TTC 1—Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có trận chiến kịch liệt giữa chư Thiên và các loài Asurà. Trong trận chiến này, này các Tỷ-kheo, các Asurà thắng, chư Thiên bị bại trận. Chư Thiên thất trận bỏ chạy, các Asurà mặt hướng về phía Bắc đuổi theo. Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên suy nghĩ sau: “Các Asurà đang đuổi theo. Vậy chúng ta hãy đánh một trận thứ hai với các Asurà”.
TTC 2Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo, chư Thiên đánh với các Asurà. Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo, các Asurà lại thắng trận, chư Thiên bại trận. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên thất trận sợ hãi bỏ chạy, các Asurà mặt hướng về phía Bắc đuổi theo. Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên suy nghĩ như sau: “Các Asurà đang đuổi theo. Vậy chúng ta hãy đánh một trận thứ ba với các Asurà”.
TTC 3Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, chư Thiên đánh với các Asurà. Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, các Asurà lại thắng trận, chư Thiên bại trận. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên thất trận sợ hãi bỏ chạy vào thành phố chư Thiên. Và này các Tỷ-kheo, chư Thiên đi vào trong thành của chư Thiên suy nghĩ như sau: “Nay ta hãy đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng ta sống với chúng ta, không có gì phải làm với các Asurà”. Này các Tỷ-kheo, các Asurà cũng suy nghĩ như sau: “Này chư Thiên đã đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng sống với chúng nó, không có gì phải làm với chúng ta.”
TTC 4Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có trận chiến kịch liệt xảy ra giữa chư Thiên và các loài Asurà. Trong trận chiến này, này các Tỷ-kheo, chư Thiên thắng, các Asurà bị bại trận. Các Asurà thất trận bỏ chạy, chư Thiên mặt hướng về phía Nam đuổi theo. Rồi này các Tỷ-kheo, các Asurà suy nghĩ như sau: “Chư Thiên đang đuổi theo. Vậy chúng ta hãy đánh một trận thứ hai với chư Thiên”.
TTC 5Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo, các Asurà đánh trận với chư Thiên. Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo, chư Thiên thắng trận, các Asurà bại trận. Này các Tỷ-kheo, các Asurà thất trận sợ hãi bỏ chạy, chư Thiên mặt hướng về phía Nam đuổi theo. Rồi này các Tỷ-kheo, các Asurà suy nghĩ như sau: “Chư Thiên đang đuổi theo. Vậy chúng ta hãy đánh một trận thứ ba với chư Thiên”.
TTC 6Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, các Asurà đánh với chư Thiên. Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, chư Thiên thắng trận, các Asurà bại trận. Này các Tỷ-kheo, các Asurà thất trận sợ hãi bỏ chạy vào thành phố Asurà. Rồi này các Tỷ-kheo, các Asurà đi vào trong thành phố của các Asurà suy nghĩ như sau: “Nay chúng ta đã đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng ta sống với chúng ta, không có gì phải làm với chư Thiên”. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên cũng suy nghĩ như sau: “Nay các Asurà đã đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng sống với chúng nó, không có gì phải làm với chúng ta.”
TTC 7Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú sơ Thiền, trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Với sự đi đến chỗ ẩn náu của sợ hãi, nay ta sống với tự ngã, không có việc gì phải làm với Màra”. Và này các Tỷ-kheo, chính Ác ma cũng suy nghĩ như sau: “Với sự đi đến chỗ ẩn náu của sợ hãi, Tỷ-kheo sống với tự ngã, không có việc gì phải làm với ta”.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, trong khi vị Tỷ-kheo diệt các tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai… Thiền thứ ba… Thiền thứ tư, trong khi ấy này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Với sự đi đến chỗ ẩn náu của sợ hãi, nay ta sống với tự ngã, không có việc gì phải làm với Màra”. Và này các Tỷ-kheo, chính Ác ma cũng suy nghĩ như sau: “Với sự đi đến chỗ ẩn náu của sợ hãi, Tỷ-kheo sống với tự ngã, không có việc gì phải làm với ta”.
TTC 9Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo vượt khỏi các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các chướng ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Tỷ-kheo này làm Ác ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt của Màra, không còn dấu tích, khiến Ác ma không thấy đường đi lối về.
