TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có mười pháp này, vị xuất gia phải luôn luôn quán sát. Thế nào là mười?
TTC 2Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ta nay đi đến tình trạng là người không có giai cấp” (mất hết giai cấp). Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ðời sống của ta tùy thuộc vào người khác.” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Nay cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi!” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Không biết tự ngã có chỉ trích ta về giới hạnh không?” Vị xuất gia cần luôn luôn quán sát: “Không biết các đồng Phạm hạnh có trí, sau khi tìm hiểu, có chỉ trích ta về giới hạnh không?” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Mọi sự vật khả ái, khả ý của ta bị đổi khác, bị biến hoại”. Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Ta là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là thai tạng của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ quy hướng của nghiệp; phàm nghiệp gì ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. Vị xuất gia cần phải luôn quán sát: “Ðêm ngày trôi qua bên ta và nay ta đã thành người như thế nào?” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Ta có cố gắng hoan hỷ trong ngôi nhà trống không hay không?” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Ta có chứng được pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh không, để đến những ngày cuối cùng, các đồng Phạm hạnh có hỏi, ta sẽ không có xấu hổ?”
Này các Tỷ-kheo, mười pháp này, vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát.
“Dasayime, bhikkhave, dhammā pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbā.
Katame dasa?
‘Vevaṇṇiyamhi ajjhupagato’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Parapaṭibaddhā me jīvikā’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Añño me ākappo karaṇīyo’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Kacci nu kho me attā sīlato na upavadatī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Kacci nu kho maṁ anuvicca viññū sabrahmacārī sīlato na upavadantī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Kammassakomhi kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo,
yaṁ kammaṁ karissāmi kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā tassa dāyādo bhavissāmī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Kathaṁbhūtassa me rattindivā vītivattantī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Kacci nu kho ahaṁ suññāgāre abhiramāmī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Atthi nu kho me uttari manussadhammo alamariyañāṇadassanaviseso adhigato, yenāhaṁ pacchime kāle sabrahmacārīhi puṭṭho na maṅku bhavissāmī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
Ime kho, bhikkhave, dasa dhammā pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbā”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“There are these ten things that a person gone-forth should reflect on often. Which ten?
“‘I have become casteless’: a person gone forth should often reflect on this.
“‘My life is dependent on others’…
“‘My behavior should be different [from that of householders]’…
“‘Can I fault myself with regard to my virtue?’…
“‘Can my knowledgeable fellows in the holy life, on close examination, fault me with regard to my virtue?’…
“‘I will grow different, separate from all that is dear & appealing to me’…
“‘I am the owner of my actions (kamma), heir to my actions, born of my actions, related through my actions, and have my actions as my arbitrator. Whatever I do, for good or for evil, to that will I fall heir’…
“‘What am I becoming as the days & nights fly past?’…
“‘Do I delight in an empty dwelling?’…
“‘Have I attained a superior human attainment, a truly noble distinction of knowledge & vision, such that—when my fellows in the holy life question me in the last days of my life—I won’t feel abashed?’: a person gone forth should often reflect on this.
“These are the ten things that a person gone-forth should reflect on often.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có mười pháp này, vị xuất gia phải luôn luôn quán sát. Thế nào là mười?
TTC 2Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ta nay đi đến tình trạng là người không có giai cấp” (mất hết giai cấp). Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ðời sống của ta tùy thuộc vào người khác.” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Nay cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi!” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Không biết tự ngã có chỉ trích ta về giới hạnh không?” Vị xuất gia cần luôn luôn quán sát: “Không biết các đồng Phạm hạnh có trí, sau khi tìm hiểu, có chỉ trích ta về giới hạnh không?” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Mọi sự vật khả ái, khả ý của ta bị đổi khác, bị biến hoại”. Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Ta là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là thai tạng của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ quy hướng của nghiệp; phàm nghiệp gì ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. Vị xuất gia cần phải luôn quán sát: “Ðêm ngày trôi qua bên ta và nay ta đã thành người như thế nào?” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Ta có cố gắng hoan hỷ trong ngôi nhà trống không hay không?” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Ta có chứng được pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh không, để đến những ngày cuối cùng, các đồng Phạm hạnh có hỏi, ta sẽ không có xấu hổ?”
Này các Tỷ-kheo, mười pháp này, vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát.
“Dasayime, bhikkhave, dhammā pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbā.
Katame dasa?
‘Vevaṇṇiyamhi ajjhupagato’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Parapaṭibaddhā me jīvikā’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Añño me ākappo karaṇīyo’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Kacci nu kho me attā sīlato na upavadatī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Kacci nu kho maṁ anuvicca viññū sabrahmacārī sīlato na upavadantī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Kammassakomhi kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo,
yaṁ kammaṁ karissāmi kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā tassa dāyādo bhavissāmī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Kathaṁbhūtassa me rattindivā vītivattantī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Kacci nu kho ahaṁ suññāgāre abhiramāmī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
‘Atthi nu kho me uttari manussadhammo alamariyañāṇadassanaviseso adhigato, yenāhaṁ pacchime kāle sabrahmacārīhi puṭṭho na maṅku bhavissāmī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.
Ime kho, bhikkhave, dasa dhammā pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbā”ti.
Aṭṭhamaṁ.