TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến trú xứ của Anàthapindika; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Lúc bấy giờ, trong trú xứ của gia chủ Anàthapindika có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng. Rồi Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
—Này Gia chủ, vì sao trong nhà của Ông lại có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng như những người đánh cá đang giành giựt cá?
—Bạch Thế Tôn, có nàng dâu Sujàtà giàu có đến đây từ một gia đình giàu có. Nàng không vâng lời mẹ chồng, không vâng lời cha chồng, không vâng lời chồng, cũng không cung kính, không tôn trọng, không lễ bái, không cúng dường Thế Tôn.
TTC 2Rồi Thế Tôn cho gọi nàng dâu Sujàtà:
—Hãy đến đây Sujàtà!
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Nàng dâu Sujàtà vâng đáp Thế Tôn, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với nàng dâu Sujàtà đang ngồi một bên:
—Này Sujàtà có bảy loại vợ này cho người đàn ông. Thế nào là bảy? Vợ như người sát nhân, vợ như người ăn trộm, vợ như người chủ nhân, vợ như người mẹ, vợ như người chị, vợ như người bạn, vợ như người nữ tỳ. Này Sujàtà, có bảy loại vợ cho người đàn ông. Và con thuộc loại vợ nào?
—Bạch Thế Tôn, lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn, con không hiểu rõ ý nghĩa một cách rộng rãi. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho con để con có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn.
—Vậy này Sujàtà, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng Sujàtà vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
Ai tâm bị uế nhiễm,
Không từ mẫn thương người,
Thích thú những người khác,
Khinh rẻ người chồng mình,
Bị mua chuộc bằng tiền,
Hăng say giết hại người,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ sát nhân.
Còn hạng nữ nhân nào,
Tiêu xài tài sản chồng,
Do công nghiệp đem lại,
Hay thương nghiệp, nông nghiệp,
Do vậy, nếu muốn trộm,
Dầu có ít đi nữa,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ ăn trộm.
Không ưa thích làm việc,
Biếng nhác, nhưng ăn nhiều,
Ác khẩu và bạo ác,
Phát ngôn lời khó chịu,
Mọi cố gắng của chồng,
Ðàn áp và chỉ huy,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi là vợ chủ nhân.
Ai luôn luôn từ mẫn,
Có lòng thương xót người,
Săn sóc giúp đỡ chồng,
Như mẹ chăm sóc con,
Tài sản chồng cất chứa,
Biết hộ trì gìn giữ,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như mẹ,
Ai như người em gái,
Ðối xử với chị lớn,
Biết cung kính tôn trọng,
Ðối với người chồng mình,
Với tâm biết tàm quí,
Tùy thuận phục vụ chồng,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như chị.
Ai ở đời thấy chồng,
Tâm hoan hỷ vui vẻ,
Như người bạn tốt lành,
Ðã lâu từ xa về,
Sanh gia đình hiền đức,
Giữ giới, dạ trung thành,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như bạn.
Không tức giận, an tịnh,
Không sợ hình phạt, trượng,
Tâm tư không hiềm hận,
Nhẫn nhục đối với chồng,
Không phẫn nộ tức giận,
Tùy thuận lời chồng dạy,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ nữ tỳ.
Ở đời các hạng vợ,
Ðược gọi vợ sát nhân,
Kể cả vợ ăn trộm,
Và cả vợ chủ nhân,
Vợ ấy không giữ giới,
Ác khẩu và vô lễ
Khi thân hoại mạng chung,
Bị sanh vào địa ngục.
Ở đời các hạng vợ,
Như mẹ, chị và bạn,
Và người vợ được gọi,
Là vợ như nữ tỳ,
An trú trên giới đức,
Khéo phòng hộ lâu ngày,
Khi thân hoại mạng chung,
Ðược sanh lên thiện thú.
Này Sujàtà, có bảy loại vợ này đối với người đàn ông. Con thuộc hạng người nào?
—Bạch Thế Tôn, bắt đầu từ hôm nay, Thế Tôn hãy xem con là người vợ đối với chồng như người vợ nữ tỳ.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Tena kho pana samayena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesane manussā uccāsaddā mahāsaddā honti.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
“Kiṁ nu te, gahapati, nivesane manussā uccāsaddā mahāsaddā kevaṭṭā maññe macchavilope”ti?
“Ayaṁ, bhante, sujātā gharasuṇhā aḍḍhakulā ānītā.