TTC 10Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo vượt khỏi Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ… Vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ… Vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trong khi Tỷ-kheo vượt Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định; vị ấy thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Tỷ-kheo này làm Ác ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt của Màra, không còn dấu tích, khiến Ác ma không thấy đường đi lối về. Vị ấy đã vượt qua triền phược ở đời.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Tasmiṁ kho pana, bhikkhave, saṅgāme asurā jiniṁsu, devā parājayiṁsu.
Parājitā ca, bhikkhave, devā apayiṁsuyeva uttarenābhimukhā, abhiyiṁsu asurā.
Atha kho, bhikkhave, devānaṁ etadahosi:
‘abhiyanteva kho asurā.
Yannūna mayaṁ dutiyampi asurehi saṅgāmeyyāmā’ti.
Dutiyampi kho, bhikkhave, devā asurehi saṅgāmesuṁ.
Dutiyampi kho, bhikkhave, asurāva jiniṁsu, devā parājayiṁsu.
Parājitā ca, bhikkhave, devā apayiṁsuyeva uttarenābhimukhā, abhiyiṁsu asurā.
Atha kho, bhikkhave, devānaṁ etadahosi:
‘abhiyanteva kho asurā.
Yannūna mayaṁ tatiyampi asurehi saṅgāmeyyāmā’ti.
Tatiyampi kho, bhikkhave, devā asurehi saṅgāmesuṁ.
Tatiyampi kho, bhikkhave, asurāva jiniṁsu, devā parājayiṁsu.
Parājitā ca, bhikkhave, devā bhītā devapuraṁyeva pavisiṁsu.
Devapuragatānañca pana, bhikkhave, devānaṁ etadahosi:
‘bhīruttānagatena kho dāni mayaṁ etarahi attanā viharāma akaraṇīyā asurehī’ti.
Asurānampi, bhikkhave, etadahosi:
‘bhīruttānagatena kho dāni devā etarahi attanā viharanti akaraṇīyā amhehī’ti.
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Tasmiṁ kho pana, bhikkhave, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājayiṁsu.
Parājitā ca, bhikkhave, asurā apayiṁsuyeva dakkhiṇenābhimukhā, abhiyiṁsu devā.
Atha kho, bhikkhave, asurānaṁ etadahosi:
‘abhiyanteva kho devā.
Yannūna mayaṁ dutiyampi devehi saṅgāmeyyāmā’ti.
Dutiyampi kho, bhikkhave, asurā devehi saṅgāmesuṁ.
Dutiyampi kho, bhikkhave, devā jiniṁsu, asurā parājayiṁsu.
Parājitā ca, bhikkhave, asurā apayiṁsuyeva dakkhiṇenābhimukhā, abhiyiṁsu devā.
Atha kho, bhikkhave, asurānaṁ etadahosi:
‘abhiyanteva kho devā.
Yannūna mayaṁ tatiyampi devehi saṅgāmeyyāmā’ti.
Tatiyampi kho, bhikkhave, asurā devehi saṅgāmesuṁ.
Tatiyampi kho, bhikkhave, devā jiniṁsu, asurā parājayiṁsu.
Parājitā ca, bhikkhave, asurā bhītā asurapuraṁyeva pavisiṁsu.
Asurapuragatānañca pana, bhikkhave, asurānaṁ etadahosi:
‘bhīruttānagatena kho dāni mayaṁ etarahi attanā viharāma akaraṇīyā devehī’ti.
Devānampi, bhikkhave, etadahosi:
‘bhīruttānagatena kho dāni asurā etarahi attanā viharanti akaraṇīyā amhehī’ti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, yasmiṁ samaye bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati,
tasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhussa evaṁ hoti:
‘bhīruttānagatena kho dānāhaṁ etarahi attanā viharāmi akaraṇīyo mārassā’ti.
Mārassāpi, bhikkhave, pāpimato evaṁ hoti:
‘bhīruttānagatena kho dāni bhikkhu etarahi attanā viharati akaraṇīyo mayhan’ti.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ …
tatiyaṁ jhānaṁ …
catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati,
tasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhussa evaṁ hoti:
‘bhīruttānagatena kho dānāhaṁ etarahi attanā viharāmi akaraṇīyo mārassā’ti.
