TTC 1Một thời, Tôn giả Mahàcunda trú giữa dân chúng Cetì tại Sahajàti. Tại đấy, tôn giả Mahàcunda gọi các Tỷ-kheo.
—Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
—Thưa Hiền giả.
—Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahàcunda. Tôn giả Mahàcunda nói như sau:
TTC 2—Thưa các Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thuyết về trí nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này”. Nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não lại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục chinh phục vị ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được hiểu như sau: “ Tôn giả này không rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy tham chinh phục Tôn Giả ấy và tồn tại. Tôn giả này không rõ biết như thế nào để sân không có mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… ác dục không có mặt. Như vậy, các ác dục chinh phục Tôn giả này và tồn tại.”
TTC 3Thưa các Hiền giả, nếu Tỷ-kheo thuyết về tu tập nói rằng: “tôi được tu tập về thân, được tu tập về giới, được tu tập về tâm, được tu tập về tuệ”. Thưa chư Hiền, nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục chinh phục vị Tỷ-kheo ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được hiểu như sau: “Vị Tôn giả này không rõ biết như thế nào để tham không có mặt, vì rằng tham chinh phục vị ấy và tồn tại. Vị Tôn giả này không rõ biết như thế nào để sân không co mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt…các dục không có mặt. Như vậy, các ác dục chinh phục Tôn giả này và tồn tại.”
TTC 4Và này chư hiền, Tỷ-kheo thuyết về trí và thuyết về tu tập, nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này, tôi được tu tập về tâm, tôi được tu tập về giới, tôi được tu tập về tâm, tôi được tu tập về tuệ”. Này chư Hiền, nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ…. nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu ác dục chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, Tỷ-kheo ấy cần phải được hiểu như sau: “Vị Tôn giả này không cần rõ biết như thế nào để tham không có mặt… sân không có mặt… si không có mặt… Như vậy, ác dục chinh phục Tỷ-kheo này và tồn tại”.
TTC 5Ví như, này chư Hiền, có người nghèo khổ có thể nói về giàu sang; không có tài sản có thể nói về tài sản; không có sở hữu có thể nói về sở hữu, nhưng khi có cơ hội tạo ra tái sản, vị ấy không có thể tạo thành tài sản, lúa gạo, bạc hay vàng. Người ta có thể biết về người ấy như sau: “Vị này, tuy nghèo khổ, lại nói về giàu sang; vị này, tuy không có tài sản, lại nói về tài sản; vị này tuy không có sở hữu, lại nói về sở hữu. Vì cớ sao? Vì rằng vị này, khi có cơ hội tạo ra tài sản, vị ấy không có thể tạo thành tài sản, lúa gạo, bạc hay vàng”. Cũng vậy, này chư hiền, vị Tỷ-kheo thuyết về trí và thuyết về tu tập, nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này, tôi được tu tập về thân, tôi được tu tập về giới, tôi được tu tập về tâm, tôi được tu tập về tuệ”. Này chư hiền, nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại; nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, Tỷ-kheo ấy cần phải được hiểu như sau: “Vị này không rõ biết như thế nào để tham không có mặt… sân không có mặt… si không có mặt… Như vậy, ác dục chinh phục Tỷ-kheo này và tồn tại”.
TTC 6Này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết về trí nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này”. Này chư Hiền, nếu tham không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận…nếu gièm pha… nếu não hại… nếu san tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục không chinh phục vị ấy và tồn tại, thời vị ấy cần phải được biết như sau: “Vị này rõ biết như thế nào để tham không có mặt… Như vậy, tham không chinh phục vị ấy và tồn tại… sân không có mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt…não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… ác dục không có mặt. Như vậy, ác dục không chinh phục vị này và tồn tại”.
TTC 7Này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết về tu tập nói rằng: “Tôi có tu tập về thân, tôi có tu tập về giới, tôi có tu tập về tâm, tôi có tu tập về tuệ”. Này chư Hiền, nếu tham không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại… nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ.. nếu hiềm hận…. nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác đố… nếu ác dục không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được biết như sau: “Vị này rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy tham không chinh phục vị này và tồn tại… sân không có mặt… si không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… ác dục không có mặt… Như vậy, ác dục không chinh phục vị này và tồn tại”.