Sā neva sassuṁ ādiyati, na sasuraṁ ādiyati, na sāmikaṁ ādiyati, bhagavantampi na sakkaroti na garuṁ karoti na māneti na pūjetī”ti.
Atha kho bhagavā sujātaṁ gharasuṇhaṁ āmantesi:
“ehi, sujāte”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho sujātā gharasuṇhā bhagavato paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sujātaṁ gharasuṇhaṁ bhagavā etadavoca:
“Satta kho imā, sujāte, purisassa bhariyāyo.
Katamā satta?
Vadhakasamā, corīsamā, ayyasamā, mātāsamā, bhaginīsamā, sakhīsamā, dāsīsamā.
Imā kho, sujāte, satta purisassa bhariyāyo.
Tāsaṁ tvaṁ katamā”ti?
“Na kho ahaṁ, bhante, imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Sādhu me, bhante, bhagavā tathā dhammaṁ desetu yathāhaṁ imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ jāneyyan”ti.
“Tena hi, sujāte, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho sujātā gharasuṇhā bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Paduṭṭhacittā ahitānukampinī,
Aññesu rattā atimaññate patiṁ;
Dhanena kītassa vadhāya ussukā,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Vadhā ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Yaṁ itthiyā vindati sāmiko dhanaṁ,
Sippaṁ vaṇijjañca kasiṁ adhiṭṭhahaṁ;
Appampi tassa apahātumicchati,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Corī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Akammakāmā alasā mahagghasā,
Pharusā ca caṇḍī duruttavādinī;
Uṭṭhāyakānaṁ abhibhuyya vattati,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Ayyā ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Yā sabbadā hoti hitānukampinī,
Mātāva puttaṁ anurakkhate patiṁ;
Tato dhanaṁ sambhatamassa rakkhati,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Mātā ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Yathāpi jeṭṭhā bhaginī kaniṭṭhakā,
Sagāravā hoti sakamhi sāmike;
Hirīmanā bhattuvasānuvattinī,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Bhaginī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Yācīdha disvāna patiṁ pamodati,
Sakhī sakhāraṁva cirassamāgataṁ;
Koleyyakā sīlavatī patibbatā,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Sakhī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Akkuddhasantā vadhadaṇḍatajjitā,
Aduṭṭhacittā patino titikkhati;
Akkodhanā bhattuvasānuvattinī,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Dāsī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Yācīdha bhariyā vadhakāti vuccati,
‘Corī ca ayyā’ti ca yā pavuccati;
Dussīlarūpā pharusā anādarā,
Kāyassa bhedā nirayaṁ vajanti tā.
Yācīdha mātā bhaginī sakhīti ca,
‘Dāsī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati;
Sīle ṭhitattā cirarattasaṁvutā,
Kāyassa bhedā sugatiṁ vajanti tāti.
Imā kho, sujāte, satta purisassa bhariyāyo.
Tāsaṁ tvaṁ katamā”ti?
“Ajjatagge maṁ, bhante, bhagavā dāsīsamaṁ sāmikassa bhariyaṁ dhāretū”ti.
Dasamaṁ.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the householder Anāthapiṇḍika, where he sat on the seat spread out.
Now at that time people in Anāthapiṇḍika’s home were making a colossal racket.
Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him,
“Householder, what’s with the people making that colossal racket in your home? You’d think it was fishermen hauling in a catch!”
“Sir, that’s my daughter-in-law Sujātā. She’s been brought here from a wealthy family.
She doesn’t obey her mother-in-law or father-in-law or her husband. And she does not honor, respect, esteem, and venerate the Buddha.”
Then the Buddha addressed Sujātā, saying,
“Come, Sujātā.”
“Yes, sir,” she replied. She went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to her:
“Sujātā, a man can have seven kinds of wife.
What seven?
A wife like a killer, a wife like a thief, a wife like a lord, a wife like a mother, a wife like a sister, a wife like a comrade, and a wife like a bondservant.
These are the kinds of wife that a man can have.
Which one of these are you?”
“Sir, I don’t understand the detailed meaning of what the Buddha has said in brief.
Please teach me this matter so I can understand the detailed meaning.”
“Well then, Sujātā, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” she replied.
The Buddha said this:
“With a mind full of hate and no kindness,
lusting for others, looking down on her husband,
she longs to murder him who paid the price for her.
A man’s wife of this sort
is called a wife and a killer.
A woman’s husband earns his wealth
by focusing on a profession, trade, or farming.