Mārassāpi, bhikkhave, pāpimato evaṁ hoti:
‘bhīruttānagatena kho dāni bhikkhu etarahi attanā viharati, akaraṇīyo mayhan’ti.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu antamakāsi māraṁ, apadaṁ vadhitvā māracakkhuṁ adassanaṁ gato pāpimato tiṇṇo loke visattikan’ti.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati …
sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati …
sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati …
sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu antamakāsi māraṁ, apadaṁ vadhitvā māracakkhuṁ adassanaṁ gato pāpimato tiṇṇo loke visattikan’”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“Once, monks, a battle between the devas & asuras was in full swing. And in that battle, the asuras won and the devas lost. Having lost, the devas simply fled while the asuras, heading north, attacked them. Then the thought occurred to the devas, ‘The asuras are still attacking. Why don’t we do battle a second time?’
“So the devas did battle with the asuras a second time. And a second time, the asuras won and the devas lost. Having lost, the devas simply fled while the asuras, heading north, attacked them. Then the thought occurred to the devas, ‘The asuras are still attacking. Why don’t we do battle a third time?’
“So the devas did battle with the asuras a third time. And a third time, the asuras won and the devas lost. Having lost, the devas, afraid, entered the deva capital. Having gone to their capital, the devas thought, ‘Having come to this shelter for the fearful, we will now keep here to ourselves, having nothing to do with the asuras.’ And the asuras also thought, ‘Having gone to this shelter for the fearful, the devas will now keep here to themselves, having nothing to do with us.’
“Once, monks, a battle between the devas & asuras was in full swing. And in that battle, the devas won and the asuras lost. Having lost, the asuras simply fled while the devas, heading south, attacked them. Then the thought occurred to the asura, ‘The devas are still attacking. Why don’t we do battle a second time?’
“So the asuras did battle with the devas a second time. And a second time, the devas won and the asuras lost. Having lost, the asuras simply fled while the devas, heading south, attacked them. Then the thought occurred to the asuras, ‘The devas are still attacking. Why don’t we do battle a third time?’
“So the asuras did battle with the devas a third time. And a third time, the devas won and the asuras lost. Having lost, the asuras, afraid, entered the asura capital. Having gone to their capital, the asuras thought, ‘Having come to this shelter for the fearful, we will now keep here to ourselves, having nothing to do with the devas.’ And the devas also thought, ‘Having gone to this shelter for the fearful, the asuras will now keep here to themselves, having nothing to do with us.’
“In the same way, monks, on whatever occasion a monk—secluded from sensuality, secluded from unskillful qualities—enters the first jhāna: rapture & pleasure born of seclusion, accompanied by directed thought & evaluation, on that occasion the thought occurs to him, ‘Having come to this shelter for the fearful, I will now keep here to myself, having nothing to do with Māra.’ And the thought occurs to Māra, the Evil One, ‘Having gone to this shelter for the fearful, the monk will now keep here to himself, having nothing to do with me.’
[Similarly with the second, third, & fourth jhānas.]
“On whatever occasion a monk, with the complete transcending of perceptions of (physical) form, with the disappearance of perceptions of resistance, and not heeding perceptions of diversity, (perceiving,) ‘Infinite space,’ enters the dimension of the infinitude of space: He is said to be a monk who has put Māra in the dark. Having bound Māra’s eyes and leaving no opening, he has become invisible to the Evil One.
[Similarly with the dimensions of the infinitude of consciousness, nothingness, and neither perception nor non-perception.]
“On whatever occasion, with the complete transcending of the dimension of neither perception nor non-perception, he enters & remains in the cessation of perception & feeling; and, having seen [that] with discernment, his effluents are completely ended: He is said to be a monk who has put Māra in the dark. Having bound Māra’s eyes and leaving no opening, he has become invisible to the Evil One, having crossed over attachment in the cosmos.”
TTC 1—Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có trận chiến kịch liệt giữa chư Thiên và các loài Asurà. Trong trận chiến này, này các Tỷ-kheo, các Asurà thắng, chư Thiên bị bại trận. Chư Thiên thất trận bỏ chạy, các Asurà mặt hướng về phía Bắc đuổi theo. Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên suy nghĩ sau: “Các Asurà đang đuổi theo. Vậy chúng ta hãy đánh một trận thứ hai với các Asurà”.
