TTC 1—Tỷ-kheo có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: “Mong rằng ta sẽ như Sàriputta và Moggallàna”. Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tức là Sàriputta và Moggallàna.
TTC 2Tỷ-kheo-ni có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: “Mong rằng ta sẽ như Tỷ-kheo-ni Khemà và Uppalavannà”. Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, tức là Tỷ-kheo-ni Khemà và Uppalavannà.
TTC 3Cư sĩ có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: “Mong rằng ta sẽ như gia chủ Citta và Hatthaka ở Alavì”. Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử cư sĩ của Ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka ở Alavì.
TTC 4Nữ cư sĩ có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: “Mong rằng ta sẽ như nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantakiyà, mẹ của Nanda”. Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử nữ cư sĩ của Ta, tức là nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantakiyà, mẹ của Nanda.
TTC 5Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước. Thế nào là hai? Không suy tư, không thẩm sát, tán thán người không đáng được tán thán, và chỉ trích người xứng đáng được tán thán. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật bị mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước.
Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức. Thế nào là hai? Sau khi suy tư và thẩm sát, tán thán người đáng được tán thán, và chỉ trích người đáng bị chỉ trích. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức.
TTC 6Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước. Thế nào là hai? Không có suy tư, không có thẩm sát, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ không đáng tin tưởng, và tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước.
Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, là bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức. Thế nào là hai? Sau khi suy tư và thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với các chỗ không đáng tin tưởng, và tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức.
TTC 7Do tà hạnh đối với hai (hạng người) kẻ ngu, vụng về … nhiều vô phước. Ðối với hai hạng người nào? Với mẹ và với cha. Do tà hạnh đối với hai (hạng người) này kẻ ngu, vụng về … nhiều vô phước.
Do chánh hạnh đối với hai (hạng người), bậc hiền trí … tạo nên nhiều phước đức. Ðối với hai hạng người nào? Với mẹ và với cha. Do chánh hạnh đối với hai (hạng người) này, bậc hiền trí … tạo nên nhiều phước đức.
TTC 8Do tà hạnh đối với hai (hạng người) kẻ ngu, vụng về … nhiều vô phước. Ðối với hai hạng người nào? Với Như Lai và với đệ tử của Như Lai. Do tà hạnh đối với hai hạng người này, kẻ ngu, vụng về … nhiều vô phước.
Do chánh hạnh đối với hai (hạng người), bậc hiền trí … tạo nên nhiều phước đức. Ðối với hai hạng người nào? Với Như Lai và với đệ tử của Như Lai. Do chánh hạnh đối với hai (hạng người) này, bậc hiền trí … tạo nên nhiều phước đức.
TTC 9Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Thanh tịnh tự tâm và không chấp thủ một cái gì ở đời. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
TTC 10Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
TTC 11Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Nhiếp phục phẫn nộ và nhiếp phục hiềm hận. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
130
“Saddho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ sammā āyācamāno āyāceyya:
‘tādiso homi yādisā sāriputtamoggallānā’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvakānaṁ bhikkhūnaṁ yadidaṁ sāriputtamoggallānā”ti.
131
“Saddhā, bhikkhave, bhikkhunī evaṁ sammā āyācamānā āyāceyya:
‘tādisī homi yādisī khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā cā’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ bhikkhunīnaṁ yadidaṁ khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā cā”ti.
132
“Saddho, bhikkhave, upāsako evaṁ sammā āyācamāno āyāceyya:
‘tādiso homi yādiso citto ca gahapati hatthako ca āḷavako’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvakānaṁ upāsakānaṁ yadidaṁ citto ca gahapati hatthako ca āḷavako”ti.
133
“Saddhā, bhikkhave, upāsikā evaṁ sammā āyācamānā āyāceyya:
‘tādisī homi yādisī khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ upāsikānaṁ yadidaṁ khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā”ti.
134
“Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Katamehi dvīhi?
Ananuvicca apariyogāhetvā avaṇṇārahassa vaṇṇaṁ bhāsati,
ananuvicca apariyogāhetvā vaṇṇārahassa avaṇṇaṁ bhāsati.
Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatīti.
Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavati.
Katamehi dvīhi?
Anuvicca pariyogāhetvā avaṇṇārahassa avaṇṇaṁ bhāsati,
anuvicca pariyogāhetvā vaṇṇārahassa vaṇṇaṁ bhāsati.
Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavatī”ti.
135
“Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Katamehi dvīhi?
Ananuvicca apariyogāhetvā appasādanīye ṭhāne pasādaṁ upadaṁseti,
ananuvicca apariyogāhetvā pasādanīye ṭhāne appasādaṁ upadaṁseti.
Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatīti.
Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavati.
Katamehi dvīhi?
Anuvicca pariyogāhetvā appasādanīye ṭhāne appasādaṁ upadaṁseti,
anuvicca pariyogāhetvā pasādanīye ṭhāne pasādaṁ upadaṁseti.
Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavatī”ti.
136
“Dvīsu, bhikkhave, micchāpaṭipajjamāno bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Katamesu dvīsu?
Mātari ca pitari ca.
Imesu kho, bhikkhave, dvīsu micchāpaṭipajjamāno bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatīti.
Dvīsu, bhikkhave, sammāpaṭipajjamāno paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavati.
Katamesu dvīsu?
Mātari ca pitari ca.
Imesu kho, bhikkhave, dvīsu sammāpaṭipajjamāno paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavatī”ti.
137
“Dvīsu, bhikkhave, micchāpaṭipajjamāno bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Katamesu dvīsu?
Tathāgate ca tathāgatasāvake ca.
Imesu kho, bhikkhave, micchāpaṭipajjamāno bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatīti.
Dvīsu, bhikkhave, sammāpaṭipajjamāno paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavati.
Katamesu dvīsu?
Tathāgate ca tathāgatasāvake ca.
Imesu kho, bhikkhave, dvīsu sammāpaṭipajjamāno paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavatī”ti.
138
“Dveme, bhikkhave, dhammā.
Katame dve?
Sacittavodānañca na ca kiñci loke upādiyati.
Ime kho, bhikkhave, dve dhammā”ti.
139
“Dveme, bhikkhave, dhammā.
Katame dve?
Kodho ca upanāho ca.
Ime kho, bhikkhave, dve dhammā”ti.
140
“Dveme, bhikkhave, dhammā.
Katame dve?
Kodhavinayo ca upanāhavinayo ca.
Ime kho, bhikkhave, dve dhammā”ti.
Āyācanavaggo dutiyo.
130
“A faithful monk would rightly aspire:
‘May I be like Sāriputta and Moggallāna!’
These are a standard and a measure for my monk disciples, that is, Sāriputta and Moggallāna.”
131
“A faithful nun would rightly aspire:
‘May I be like the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā!’
These are a standard and a measure for my nun disciples, that is, the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā.”
132
“A faithful layman would rightly aspire:
‘May I be like the householder Citta and Hatthaka of Āḷavī!’
These are a standard and a measure for my male lay followers, that is, the householder Citta and Hatthaka of Āḷavī.”
133
“A faithful laywoman would rightly aspire:
‘May I be like the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother!’
These are a standard and a measure for my female lay disciples, that is, the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother.”
134
“When a foolish, incompetent untrue person has two qualities they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness.
What two?
Without examining or scrutinizing, they praise those deserving of criticism
and they criticize those deserving of praise.
When a foolish, incompetent untrue person possesses these two qualities they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much wickedness.
When an astute, competent true person has two qualities they keep themselves intact and unscathed. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit.
What two?
After examining and scrutinizing, they criticize those deserving of criticism
and they praise those deserving of praise.
When an astute, competent true person possesses these two qualities they keep themselves healthy and whole. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much merit.”
135
“When a foolish, incompetent untrue person has two qualities they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness.
What two?
Without examining or scrutinizing, they arouse faith in things that are dubious,
and they don’t arouse faith in things that are inspiring.
When a foolish, incompetent untrue person possesses these two qualities they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much wickedness.
