TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có tám hội chúng này. Thế nào là tám?
TTC 2Hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hội chúng Sa-môn, hội chúng Bốn Thiên vương, hội chúng cõi trời Ba mươi ba, hội chúng Màra, hội chúng Phạm thiên.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, Ta nhớ rằng Ta đã đi đến hàng trăm hội chúng Sát-đế-lỵ. Tại đấy, Ta lúc trước có hội họp, lúc trước có nói chuyện, lúc trước có thảo luận; Tại đấy, dung sắc của họ như thế nào, dung sắc của Ta trở thành như của họ; giọng nói của họ như thế nào, giọng nói của Ta trở thành như của họ. Và Ta, với pháp thoại, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Khi Ta nói, họ không biết Ta là ai. Họ nói: “Người nói này là ai, Thiên nhân hay loài Người? “. Sau khi thuyết giảng với pháp thoại, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, họ không biết Ta là ai. Họ nói: “Người biến mất này là ai, Thiên nhân hay loài Người? “
TTC 4Này các Tỷ-kheo, Ta nhớ rằng Ta đã đi đến hàng trăm hội họ Bà-la-môn, … hàng trăm hội chúng Gia chủ, … hàng trăm hội chúng Sa-môn, … hàng trăm hội chúng Bốn Thiên vương, … hàng trăm hội chúng cõi Trời Ba mươi ba,… hàng trăm hội chúng Màra…. hàng trăm hội chúng Phạm thiên. Tại đấy, Ta lúc trước có hội họp, lúc trước có nói chuyện, lúc trước có thảo luận; tại đấy dung sắc của họ như thế nào, dung sắc của Ta trở thành như của họ; giọng nói của họ như thế nào, giọng nói của Ta trở thành như của họ. Và Ta, với pháp thoại, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Khi Ta nói, họ không biết Ta là ai. Họ nói: “Người nói này là ai, Thiên nhân hay loài Người? “. Sau khi thuyết giảng với pháp thoại, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, họ không biết Ta là ai. Họ nói: “Người biến mất này là ai, Thiên nhân hay loài Người? “
Này các Tỷ-kheo, đây là tám hội chúng.
“Aṭṭhimā, bhikkhave, parisā.
Katamā aṭṭha?
Khattiyaparisā, brāhmaṇaparisā, gahapatiparisā, samaṇaparisā, cātumahārājikaparisā, tāvatiṁsaparisā, māraparisā, brahmaparisā.
Abhijānāmi kho panāhaṁ, bhikkhave, anekasataṁ khattiyaparisaṁ upasaṅkamitā.
Tatrapi mayā sannisinnapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpannapubbā.
Tattha yādisako tesaṁ vaṇṇo hoti tādisako mayhaṁ vaṇṇo hoti, yādisako tesaṁ saro hoti tādisako mayhaṁ saro hoti.
Dhammiyā ca kathāya sandassemi samādapemi samuttejemi sampahaṁsemi.
Bhāsamānañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ bhāsati devo vā manusso vā’ti.
Dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā antaradhāyāmi.
Antarahitañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ antarahito devo vā manusso vā’ti.
Abhijānāmi kho panāhaṁ, bhikkhave, anekasataṁ brāhmaṇaparisaṁ …pe…
gahapatiparisaṁ …
samaṇaparisaṁ …
cātumahārājikaparisaṁ …
tāvatiṁsaparisaṁ …
māraparisaṁ …
brahmaparisaṁ upasaṅkamitā.
Tatrapi mayā sannisinnapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpannapubbā.
Tattha yādisako tesaṁ vaṇṇo hoti tādisako mayhaṁ vaṇṇo hoti, yādisako tesaṁ saro hoti tādisako mayhaṁ saro hoti.
Dhammiyā ca kathāya sandassemi samādapemi samuttejemi sampahaṁsemi.
Bhāsamānañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ bhāsati devo vā manusso vā’ti.
Dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā antaradhāyāmi.
Antarahitañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ antarahito devo vā manusso vā’ti.
Imā kho, bhikkhave, aṭṭha parisā”ti.
Navamaṁ.
“Mendicants, there are these eight assemblies.
What eight?
The assemblies of aristocrats, brahmins, householders, and ascetics. An assembly of the gods of the four great kings. An assembly of the gods of the thirty-three. An assembly of Māras. An assembly of divinities.
I recall having approached an assembly of hundreds of aristocrats.
There I used to sit with them, converse, and engage in discussion.
And my appearance and voice became just like theirs.
I educated, encouraged, fired up, and inspired them with a Dhamma talk.
But when I spoke they didn’t know:
‘Who is this that speaks? Is it a god or a human?’
And when my Dhamma talk was finished I vanished.
