TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có chín chỗ cư trú của loài hữu tình. Thế nào là chín?
TTC 2Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên, một số ở các đọa xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ nhất.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng đồng nhất, chư Phạm Chúng thiên, khi mới tái sanh. Ðó là hữu tình trú xứ thứ hai.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, có loại hữu tình, thân đồng nhất, tưởng sai biệt như Quang âm thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ ba.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng đồng nhất, như Tịnh Cư thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tư.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, có những loại hữu tình không có tưởng, không có thọ như Vô Tưởng thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ năm.
TTC 7Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình vượt khỏi sắc tưởng một cách hoàn toàn, diệt trừ các đối ngại tưởng, không có tác ý sai biệt tưởng, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng được Không vô biên xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ sáu.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình, vượt khỏi hư Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng được Thức vô biên xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ bảy.
TTC 9Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Không có gì tất cả”, chứng được Vô sở hữu xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tám.
TTC 10Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ chín.
Này các Tỷ-kheo, đây là chín chỗ cư trú của các loài hữu tình.
“Navayime, bhikkhave, sattāvāsā.
Katame nava?
Santi, bhikkhave, sattā nānattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi manussā, ekacce ca devā, ekacce ca vinipātikā.
Ayaṁ paṭhamo sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā nānattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā brahmakāyikā paṭhamābhinibbattā.
Ayaṁ dutiyo sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā ekattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi devā ābhassarā.
Ayaṁ tatiyo sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā ekattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā subhakiṇhā.
Ayaṁ catuttho sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā asaññino appaṭisaṁvedino, seyyathāpi devā asaññasattā.
Ayaṁ pañcamo sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanūpagā.
Ayaṁ chaṭṭho sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanūpagā.
Ayaṁ sattamo sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanūpagā.
Ayaṁ aṭṭhamo sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanūpagā.
Ayaṁ navamo sattāvāso.
Ime kho, bhikkhave, nava sattāvāsā”ti.
Catutthaṁ.
“Mendicants, there are nine abodes of sentient beings.
What nine?
There are sentient beings that are diverse in body and diverse in perception, such as human beings, some gods, and some beings in the underworld.
This is the first abode of sentient beings.
There are sentient beings that are diverse in body and unified in perception, such as the gods reborn in the Divinity’s host through the first absorption.
This is the second abode of sentient beings.
There are sentient beings that are unified in body and diverse in perception, such as the gods of streaming radiance.
This is the third abode of sentient beings.
There are sentient beings that are unified in body and unified in perception, such as the gods of universal beauty.
This is the fourth abode of sentient beings.
There are sentient beings that are non-percipient and do not experience anything, such as the gods who are non-percipient beings.
This is the fifth abode of sentient beings.
There are sentient beings that have gone totally beyond perceptions of form. With the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they have been reborn in the dimension of infinite space.
This is the sixth abode of sentient beings.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of infinite space. Aware that ‘consciousness is infinite’, they have been reborn in the dimension of infinite consciousness.
This is the seventh abode of sentient beings.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of infinite consciousness. Aware that ‘there is nothing at all’, they have been reborn in the dimension of nothingness.
This is the eighth abode of sentient beings.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of nothingness. They have been reborn in the dimension of neither perception nor non-perception.
This is the ninth abode of sentient beings.
These are the nine abodes of sentient beings.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có chín chỗ cư trú của loài hữu tình. Thế nào là chín?
TTC 2Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên, một số ở các đọa xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ nhất.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng đồng nhất, chư Phạm Chúng thiên, khi mới tái sanh. Ðó là hữu tình trú xứ thứ hai.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, có loại hữu tình, thân đồng nhất, tưởng sai biệt như Quang âm thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ ba.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng đồng nhất, như Tịnh Cư thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tư.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, có những loại hữu tình không có tưởng, không có thọ như Vô Tưởng thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ năm.
TTC 7Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình vượt khỏi sắc tưởng một cách hoàn toàn, diệt trừ các đối ngại tưởng, không có tác ý sai biệt tưởng, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng được Không vô biên xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ sáu.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình, vượt khỏi hư Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng được Thức vô biên xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ bảy.
TTC 9Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Không có gì tất cả”, chứng được Vô sở hữu xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tám.
TTC 10Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ chín.
Này các Tỷ-kheo, đây là chín chỗ cư trú của các loài hữu tình.
“Navayime, bhikkhave, sattāvāsā.
Katame nava?
Santi, bhikkhave, sattā nānattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi manussā, ekacce ca devā, ekacce ca vinipātikā.
Ayaṁ paṭhamo sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā nānattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā brahmakāyikā paṭhamābhinibbattā.
Ayaṁ dutiyo sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā ekattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi devā ābhassarā.
Ayaṁ tatiyo sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā ekattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā subhakiṇhā.
Ayaṁ catuttho sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā asaññino appaṭisaṁvedino, seyyathāpi devā asaññasattā.
Ayaṁ pañcamo sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanūpagā.
Ayaṁ chaṭṭho sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanūpagā.
Ayaṁ sattamo sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanūpagā.
Ayaṁ aṭṭhamo sattāvāso.
Santi, bhikkhave, sattā sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanūpagā.
Ayaṁ navamo sattāvāso.
Ime kho, bhikkhave, nava sattāvāsā”ti.
Catutthaṁ.