When an astute, competent true person has two qualities they keep themselves intact and unscathed. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit.
What two?
After examining or scrutinizing, they don’t arouse faith in things that are dubious,
and they do arouse faith in things that are inspiring.
When an astute, competent true person possesses these two qualities they keep themselves healthy and whole. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much merit.”
136
“When a foolish, incompetent untrue person acts wrongly toward two individuals they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness.
What two?
Mother and father.
When a foolish, incompetent untrue person acts wrongly toward these two individuals they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness.
When an astute, competent true person acts rightly toward two individuals they keep themselves intact and unscathed. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit.
What two?
Mother and father.
When an astute, competent true person acts rightly toward these two individuals they keep themselves intact and unscathed. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit.”
137
“When a foolish, incompetent untrue person acts wrongly toward two individuals they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness.
What two?
The Realized One and a disciple of the Realized One.
When a foolish, incompetent untrue person acts wrongly toward these people they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness.
When an astute, competent true person acts rightly toward two individuals they keep themselves intact and unscathed. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit.
What two?
The Realized One and a disciple of the Realized One.
When an astute, competent true person acts rightly toward these two individuals they keep themselves intact and unscathed. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit.”
138
“There are these two things.
What two?
Cleaning your own mind, and not grasping at anything in the world.
These are the two things.”
139
“There are these two things.
What two?
Anger and acrimony.
These are the two things.”
140
“There are these two things.
What two?
Dispelling anger and dispelling acrimony.
These are the two things.”
TTC 1—Tỷ-kheo có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: “Mong rằng ta sẽ như Sàriputta và Moggallàna”. Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tức là Sàriputta và Moggallàna.
TTC 2Tỷ-kheo-ni có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: “Mong rằng ta sẽ như Tỷ-kheo-ni Khemà và Uppalavannà”. Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, tức là Tỷ-kheo-ni Khemà và Uppalavannà.
TTC 3Cư sĩ có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: “Mong rằng ta sẽ như gia chủ Citta và Hatthaka ở Alavì”. Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử cư sĩ của Ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka ở Alavì.
TTC 4Nữ cư sĩ có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: “Mong rằng ta sẽ như nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantakiyà, mẹ của Nanda”. Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử nữ cư sĩ của Ta, tức là nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantakiyà, mẹ của Nanda.
TTC 5Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước. Thế nào là hai? Không suy tư, không thẩm sát, tán thán người không đáng được tán thán, và chỉ trích người xứng đáng được tán thán. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật bị mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước.
Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức. Thế nào là hai? Sau khi suy tư và thẩm sát, tán thán người đáng được tán thán, và chỉ trích người đáng bị chỉ trích. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức.
TTC 6Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước. Thế nào là hai? Không có suy tư, không có thẩm sát, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ không đáng tin tưởng, và tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước.
Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, là bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức. Thế nào là hai? Sau khi suy tư và thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với các chỗ không đáng tin tưởng, và tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức.
TTC 7Do tà hạnh đối với hai (hạng người) kẻ ngu, vụng về … nhiều vô phước. Ðối với hai hạng người nào? Với mẹ và với cha. Do tà hạnh đối với hai (hạng người) này kẻ ngu, vụng về … nhiều vô phước.
Do chánh hạnh đối với hai (hạng người), bậc hiền trí … tạo nên nhiều phước đức. Ðối với hai hạng người nào? Với mẹ và với cha. Do chánh hạnh đối với hai (hạng người) này, bậc hiền trí … tạo nên nhiều phước đức.
TTC 8Do tà hạnh đối với hai (hạng người) kẻ ngu, vụng về … nhiều vô phước. Ðối với hai hạng người nào? Với Như Lai và với đệ tử của Như Lai. Do tà hạnh đối với hai hạng người này, kẻ ngu, vụng về … nhiều vô phước.
Do chánh hạnh đối với hai (hạng người), bậc hiền trí … tạo nên nhiều phước đức. Ðối với hai hạng người nào? Với Như Lai và với đệ tử của Như Lai. Do chánh hạnh đối với hai (hạng người) này, bậc hiền trí … tạo nên nhiều phước đức.