TTC 8Này chư hiền, Tỷ-kheo thuyết về trí và thuyết về tu tập, nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này. Tôi có tu tập về thân, tôi có tu tập về giới, tôi có tu tập về tâm, tôi có tu tập về tuệ. “Này chư Hiền, nếu tham không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại… nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, thời vị ấy cần phải được biết như sau: “Tôn giả này biết rõ như thế nào để được tham không có mặt. Như vậy tham không chinh phục vị ấy và tồn tại. Sân không có mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… ác dục không có mặt. Như vậy, ác dục không chinh phục vị Tôn giả này và không tồn tại.”
TTC 9Này chư Hiền, ví như một người giàu sang có thể nói về giàu sang; một người có tài sản có thể nói về tài sản; một người có sở hữu có thể nói về sở hữu. Khi có cơ hội tạo ra tài sản, vị ấy có thể tạo thành tài sản, lúa gạo, bạc hay vàng. Và người ta có thể biết về người ấy như sau: “Có giàu sang, vị này nói về giàu sang; có tài sản, vị này nói về tài sản; có của cải, vị này nói về của cải. Vì sao? Vì rằng vị này, khi có cơ hôi tạo ra tài sản, vị ấy có thể tạo thành tài sản, lúa gạo, bạc hay vàng”. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết về trí và thuyết về tu tập, nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này. Tôi có tu tập về thân, tôi có tu tập về giới, tôi có tu tập về tâm, tôi có tu tập về tuệ”. Này chư Hiền, nếu tham không chinh phục vị ấy và tồn tại… nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu tật đố… nếu ác dục không chinh phục vị ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được biết như sau: “Vị Tôn giả này rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy tham không chinh phục vị này và tồn tại. Vị Tôn giả này rõ biết như thế nào để sân không có mặt… si… phẫn nộ… hiềm hận… gièm pha… não hại… xan tham… ác tật đố… ác dục không có mặt. Như vậy ác dục không chinh phục vị Tôn giả này và tồn tại”.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahācundo cetīsu viharati sahajātiyaṁ.
Tatra kho āyasmā mahācundo bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahācundassa paccassosuṁ.
Āyasmā mahācundo etadavoca:
“Ñāṇavādaṁ, āvuso, bhikkhu vadamāno:
‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhamman’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati;
nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Bhāvanāvādaṁ, āvuso, bhikkhu vadamāno:
‘bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati;
nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Ñāṇavādañca, āvuso, bhikkhu vadamāno bhāvanāvādañca:
‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhammaṁ, bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati;
nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Seyyathāpi, āvuso, puriso daliddova samāno aḍḍhavādaṁ vadeyya, adhanova samāno dhanavāvādaṁ vadeyya, abhogova samāno bhogavāvādaṁ vadeyya.
So kismiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne na sakkuṇeyya upanīhātuṁ dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā.
Tamenaṁ evaṁ jāneyyuṁ:
‘daliddova ayamāyasmā samāno aḍḍhavādaṁ vadeti, adhanova ayamāyasmā samāno dhanavāvādaṁ vadeti, abhogavāva ayamāyasmā samāno bhogavāvādaṁ vadeti.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi ayamāyasmā kismiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne na sakkoti upanīhātuṁ dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā’ti.
Evamevaṁ kho, āvuso, ñāṇavādañca bhikkhu vadamāno bhāvanāvādañca:
‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhammaṁ, bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati;
nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Ñāṇavādaṁ, āvuso, bhikkhu vadamāno:
‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhamman’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘ayamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati;
tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Bhāvanāvādaṁ, āvuso, bhikkhu vadamāno:
‘bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati;
tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Ñāṇavādañca, āvuso, bhikkhu vadamāno bhāvanāvādañca:
‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhammaṁ, bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati;
tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Seyyathāpi, āvuso, puriso aḍḍhova samāno aḍḍhavādaṁ vadeyya, dhanavāva samāno dhanavāvādaṁ vadeyya, bhogavāva samāno bhogavāvādaṁ vadeyya.
So kismiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne sakkuṇeyya upanīhātuṁ dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā.
Tamenaṁ evaṁ jāneyyuṁ:
‘aḍḍhova ayamāyasmā samāno aḍḍhavādaṁ vadeti, dhanavāva ayamāyasmā samāno dhanavāvādaṁ vadeti, bhogavāva ayamāyasmā samāno bhogavāvādaṁ vadeti.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi ayamāyasmā kismiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne sakkoti upanīhātuṁ dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā’ti.