But when I vanished they didn’t know:
‘Who was that who vanished? Was it a god or a human?’
I recall having approached an assembly of hundreds of brahmins …
householders …
ascetics …
the gods of the four great kings …
the gods of the thirty-three …
Māras …
divinities.
There too I used to sit with them, converse, and engage in discussion.
And my appearance and voice became just like theirs.
I educated, encouraged, fired up, and inspired them with a Dhamma talk.
But when I spoke they didn’t know:
‘Who is this that speaks? Is it a god or a human?’
And when my Dhamma talk was finished I vanished.
But when I vanished they didn’t know:
‘Who was that who vanished? Was it a god or a human?’
These are the eight assemblies.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có tám hội chúng này. Thế nào là tám?
TTC 2Hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hội chúng Sa-môn, hội chúng Bốn Thiên vương, hội chúng cõi trời Ba mươi ba, hội chúng Màra, hội chúng Phạm thiên.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, Ta nhớ rằng Ta đã đi đến hàng trăm hội chúng Sát-đế-lỵ. Tại đấy, Ta lúc trước có hội họp, lúc trước có nói chuyện, lúc trước có thảo luận; Tại đấy, dung sắc của họ như thế nào, dung sắc của Ta trở thành như của họ; giọng nói của họ như thế nào, giọng nói của Ta trở thành như của họ. Và Ta, với pháp thoại, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Khi Ta nói, họ không biết Ta là ai. Họ nói: “Người nói này là ai, Thiên nhân hay loài Người? “. Sau khi thuyết giảng với pháp thoại, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, họ không biết Ta là ai. Họ nói: “Người biến mất này là ai, Thiên nhân hay loài Người? “
TTC 4Này các Tỷ-kheo, Ta nhớ rằng Ta đã đi đến hàng trăm hội họ Bà-la-môn, … hàng trăm hội chúng Gia chủ, … hàng trăm hội chúng Sa-môn, … hàng trăm hội chúng Bốn Thiên vương, … hàng trăm hội chúng cõi Trời Ba mươi ba,… hàng trăm hội chúng Màra…. hàng trăm hội chúng Phạm thiên. Tại đấy, Ta lúc trước có hội họp, lúc trước có nói chuyện, lúc trước có thảo luận; tại đấy dung sắc của họ như thế nào, dung sắc của Ta trở thành như của họ; giọng nói của họ như thế nào, giọng nói của Ta trở thành như của họ. Và Ta, với pháp thoại, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Khi Ta nói, họ không biết Ta là ai. Họ nói: “Người nói này là ai, Thiên nhân hay loài Người? “. Sau khi thuyết giảng với pháp thoại, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, họ không biết Ta là ai. Họ nói: “Người biến mất này là ai, Thiên nhân hay loài Người? “
Này các Tỷ-kheo, đây là tám hội chúng.
“Aṭṭhimā, bhikkhave, parisā.
Katamā aṭṭha?
Khattiyaparisā, brāhmaṇaparisā, gahapatiparisā, samaṇaparisā, cātumahārājikaparisā, tāvatiṁsaparisā, māraparisā, brahmaparisā.
Abhijānāmi kho panāhaṁ, bhikkhave, anekasataṁ khattiyaparisaṁ upasaṅkamitā.
Tatrapi mayā sannisinnapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpannapubbā.
Tattha yādisako tesaṁ vaṇṇo hoti tādisako mayhaṁ vaṇṇo hoti, yādisako tesaṁ saro hoti tādisako mayhaṁ saro hoti.
Dhammiyā ca kathāya sandassemi samādapemi samuttejemi sampahaṁsemi.
Bhāsamānañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ bhāsati devo vā manusso vā’ti.
Dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā antaradhāyāmi.
Antarahitañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ antarahito devo vā manusso vā’ti.
Abhijānāmi kho panāhaṁ, bhikkhave, anekasataṁ brāhmaṇaparisaṁ …pe…
gahapatiparisaṁ …
samaṇaparisaṁ …
cātumahārājikaparisaṁ …
tāvatiṁsaparisaṁ …
māraparisaṁ …
brahmaparisaṁ upasaṅkamitā.
Tatrapi mayā sannisinnapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpannapubbā.
Tattha yādisako tesaṁ vaṇṇo hoti tādisako mayhaṁ vaṇṇo hoti, yādisako tesaṁ saro hoti tādisako mayhaṁ saro hoti.
Dhammiyā ca kathāya sandassemi samādapemi samuttejemi sampahaṁsemi.
Bhāsamānañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ bhāsati devo vā manusso vā’ti.
Dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā antaradhāyāmi.
Antarahitañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ antarahito devo vā manusso vā’ti.
Imā kho, bhikkhave, aṭṭha parisā”ti.
Navamaṁ.