—Tại phương hướng nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với binh khí miệng lưỡi, thật không thoải mái cho ta, này các Tỷ-kheo, khi nghĩ đến phương hướng ấy, còn nói gì đến chỗ ấy. Ở đây, Ta đi đến kết luận như sau: “Thật vậy, các Tỷ-kheo ấy đã từ bỏ ba pháp và đã làm quá nhiều ba pháp”.
Ba pháp họ đã từ bỏ là gì? Viễn ly tầm, vô sân tầm, bất hại tầm. Ba pháp này họ đã từ bỏ.
Ba pháp gì họ đã làm quá nhiều? Dục tầm, sân tầm, hại tầm. Ba pháp này họ đã làm quá nhiều.
Tại phương hướng nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với binh khí miệng lưỡi, thật không thoải mái cho ta, này các Tỷ-kheo, khi nghĩ đến phương hướng ấy, còn nói gì đến chỗ ấy. Ở đây, Ta đi đến kết luận như sau: “Thật vậy, các Tỷ-kheo ấy đã từ bỏ ba pháp này và đã làm quá nhiều ba pháp này”.
Tại phương hướng nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống hòa hợp, hoan hỷ, không đấu tranh nhau, như sữa và nước lẫn lộn, nhìn nhau với cặp mắt ái kính, này các Tỷ-kheo, đi đến phương hướng ấy thật thoải mái cho ta, còn nói gì nghĩ đến phương hướng ấy. Ở đây, Ta đi đến kết luận như sau: “Thật vậy, các Tỷ-kheo ấy đã từ bỏ ba pháp này và đã làm quá nhiều ba pháp này”.
Ba pháp họ đã từ bỏ là gì? Dục tầm, sân tầm, hại tầm. Ba pháp này họ đã từ bỏ.
Ba pháp gì họ đã làm quá nhiều? Viễn ly tầm, vô sân tầm, bất hại tầm.
Tại phương hướng nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống hòa hợp, hoan hỷ, không đấu tranh nhau, như sữa và nước lẫn lộn, nhìn nhau với cặp mắt ái kính, này các Tỷ-kheo, đi đến phương hướng ấy thật thoải mái cho ta, còn nói gì nghĩ đến phương hướng ấy. Ở đây, Ta đi đến kết luận như sau: “Thật vậy, các Tỷ-kheo ấy đã từ bỏ ba pháp này và đã làm quá nhiều ba pháp này”.
“Yassaṁ, bhikkhave, disāyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti, manasi kātumpi me esā, bhikkhave, disā na phāsu hoti, pageva gantuṁ.
Niṭṭhamettha gacchāmi:
‘addhā te āyasmanto tayo dhamme pajahiṁsu, tayo dhamme bahulamakaṁsu.
Katame tayo dhamme pajahiṁsu?
Nekkhammavitakkaṁ, abyāpādavitakkaṁ, avihiṁsāvitakkaṁ—
ime tayo dhamme pajahiṁsu.
Katame tayo dhamme bahulamakaṁsu?
Kāmavitakkaṁ, byāpādavitakkaṁ, vihiṁsāvitakkaṁ—
ime tayo dhamme bahulamakaṁsu’.
Yassaṁ, bhikkhave, disāyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti, manasi kātumpi me esā, bhikkhave, disā na phāsu hoti, pageva gantuṁ.
Niṭṭhamettha gacchāmi:
‘addhā te āyasmanto ime tayo dhamme pajahiṁsu, ime tayo dhamme bahulamakaṁsu’.
Yassaṁ pana, bhikkhave, disāyaṁ bhikkhū samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharanti, gantumpi me esā, bhikkhave, disā phāsu hoti, pageva manasi kātuṁ.
Niṭṭhamettha gacchāmi:
‘addhā te āyasmanto tayo dhamme pajahiṁsu, tayo dhamme bahulamakaṁsu.
Katame tayo dhamme pajahiṁsu?
Kāmavitakkaṁ, byāpādavitakkaṁ, vihiṁsāvitakkaṁ—
ime tayo dhamme pajahiṁsu.
Katame tayo dhamme bahulamakaṁsu?
Nekkhammavitakkaṁ, abyāpādavitakkaṁ, avihiṁsāvitakkaṁ—
ime tayo dhamme bahulamakaṁsu’.
Yassaṁ, bhikkhave, disāyaṁ bhikkhū samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharanti, gantumpi me esā, bhikkhave, disā phāsu hoti, pageva manasi kātuṁ.
Niṭṭhamettha gacchāmi:
‘addhā te āyasmanto ime tayo dhamme pajahiṁsu, ime tayo dhamme bahulamakaṁsū’”ti.
Dutiyaṁ.
“Mendicants, I’m not even comfortable thinking about a place where mendicants fight—quarreling and disputing, continually wounding each other with barbed words—let alone going there.
I come to a conclusion about them:
‘Clearly those venerables have given up three things and cultivated three things.’
What three things have they given up?
Thoughts of renunciation, good will, and harmlessness.
What three things have they cultivated?
Sensual, malicious, and cruel thoughts. …
I come to a conclusion about them:
‘Clearly those venerables have given up three things and cultivated three things.’