Evamevaṁ kho, āvuso, ñāṇavādañca bhikkhu vadamāno bhāvanāvādañca:
‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhammaṁ, bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati;
tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhatī’”ti.
Catutthaṁ.
SC 1On one occasion the Venerable Mahācunda was dwelling among the Cetis at Sahajāti. There the Venerable Mahācunda addressed the bhikkhus: “Friends, bhikkhus!”
SC 2“Friend!” those an.v.42 bhikkhus replied. The Venerable Mahācunda said this:
SC 3“Friends, making a declaration of knowledge, a bhikkhu says: ‘I know this Dhamma, I see this Dhamma.’ If, however, greed overcomes that bhikkhu and persists; if hatred … delusion … anger … hostility … denigration … insolence … miserliness … evil envy … evil desire overcomes that bhikkhu and persists, he should be understood thus: ‘This venerable one does not understand in such a way that he would have no greed; thus greed overcomes him and persists. This venerable one does not understand in such a way that he would have no hatred … no delusion … no anger … no hostility … no denigration … no insolence … no miserliness … no evil envy … no evil desire; thus evil desire overcomes him and persists.’
SC 4“Friends, making a declaration of development, a bhikkhu says: ‘I am developed in body, virtuous behavior, mind, and wisdom.’ If, however, greed overcomes that bhikkhu and persists; if hatred … evil desire overcomes that bhikkhu and persists, he should be understood thus: ‘This venerable one does not understand in such a way that he would have no greed; thus greed overcomes him and persists. This venerable one does not understand in such a way that he would have no hatred … no evil desire; thus evil desire overcomes him and persists.’
SC 5“Friends, making a declaration of knowledge and development, a bhikkhu says: ‘I know this Dhamma, I see this Dhamma. I am developed in body, virtuous behavior, mind, and wisdom.’ If, however, greed overcomes that bhikkhu and persists; if hatred … evil desire an.v.43 overcomes that bhikkhu and persists, he should be understood thus: ‘This venerable one does not understand in such a way that he would have no greed; thus greed overcomes him and persists. This venerable one does not understand in such a way that he would have no hatred … no evil desire; thus evil desire overcomes him and persists.’
SC 6“Suppose a poor, destitute, and needy person claims to be rich, affluent, and wealthy. If, when he wants to buy something, he cannot pay with money, grain, silver, or gold, they would know him as a poor, destitute, and needy person claiming to be rich, affluent, and wealthy. For what reason? Because when he wants to buy something, he cannot pay with money, grain, silver, or gold.
SC 7“So too, friends, making a declaration of knowledge and development, a bhikkhu says: ‘I know this Dhamma, I see this Dhamma. I am developed in body, virtuous behavior, mind, and wisdom.’ If, however, greed overcomes that bhikkhu and persists … evil desire overcomes that bhikkhu and persists, he should be understood thus: ‘This venerable one does not understand in such a way that he would have no greed; thus greed overcomes him and persists. This venerable one does not understand in such a way that he would have no hatred … an.v.44 … no evil desire; thus evil desire overcomes him and persists.’ “Friends, making a declaration of knowledge, a bhikkhu says: ‘I know this Dhamma, I see this Dhamma.’ If greed does not overcome that bhikkhu and persist; if hatred … delusion … anger … hostility … denigration … insolence … miserliness … evil envy … evil desire does not overcome that bhikkhu and persist, he should be understood thus: ‘This venerable one understands in such a way that he has no greed; thus greed does not overcome him and persist. This venerable one understands in such a way that he has no hatred … no evil desire; thus evil desire does not overcome him and persist.’
SC 8“Friends, making a declaration of development, a bhikkhu says: ‘I am developed in body, virtuous behavior, mind, and wisdom.’ If greed does not overcome that bhikkhu and persist; if hatred … evil desire does not overcome that bhikkhu and persist, he should be understood thus: ‘This venerable one understands in such a way that he has no greed; thus greed does not overcome him and persist. This venerable one understands in such a way that he has no hatred … no evil desire; thus evil desire does not overcome him and persist.’