TTC 2Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo, chư Thiên đánh với các Asurà. Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo, các Asurà lại thắng trận, chư Thiên bại trận. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên thất trận sợ hãi bỏ chạy, các Asurà mặt hướng về phía Bắc đuổi theo. Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên suy nghĩ như sau: “Các Asurà đang đuổi theo. Vậy chúng ta hãy đánh một trận thứ ba với các Asurà”.
TTC 3Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, chư Thiên đánh với các Asurà. Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, các Asurà lại thắng trận, chư Thiên bại trận. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên thất trận sợ hãi bỏ chạy vào thành phố chư Thiên. Và này các Tỷ-kheo, chư Thiên đi vào trong thành của chư Thiên suy nghĩ như sau: “Nay ta hãy đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng ta sống với chúng ta, không có gì phải làm với các Asurà”. Này các Tỷ-kheo, các Asurà cũng suy nghĩ như sau: “Này chư Thiên đã đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng sống với chúng nó, không có gì phải làm với chúng ta.”
TTC 4Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có trận chiến kịch liệt xảy ra giữa chư Thiên và các loài Asurà. Trong trận chiến này, này các Tỷ-kheo, chư Thiên thắng, các Asurà bị bại trận. Các Asurà thất trận bỏ chạy, chư Thiên mặt hướng về phía Nam đuổi theo. Rồi này các Tỷ-kheo, các Asurà suy nghĩ như sau: “Chư Thiên đang đuổi theo. Vậy chúng ta hãy đánh một trận thứ hai với chư Thiên”.
TTC 5Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo, các Asurà đánh trận với chư Thiên. Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo, chư Thiên thắng trận, các Asurà bại trận. Này các Tỷ-kheo, các Asurà thất trận sợ hãi bỏ chạy, chư Thiên mặt hướng về phía Nam đuổi theo. Rồi này các Tỷ-kheo, các Asurà suy nghĩ như sau: “Chư Thiên đang đuổi theo. Vậy chúng ta hãy đánh một trận thứ ba với chư Thiên”.
TTC 6Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, các Asurà đánh với chư Thiên. Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, chư Thiên thắng trận, các Asurà bại trận. Này các Tỷ-kheo, các Asurà thất trận sợ hãi bỏ chạy vào thành phố Asurà. Rồi này các Tỷ-kheo, các Asurà đi vào trong thành phố của các Asurà suy nghĩ như sau: “Nay chúng ta đã đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng ta sống với chúng ta, không có gì phải làm với chư Thiên”. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên cũng suy nghĩ như sau: “Nay các Asurà đã đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng sống với chúng nó, không có gì phải làm với chúng ta.”
TTC 7Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú sơ Thiền, trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Với sự đi đến chỗ ẩn náu của sợ hãi, nay ta sống với tự ngã, không có việc gì phải làm với Màra”. Và này các Tỷ-kheo, chính Ác ma cũng suy nghĩ như sau: “Với sự đi đến chỗ ẩn náu của sợ hãi, Tỷ-kheo sống với tự ngã, không có việc gì phải làm với ta”.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, trong khi vị Tỷ-kheo diệt các tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai… Thiền thứ ba… Thiền thứ tư, trong khi ấy này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Với sự đi đến chỗ ẩn náu của sợ hãi, nay ta sống với tự ngã, không có việc gì phải làm với Màra”. Và này các Tỷ-kheo, chính Ác ma cũng suy nghĩ như sau: “Với sự đi đến chỗ ẩn náu của sợ hãi, Tỷ-kheo sống với tự ngã, không có việc gì phải làm với ta”.
TTC 9Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo vượt khỏi các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các chướng ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Tỷ-kheo này làm Ác ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt của Màra, không còn dấu tích, khiến Ác ma không thấy đường đi lối về.
TTC 10Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo vượt khỏi Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ… Vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ… Vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trong khi Tỷ-kheo vượt Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định; vị ấy thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Tỷ-kheo này làm Ác ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt của Màra, không còn dấu tích, khiến Ác ma không thấy đường đi lối về. Vị ấy đã vượt qua triền phược ở đời.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Tasmiṁ kho pana, bhikkhave, saṅgāme asurā jiniṁsu, devā parājayiṁsu.
Parājitā ca, bhikkhave, devā apayiṁsuyeva uttarenābhimukhā, abhiyiṁsu asurā.