I feel comfortable going to a place where the mendicants live in harmony—appreciating each other, without quarreling, blending like milk and water, and regarding each other with kindly eyes—let alone thinking about it.
I come to a conclusion about them:
‘Clearly those venerables have given up three things and cultivated three things.’
What three things have they given up?
Sensual, malicious, and cruel thoughts.
What three things have they cultivated?
Thoughts of renunciation, good will, and harmlessness. …
I come to a conclusion about them:
‘Clearly those venerables have given up three things and cultivated three things.’”
—Tại phương hướng nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với binh khí miệng lưỡi, thật không thoải mái cho ta, này các Tỷ-kheo, khi nghĩ đến phương hướng ấy, còn nói gì đến chỗ ấy. Ở đây, Ta đi đến kết luận như sau: “Thật vậy, các Tỷ-kheo ấy đã từ bỏ ba pháp và đã làm quá nhiều ba pháp”.
Ba pháp họ đã từ bỏ là gì? Viễn ly tầm, vô sân tầm, bất hại tầm. Ba pháp này họ đã từ bỏ.
Ba pháp gì họ đã làm quá nhiều? Dục tầm, sân tầm, hại tầm. Ba pháp này họ đã làm quá nhiều.
Tại phương hướng nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với binh khí miệng lưỡi, thật không thoải mái cho ta, này các Tỷ-kheo, khi nghĩ đến phương hướng ấy, còn nói gì đến chỗ ấy. Ở đây, Ta đi đến kết luận như sau: “Thật vậy, các Tỷ-kheo ấy đã từ bỏ ba pháp này và đã làm quá nhiều ba pháp này”.
Tại phương hướng nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống hòa hợp, hoan hỷ, không đấu tranh nhau, như sữa và nước lẫn lộn, nhìn nhau với cặp mắt ái kính, này các Tỷ-kheo, đi đến phương hướng ấy thật thoải mái cho ta, còn nói gì nghĩ đến phương hướng ấy. Ở đây, Ta đi đến kết luận như sau: “Thật vậy, các Tỷ-kheo ấy đã từ bỏ ba pháp này và đã làm quá nhiều ba pháp này”.
Ba pháp họ đã từ bỏ là gì? Dục tầm, sân tầm, hại tầm. Ba pháp này họ đã từ bỏ.
Ba pháp gì họ đã làm quá nhiều? Viễn ly tầm, vô sân tầm, bất hại tầm.
Tại phương hướng nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống hòa hợp, hoan hỷ, không đấu tranh nhau, như sữa và nước lẫn lộn, nhìn nhau với cặp mắt ái kính, này các Tỷ-kheo, đi đến phương hướng ấy thật thoải mái cho ta, còn nói gì nghĩ đến phương hướng ấy. Ở đây, Ta đi đến kết luận như sau: “Thật vậy, các Tỷ-kheo ấy đã từ bỏ ba pháp này và đã làm quá nhiều ba pháp này”.
“Yassaṁ, bhikkhave, disāyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti, manasi kātumpi me esā, bhikkhave, disā na phāsu hoti, pageva gantuṁ.
Niṭṭhamettha gacchāmi:
‘addhā te āyasmanto tayo dhamme pajahiṁsu, tayo dhamme bahulamakaṁsu.
Katame tayo dhamme pajahiṁsu?
Nekkhammavitakkaṁ, abyāpādavitakkaṁ, avihiṁsāvitakkaṁ—
ime tayo dhamme pajahiṁsu.
Katame tayo dhamme bahulamakaṁsu?
Kāmavitakkaṁ, byāpādavitakkaṁ, vihiṁsāvitakkaṁ—
ime tayo dhamme bahulamakaṁsu’.
Yassaṁ, bhikkhave, disāyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti, manasi kātumpi me esā, bhikkhave, disā na phāsu hoti, pageva gantuṁ.
Niṭṭhamettha gacchāmi:
‘addhā te āyasmanto ime tayo dhamme pajahiṁsu, ime tayo dhamme bahulamakaṁsu’.
Yassaṁ pana, bhikkhave, disāyaṁ bhikkhū samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharanti, gantumpi me esā, bhikkhave, disā phāsu hoti, pageva manasi kātuṁ.
Niṭṭhamettha gacchāmi:
‘addhā te āyasmanto tayo dhamme pajahiṁsu, tayo dhamme bahulamakaṁsu.
Katame tayo dhamme pajahiṁsu?
Kāmavitakkaṁ, byāpādavitakkaṁ, vihiṁsāvitakkaṁ—
ime tayo dhamme pajahiṁsu.
Katame tayo dhamme bahulamakaṁsu?
Nekkhammavitakkaṁ, abyāpādavitakkaṁ, avihiṁsāvitakkaṁ—
ime tayo dhamme bahulamakaṁsu’.
Yassaṁ, bhikkhave, disāyaṁ bhikkhū samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharanti, gantumpi me esā, bhikkhave, disā phāsu hoti, pageva manasi kātuṁ.
Niṭṭhamettha gacchāmi:
‘addhā te āyasmanto ime tayo dhamme pajahiṁsu, ime tayo dhamme bahulamakaṁsū’”ti.
Dutiyaṁ.