SC 9“Friends, making a declaration of knowledge and development, a bhikkhu says: ‘I know this Dhamma, I see this Dhamma. I am developed in body, virtuous behavior, mind, and wisdom.’ If greed does not overcome that bhikkhu and persist; if hatred … evil desire does not overcome that bhikkhu and persist, he should be understood thus: ‘This venerable one understands in such a way that he has no greed; an.v.45 thus greed does not overcome him and persist. This venerable one understands in such a way that he has no hatred … no evil desire; thus evil desire does not overcome him and persist.’
SC 10“Suppose a rich, affluent, and wealthy person claims to be rich, affluent, and wealthy. If, when he wants to buy something, he can pay with money, grain, silver, or gold, they would know him as a rich, affluent, and wealthy person who claims to be rich, affluent, and wealthy. For what reason? Because when he wants to buy something, he can pay with money, grain, silver, or gold.
SC 11“So too, friends, making a declaration of knowledge and development, a bhikkhu says: ‘I know this Dhamma, I see this Dhamma. I am developed in body, virtuous behavior, mind, and wisdom.’ If greed does not overcome that bhikkhu and persist; if hatred … delusion … anger … hostility … denigration … insolence … miserliness … evil envy … evil desire does not overcome that bhikkhu and persist, he should be understood thus: ‘This venerable one understands in such a way that he has no greed; thus greed does not overcome him and persist. This venerable one understands in such a way that he has no hatred … no evil desire; thus evil desire does not overcome him and persist.’” an.v.46
TTC 1Một thời, Tôn giả Mahàcunda trú giữa dân chúng Cetì tại Sahajàti. Tại đấy, tôn giả Mahàcunda gọi các Tỷ-kheo.
—Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
—Thưa Hiền giả.
—Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahàcunda. Tôn giả Mahàcunda nói như sau:
TTC 2—Thưa các Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thuyết về trí nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này”. Nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não lại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục chinh phục vị ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được hiểu như sau: “ Tôn giả này không rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy tham chinh phục Tôn Giả ấy và tồn tại. Tôn giả này không rõ biết như thế nào để sân không có mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… ác dục không có mặt. Như vậy, các ác dục chinh phục Tôn giả này và tồn tại.”
TTC 3Thưa các Hiền giả, nếu Tỷ-kheo thuyết về tu tập nói rằng: “tôi được tu tập về thân, được tu tập về giới, được tu tập về tâm, được tu tập về tuệ”. Thưa chư Hiền, nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục chinh phục vị Tỷ-kheo ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được hiểu như sau: “Vị Tôn giả này không rõ biết như thế nào để tham không có mặt, vì rằng tham chinh phục vị ấy và tồn tại. Vị Tôn giả này không rõ biết như thế nào để sân không co mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt…các dục không có mặt. Như vậy, các ác dục chinh phục Tôn giả này và tồn tại.”
TTC 4Và này chư hiền, Tỷ-kheo thuyết về trí và thuyết về tu tập, nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này, tôi được tu tập về tâm, tôi được tu tập về giới, tôi được tu tập về tâm, tôi được tu tập về tuệ”. Này chư Hiền, nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ…. nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu ác dục chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, Tỷ-kheo ấy cần phải được hiểu như sau: “Vị Tôn giả này không cần rõ biết như thế nào để tham không có mặt… sân không có mặt… si không có mặt… Như vậy, ác dục chinh phục Tỷ-kheo này và tồn tại”.
TTC 5Ví như, này chư Hiền, có người nghèo khổ có thể nói về giàu sang; không có tài sản có thể nói về tài sản; không có sở hữu có thể nói về sở hữu, nhưng khi có cơ hội tạo ra tái sản, vị ấy không có thể tạo thành tài sản, lúa gạo, bạc hay vàng. Người ta có thể biết về người ấy như sau: “Vị này, tuy nghèo khổ, lại nói về giàu sang; vị này, tuy không có tài sản, lại nói về tài sản; vị này tuy không có sở hữu, lại nói về sở hữu. Vì cớ sao? Vì rằng vị này, khi có cơ hội tạo ra tài sản, vị ấy không có thể tạo thành tài sản, lúa gạo, bạc hay vàng”. Cũng vậy, này chư hiền, vị Tỷ-kheo thuyết về trí và thuyết về tu tập, nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này, tôi được tu tập về thân, tôi được tu tập về giới, tôi được tu tập về tâm, tôi được tu tập về tuệ”. Này chư hiền, nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại; nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, Tỷ-kheo ấy cần phải được hiểu như sau: “Vị này không rõ biết như thế nào để tham không có mặt… sân không có mặt… si không có mặt… Như vậy, ác dục chinh phục Tỷ-kheo này và tồn tại”.
