nói vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
TTC 3—Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau: Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, sẽ cung kính Pháp, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, vị ấy cũng không cung kính Pháp. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp sẽ cung kính chúng Tăng, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, vị ấy cũng không cung kính chúng Tăng. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, sẽ cung kính Học pháp, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, vị ấy cũng không cung kính học pháp. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, sẽ cung kính Thiền định. Sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, vị ấy cũng không cung kính Thiền định. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, sẽ cung kính không phóng dật, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, vị ấy cũng không cung kính không phóng dật. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, không cung kính không phóng dật, sẽ cung kính tiếp đón thân tình, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, không cung kính không phóng dật, vị ấy cũng không cung kính tiếp đón thân tình.
Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, sẽ không cung kính Pháp, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, vị ấy cũng cung kính Pháp. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp sẽ không cung kính chúng Tăng, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, vị ấy cũng cung kính chúng Tăng. Bạch Thế Tôn, chắc chắn vị Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, sẽ không cung kính Học pháp, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, vị ấy cũng cung kính học pháp. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, sẽ không cung kính Thiền định, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, vị ấy cũng cung kính Thiền định. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, sẽ không cung kính không phóng dật, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, vị ấy cũng cung kính không phóng dật. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, cung kính không phóng dật, sẽ không cung kính tiếp đón thân tình, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, cung kính không phóng dật, vị ấy cũng cung kính tiếp đón thân tình. Bạch Thế Tôn, với lời vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
TTC 4—Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Lành thay, này Sàriputta, với lời nói vắn tắt này của Ta, Thầy đã hiểu một cách rộng rãi như vậy. Này Sàriputta, thật vậy, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, sẽ cung kính Pháp, sự kiện này không xảy ra. Này Sàriputta, Tỷ-kheo nào không cung kính bậc Ðạo Sư, vị ấy cũng không cung kính Pháp… Này Sàriputta, vị Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư… không cung kính Pháp… không cung kính chúng Tăng… không cung kính Học pháp… không cung kính Thiền định… . không cung kính không phóng dật, sẽ cung kính tiếp đón thân tình, sự kiện này không xảy ra. Này Sàriputta, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, không cung kính, không cung kính không phóng dật, vị ấy cũng không cung kính tiếp đón thân tình.
Này Sàriputta, chắc chắn Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo sư, sẽ không cung kính Pháp, sự kiện này không xảy ra. Này Sàriputta, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, vị ấy cũng cung kính Pháp… Này Sàriputta, vị Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư… cung kính Pháp… cung kính chúng Tăng… cung kính Học pháp… cung kính Thiền định… cung kính không phóng dật, sẽ không cung kính tiếp đón thân tình, sự kiện này không xảy ra. Này Sàriputta, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, cung kính không phóng dật, vị ấy cũng cung kính tiếp đón thân tình. Này Sàriputta, lời nói vắn tắt này của Ta, ý nghĩa cần phải được thấy một cách rộng rãi như vậy.
Atha kho āyasmato sāriputtassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“kiṁ nu kho, bhikkhu, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyyā”ti?
Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi:
“satthāraṁ kho, bhikkhu, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyya.
Dhammaṁ kho, bhikkhu …pe…
saṅghaṁ kho, bhikkhu …pe…
sikkhaṁ kho, bhikkhu …pe…
samādhiṁ kho, bhikkhu …pe…
appamādaṁ kho, bhikkhu …pe…
paṭisanthāraṁ kho, bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyyā”ti.
Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi:
“ime kho me dhammā parisuddhā pariyodātā, yannūnāhaṁ ime dhamme gantvā bhagavato āroceyyaṁ.
Evaṁ me ime dhammā parisuddhā ceva bhavissanti parisuddhasaṅkhātatarā ca.
Seyyathāpi nāma puriso suvaṇṇanikkhaṁ adhigaccheyya parisuddhaṁ pariyodātaṁ.
Tassa evamassa:
‘ayaṁ kho me suvaṇṇanikkho parisuddho pariyodāto, yannūnāhaṁ imaṁ suvaṇṇanikkhaṁ gantvā kammārānaṁ dasseyyaṁ.
Evaṁ me ayaṁ suvaṇṇanikkho sakammāragato parisuddho ceva bhavissati parisuddhasaṅkhātataro ca.