And even if it’s only a little, she wants to take it.
A man’s wife of this sort
is called a wife and a thief.
She’s an idle glutton who doesn’t want to work.
Her words are harsh, fierce, and rude.
He works hard, but she lives as his master.
A man’s wife of this sort
is called a wife and a lord.
She’s always caring and kind,
looking after her husband like a mother her child.
She keeps the wealth that he has earned secure.
A man’s wife of this sort
is called a wife and a mother.
She respects her husband
as a younger sister respects her elder.
Conscientious, she does what her husband says.
A man’s wife of this sort
is called a wife and a sister.
She’s delighted to see him,
like one reunited with a long-lost comrade.
She’s of good pedigree, virtuous, and devoted.
A man’s wife of this sort
is called a wife and a comrade.
She has no anger when threatened with violence by the rod.
Without hate or anger,
she endures her husband and does what he says.
A man’s wife of this sort
is called a wife and a bondservant.
The kinds of wives here called
killer, thief, and lord;
immoral, harsh, and lacking regard for others,
when their body breaks up they set course for hell.
But the kinds of wives here called
mother, sister, friend, and bondservant;
steadfast in their own morality, restrained for a long time,
when their body breaks up they set course for a good place.
Sujātā, these are the seven kinds of wife that a man can have.
Which one of these are you?”
“Sir, from this day forth may the Buddha remember me as a wife like a bondservant.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến trú xứ của Anàthapindika; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Lúc bấy giờ, trong trú xứ của gia chủ Anàthapindika có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng. Rồi Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
—Này Gia chủ, vì sao trong nhà của Ông lại có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng như những người đánh cá đang giành giựt cá?
—Bạch Thế Tôn, có nàng dâu Sujàtà giàu có đến đây từ một gia đình giàu có. Nàng không vâng lời mẹ chồng, không vâng lời cha chồng, không vâng lời chồng, cũng không cung kính, không tôn trọng, không lễ bái, không cúng dường Thế Tôn.
TTC 2Rồi Thế Tôn cho gọi nàng dâu Sujàtà:
—Hãy đến đây Sujàtà!
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Nàng dâu Sujàtà vâng đáp Thế Tôn, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với nàng dâu Sujàtà đang ngồi một bên:
—Này Sujàtà có bảy loại vợ này cho người đàn ông. Thế nào là bảy? Vợ như người sát nhân, vợ như người ăn trộm, vợ như người chủ nhân, vợ như người mẹ, vợ như người chị, vợ như người bạn, vợ như người nữ tỳ. Này Sujàtà, có bảy loại vợ cho người đàn ông. Và con thuộc loại vợ nào?
—Bạch Thế Tôn, lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn, con không hiểu rõ ý nghĩa một cách rộng rãi. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho con để con có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn.
—Vậy này Sujàtà, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng Sujàtà vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
Ai tâm bị uế nhiễm,
Không từ mẫn thương người,
Thích thú những người khác,
Khinh rẻ người chồng mình,
Bị mua chuộc bằng tiền,
Hăng say giết hại người,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ sát nhân.
Còn hạng nữ nhân nào,
Tiêu xài tài sản chồng,
Do công nghiệp đem lại,
Hay thương nghiệp, nông nghiệp,
Do vậy, nếu muốn trộm,
Dầu có ít đi nữa,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ ăn trộm.
Không ưa thích làm việc,
Biếng nhác, nhưng ăn nhiều,
Ác khẩu và bạo ác,
Phát ngôn lời khó chịu,
Mọi cố gắng của chồng,
Ðàn áp và chỉ huy,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi là vợ chủ nhân.
Ai luôn luôn từ mẫn,
Có lòng thương xót người,
Săn sóc giúp đỡ chồng,
Như mẹ chăm sóc con,
Tài sản chồng cất chứa,
Biết hộ trì gìn giữ,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như mẹ,
Ai như người em gái,
Ðối xử với chị lớn,
Biết cung kính tôn trọng,
Ðối với người chồng mình,
Với tâm biết tàm quí,
Tùy thuận phục vụ chồng,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như chị.
Ai ở đời thấy chồng,
Tâm hoan hỷ vui vẻ,
Như người bạn tốt lành,
Ðã lâu từ xa về,
Sanh gia đình hiền đức,
Giữ giới, dạ trung thành,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như bạn.