TTC 9Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Thanh tịnh tự tâm và không chấp thủ một cái gì ở đời. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
TTC 10Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
TTC 11Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Nhiếp phục phẫn nộ và nhiếp phục hiềm hận. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
130
“Saddho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ sammā āyācamāno āyāceyya:
‘tādiso homi yādisā sāriputtamoggallānā’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvakānaṁ bhikkhūnaṁ yadidaṁ sāriputtamoggallānā”ti.
131
“Saddhā, bhikkhave, bhikkhunī evaṁ sammā āyācamānā āyāceyya:
‘tādisī homi yādisī khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā cā’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ bhikkhunīnaṁ yadidaṁ khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā cā”ti.
132
“Saddho, bhikkhave, upāsako evaṁ sammā āyācamāno āyāceyya:
‘tādiso homi yādiso citto ca gahapati hatthako ca āḷavako’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvakānaṁ upāsakānaṁ yadidaṁ citto ca gahapati hatthako ca āḷavako”ti.
133
“Saddhā, bhikkhave, upāsikā evaṁ sammā āyācamānā āyāceyya:
‘tādisī homi yādisī khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ upāsikānaṁ yadidaṁ khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā”ti.
134
“Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Katamehi dvīhi?
Ananuvicca apariyogāhetvā avaṇṇārahassa vaṇṇaṁ bhāsati,
ananuvicca apariyogāhetvā vaṇṇārahassa avaṇṇaṁ bhāsati.
Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatīti.
Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavati.
Katamehi dvīhi?
Anuvicca pariyogāhetvā avaṇṇārahassa avaṇṇaṁ bhāsati,
anuvicca pariyogāhetvā vaṇṇārahassa vaṇṇaṁ bhāsati.
Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavatī”ti.
135
“Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Katamehi dvīhi?
Ananuvicca apariyogāhetvā appasādanīye ṭhāne pasādaṁ upadaṁseti,
ananuvicca apariyogāhetvā pasādanīye ṭhāne appasādaṁ upadaṁseti.
Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatīti.
Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavati.
Katamehi dvīhi?
Anuvicca pariyogāhetvā appasādanīye ṭhāne appasādaṁ upadaṁseti,
anuvicca pariyogāhetvā pasādanīye ṭhāne pasādaṁ upadaṁseti.
Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavatī”ti.
136
“Dvīsu, bhikkhave, micchāpaṭipajjamāno bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Katamesu dvīsu?
Mātari ca pitari ca.
Imesu kho, bhikkhave, dvīsu micchāpaṭipajjamāno bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatīti.
Dvīsu, bhikkhave, sammāpaṭipajjamāno paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavati.
Katamesu dvīsu?
Mātari ca pitari ca.
Imesu kho, bhikkhave, dvīsu sammāpaṭipajjamāno paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavatī”ti.
137
“Dvīsu, bhikkhave, micchāpaṭipajjamāno bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Katamesu dvīsu?
Tathāgate ca tathāgatasāvake ca.
Imesu kho, bhikkhave, micchāpaṭipajjamāno bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatīti.
Dvīsu, bhikkhave, sammāpaṭipajjamāno paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavati.
Katamesu dvīsu?
Tathāgate ca tathāgatasāvake ca.
Imesu kho, bhikkhave, dvīsu sammāpaṭipajjamāno paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavatī”ti.
138
“Dveme, bhikkhave, dhammā.
Katame dve?
Sacittavodānañca na ca kiñci loke upādiyati.
Ime kho, bhikkhave, dve dhammā”ti.
139
“Dveme, bhikkhave, dhammā.
Katame dve?
Kodho ca upanāho ca.
Ime kho, bhikkhave, dve dhammā”ti.
140
“Dveme, bhikkhave, dhammā.
Katame dve?
Kodhavinayo ca upanāhavinayo ca.
Ime kho, bhikkhave, dve dhammā”ti.
Āyācanavaggo dutiyo.