Atha kho, bhikkhave, devānaṁ etadahosi:
‘abhiyanteva kho asurā.
Yannūna mayaṁ dutiyampi asurehi saṅgāmeyyāmā’ti.
Dutiyampi kho, bhikkhave, devā asurehi saṅgāmesuṁ.
Dutiyampi kho, bhikkhave, asurāva jiniṁsu, devā parājayiṁsu.
Parājitā ca, bhikkhave, devā apayiṁsuyeva uttarenābhimukhā, abhiyiṁsu asurā.
Atha kho, bhikkhave, devānaṁ etadahosi:
‘abhiyanteva kho asurā.
Yannūna mayaṁ tatiyampi asurehi saṅgāmeyyāmā’ti.
Tatiyampi kho, bhikkhave, devā asurehi saṅgāmesuṁ.
Tatiyampi kho, bhikkhave, asurāva jiniṁsu, devā parājayiṁsu.
Parājitā ca, bhikkhave, devā bhītā devapuraṁyeva pavisiṁsu.
Devapuragatānañca pana, bhikkhave, devānaṁ etadahosi:
‘bhīruttānagatena kho dāni mayaṁ etarahi attanā viharāma akaraṇīyā asurehī’ti.
Asurānampi, bhikkhave, etadahosi:
‘bhīruttānagatena kho dāni devā etarahi attanā viharanti akaraṇīyā amhehī’ti.
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Tasmiṁ kho pana, bhikkhave, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājayiṁsu.
Parājitā ca, bhikkhave, asurā apayiṁsuyeva dakkhiṇenābhimukhā, abhiyiṁsu devā.
Atha kho, bhikkhave, asurānaṁ etadahosi:
‘abhiyanteva kho devā.
Yannūna mayaṁ dutiyampi devehi saṅgāmeyyāmā’ti.
Dutiyampi kho, bhikkhave, asurā devehi saṅgāmesuṁ.
Dutiyampi kho, bhikkhave, devā jiniṁsu, asurā parājayiṁsu.
Parājitā ca, bhikkhave, asurā apayiṁsuyeva dakkhiṇenābhimukhā, abhiyiṁsu devā.
Atha kho, bhikkhave, asurānaṁ etadahosi:
‘abhiyanteva kho devā.
Yannūna mayaṁ tatiyampi devehi saṅgāmeyyāmā’ti.
Tatiyampi kho, bhikkhave, asurā devehi saṅgāmesuṁ.
Tatiyampi kho, bhikkhave, devā jiniṁsu, asurā parājayiṁsu.
Parājitā ca, bhikkhave, asurā bhītā asurapuraṁyeva pavisiṁsu.
Asurapuragatānañca pana, bhikkhave, asurānaṁ etadahosi:
‘bhīruttānagatena kho dāni mayaṁ etarahi attanā viharāma akaraṇīyā devehī’ti.
Devānampi, bhikkhave, etadahosi:
‘bhīruttānagatena kho dāni asurā etarahi attanā viharanti akaraṇīyā amhehī’ti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, yasmiṁ samaye bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati,
tasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhussa evaṁ hoti:
‘bhīruttānagatena kho dānāhaṁ etarahi attanā viharāmi akaraṇīyo mārassā’ti.
Mārassāpi, bhikkhave, pāpimato evaṁ hoti:
‘bhīruttānagatena kho dāni bhikkhu etarahi attanā viharati akaraṇīyo mayhan’ti.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ …
tatiyaṁ jhānaṁ …
catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati,
tasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhussa evaṁ hoti:
‘bhīruttānagatena kho dānāhaṁ etarahi attanā viharāmi akaraṇīyo mārassā’ti.
Mārassāpi, bhikkhave, pāpimato evaṁ hoti:
‘bhīruttānagatena kho dāni bhikkhu etarahi attanā viharati, akaraṇīyo mayhan’ti.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu antamakāsi māraṁ, apadaṁ vadhitvā māracakkhuṁ adassanaṁ gato pāpimato tiṇṇo loke visattikan’ti.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati …
sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati …
sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati …
sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu antamakāsi māraṁ, apadaṁ vadhitvā māracakkhuṁ adassanaṁ gato pāpimato tiṇṇo loke visattikan’”ti.
Aṭṭhamaṁ.