Không tức giận, an tịnh,
Không sợ hình phạt, trượng,
Tâm tư không hiềm hận,
Nhẫn nhục đối với chồng,
Không phẫn nộ tức giận,
Tùy thuận lời chồng dạy,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ nữ tỳ.
Ở đời các hạng vợ,
Ðược gọi vợ sát nhân,
Kể cả vợ ăn trộm,
Và cả vợ chủ nhân,
Vợ ấy không giữ giới,
Ác khẩu và vô lễ
Khi thân hoại mạng chung,
Bị sanh vào địa ngục.
Ở đời các hạng vợ,
Như mẹ, chị và bạn,
Và người vợ được gọi,
Là vợ như nữ tỳ,
An trú trên giới đức,
Khéo phòng hộ lâu ngày,
Khi thân hoại mạng chung,
Ðược sanh lên thiện thú.
Này Sujàtà, có bảy loại vợ này đối với người đàn ông. Con thuộc hạng người nào?
—Bạch Thế Tôn, bắt đầu từ hôm nay, Thế Tôn hãy xem con là người vợ đối với chồng như người vợ nữ tỳ.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Tena kho pana samayena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesane manussā uccāsaddā mahāsaddā honti.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
“Kiṁ nu te, gahapati, nivesane manussā uccāsaddā mahāsaddā kevaṭṭā maññe macchavilope”ti?
“Ayaṁ, bhante, sujātā gharasuṇhā aḍḍhakulā ānītā.
Sā neva sassuṁ ādiyati, na sasuraṁ ādiyati, na sāmikaṁ ādiyati, bhagavantampi na sakkaroti na garuṁ karoti na māneti na pūjetī”ti.
Atha kho bhagavā sujātaṁ gharasuṇhaṁ āmantesi:
“ehi, sujāte”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho sujātā gharasuṇhā bhagavato paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sujātaṁ gharasuṇhaṁ bhagavā etadavoca:
“Satta kho imā, sujāte, purisassa bhariyāyo.
Katamā satta?
Vadhakasamā, corīsamā, ayyasamā, mātāsamā, bhaginīsamā, sakhīsamā, dāsīsamā.
Imā kho, sujāte, satta purisassa bhariyāyo.
Tāsaṁ tvaṁ katamā”ti?
“Na kho ahaṁ, bhante, imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Sādhu me, bhante, bhagavā tathā dhammaṁ desetu yathāhaṁ imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ jāneyyan”ti.
“Tena hi, sujāte, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho sujātā gharasuṇhā bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Paduṭṭhacittā ahitānukampinī,
Aññesu rattā atimaññate patiṁ;
Dhanena kītassa vadhāya ussukā,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Vadhā ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Yaṁ itthiyā vindati sāmiko dhanaṁ,
Sippaṁ vaṇijjañca kasiṁ adhiṭṭhahaṁ;
Appampi tassa apahātumicchati,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Corī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Akammakāmā alasā mahagghasā,
Pharusā ca caṇḍī duruttavādinī;
Uṭṭhāyakānaṁ abhibhuyya vattati,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Ayyā ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Yā sabbadā hoti hitānukampinī,
Mātāva puttaṁ anurakkhate patiṁ;
Tato dhanaṁ sambhatamassa rakkhati,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Mātā ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Yathāpi jeṭṭhā bhaginī kaniṭṭhakā,
Sagāravā hoti sakamhi sāmike;
Hirīmanā bhattuvasānuvattinī,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Bhaginī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Yācīdha disvāna patiṁ pamodati,
Sakhī sakhāraṁva cirassamāgataṁ;
Koleyyakā sīlavatī patibbatā,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Sakhī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Akkuddhasantā vadhadaṇḍatajjitā,
Aduṭṭhacittā patino titikkhati;
Akkodhanā bhattuvasānuvattinī,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Dāsī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Yācīdha bhariyā vadhakāti vuccati,
‘Corī ca ayyā’ti ca yā pavuccati;
Dussīlarūpā pharusā anādarā,
Kāyassa bhedā nirayaṁ vajanti tā.
Yācīdha mātā bhaginī sakhīti ca,
‘Dāsī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati;
Sīle ṭhitattā cirarattasaṁvutā,
Kāyassa bhedā sugatiṁ vajanti tāti.
Imā kho, sujāte, satta purisassa bhariyāyo.
Tāsaṁ tvaṁ katamā”ti?
“Ajjatagge maṁ, bhante, bhagavā dāsīsamaṁ sāmikassa bhariyaṁ dhāretū”ti.
Dasamaṁ.