Evamevaṁ me ime dhammā parisuddhā pariyodātā, yannūnāhaṁ ime dhamme gantvā bhagavato āroceyyaṁ.
Evaṁ me ime dhammā parisuddhā ceva bhavissanti parisuddhasaṅkhātatarā cā’”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“Idha mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
‘kiṁ nu kho bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyyā’ti?
Atha kho tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi:
‘satthāraṁ kho bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyya.
Dhammaṁ kho bhikkhu …pe…
paṭisanthāraṁ kho bhikkhu sakkatvā …pe…
kusalaṁ bhāveyyā’ti.
Atha kho tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi:
‘ime kho me dhammā parisuddhā pariyodātā, yannūnāhaṁ ime dhamme gantvā bhagavato āroceyyaṁ.
Evaṁ me ime dhammā parisuddhā ceva bhavissanti parisuddhasaṅkhātatarā ca.
Seyyathāpi nāma puriso suvaṇṇanikkhaṁ adhigaccheyya parisuddhaṁ pariyodātaṁ.
Tassa evamassa—
ayaṁ kho me suvaṇṇanikkho parisuddho pariyodāto, yannūnāhaṁ imaṁ suvaṇṇanikkhaṁ gantvā kammārānaṁ dasseyyaṁ.
Evaṁ me ayaṁ suvaṇṇanikkho sakammāragato parisuddho ceva bhavissati parisuddhasaṅkhātataro ca.
Evamevaṁ me ime dhammā parisuddhā pariyodātā, yannūnāhaṁ ime dhamme gantvā bhagavato āroceyyaṁ.
Evaṁ me ime dhammā parisuddhā ceva bhavissanti parisuddhasaṅkhātatarā cā’”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Satthāraṁ kho, sāriputta, bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyya.
Dhammaṁ kho, sāriputta, bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyya.
Saṅghaṁ kho …pe…
sikkhaṁ kho …
samādhiṁ kho …
appamādaṁ kho …
paṭisanthāraṁ kho, sāriputta, bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyyā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi.
So vata, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhammepi so agāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghepi so agāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāyapi so agāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismimpi so agāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ agāravo appamāde sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ agāravo appamādepi so agāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ agāravo appamāde agāravo paṭisanthāre sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari agāravo …pe… appamāde agāravo paṭisanthārepi so agāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari sagāravo dhamme agāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Yo so, bhante, bhikkhu satthari sagāravo dhammepi so sagāravo …pe….
So vata, bhante, bhikkhu satthari sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthāre agāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthārepi so sagāravo.
So vata, bhante, bhikkhu satthari sagāravo dhammepi sagāravo bhavissatīti ṭhānametaṁ vijjati. Yo so, bhante, bhikkhu satthari sagāravo dhammepi so sagāravo …pe….
So vata, bhante, bhikkhu satthari sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthārepi sagāravo bhavissatīti ṭhānametaṁ vijjati.
Yo so, bhante, bhikkhu satthari sagāravo dhamme sagāravo saṅghe sagāravo sikkhāya sagāravo samādhismiṁ sagāravo appamāde sagāravo paṭisanthārepi so sagāravoti.
Imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Sādhu kho tvaṁ, sāriputta, imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāsi.
So vata, sāriputta, bhikkhu satthari agāravo dhamme sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati …pe…
yo so, sāriputta, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ agāravo appamādepi so agāravo.
So vata, sāriputta, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ agāravo appamāde agāravo paṭisanthāre sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, sāriputta, bhikkhu satthari agāravo dhamme agāravo saṅghe agāravo sikkhāya agāravo samādhismiṁ agāravo appamāde agāravo paṭisanthārepi so agāravo.
So vata, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo dhamme agāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati …pe… yo so, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo dhammepi so sagāravo …pe….
So vata, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo dhamme sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthāre agāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Yo so, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthārepi so sagāravo.
So vata, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo dhammepi sagāravo bhavissatīti ṭhānametaṁ vijjati. Yo so, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo dhammepi so sagāravo …pe….
So vata, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthārepi so sagāravo bhavissatīti ṭhānametaṁ vijjati.
Yo so, sāriputta, bhikkhu satthari sagāravo …pe… appamāde sagāravo paṭisanthārepi so sagāravoti.
Imassa kho, sāriputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Chaṭṭhaṁ.