TTC 6Này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết về trí nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này”. Này chư Hiền, nếu tham không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận…nếu gièm pha… nếu não hại… nếu san tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục không chinh phục vị ấy và tồn tại, thời vị ấy cần phải được biết như sau: “Vị này rõ biết như thế nào để tham không có mặt… Như vậy, tham không chinh phục vị ấy và tồn tại… sân không có mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt…não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… ác dục không có mặt. Như vậy, ác dục không chinh phục vị này và tồn tại”.
TTC 7Này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết về tu tập nói rằng: “Tôi có tu tập về thân, tôi có tu tập về giới, tôi có tu tập về tâm, tôi có tu tập về tuệ”. Này chư Hiền, nếu tham không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại… nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ.. nếu hiềm hận…. nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác đố… nếu ác dục không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được biết như sau: “Vị này rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy tham không chinh phục vị này và tồn tại… sân không có mặt… si không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… ác dục không có mặt… Như vậy, ác dục không chinh phục vị này và tồn tại”.
TTC 8Này chư hiền, Tỷ-kheo thuyết về trí và thuyết về tu tập, nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này. Tôi có tu tập về thân, tôi có tu tập về giới, tôi có tu tập về tâm, tôi có tu tập về tuệ. “Này chư Hiền, nếu tham không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại… nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, thời vị ấy cần phải được biết như sau: “Tôn giả này biết rõ như thế nào để được tham không có mặt. Như vậy tham không chinh phục vị ấy và tồn tại. Sân không có mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… ác dục không có mặt. Như vậy, ác dục không chinh phục vị Tôn giả này và không tồn tại.”
TTC 9Này chư Hiền, ví như một người giàu sang có thể nói về giàu sang; một người có tài sản có thể nói về tài sản; một người có sở hữu có thể nói về sở hữu. Khi có cơ hội tạo ra tài sản, vị ấy có thể tạo thành tài sản, lúa gạo, bạc hay vàng. Và người ta có thể biết về người ấy như sau: “Có giàu sang, vị này nói về giàu sang; có tài sản, vị này nói về tài sản; có của cải, vị này nói về của cải. Vì sao? Vì rằng vị này, khi có cơ hôi tạo ra tài sản, vị ấy có thể tạo thành tài sản, lúa gạo, bạc hay vàng”. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết về trí và thuyết về tu tập, nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này. Tôi có tu tập về thân, tôi có tu tập về giới, tôi có tu tập về tâm, tôi có tu tập về tuệ”. Này chư Hiền, nếu tham không chinh phục vị ấy và tồn tại… nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu tật đố… nếu ác dục không chinh phục vị ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được biết như sau: “Vị Tôn giả này rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy tham không chinh phục vị này và tồn tại. Vị Tôn giả này rõ biết như thế nào để sân không có mặt… si… phẫn nộ… hiềm hận… gièm pha… não hại… xan tham… ác tật đố… ác dục không có mặt. Như vậy ác dục không chinh phục vị Tôn giả này và tồn tại”.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahācundo cetīsu viharati sahajātiyaṁ.
Tatra kho āyasmā mahācundo bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahācundassa paccassosuṁ.
Āyasmā mahācundo etadavoca:
“Ñāṇavādaṁ, āvuso, bhikkhu vadamāno:
‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhamman’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati;
nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Bhāvanāvādaṁ, āvuso, bhikkhu vadamāno:
‘bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati;
nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Ñāṇavādañca, āvuso, bhikkhu vadamāno bhāvanāvādañca:
‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhammaṁ, bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati;
nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Seyyathāpi, āvuso, puriso daliddova samāno aḍḍhavādaṁ vadeyya, adhanova samāno dhanavāvādaṁ vadeyya, abhogova samāno bhogavāvādaṁ vadeyya.
So kismiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne na sakkuṇeyya upanīhātuṁ dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā.
Tamenaṁ evaṁ jāneyyuṁ:
‘daliddova ayamāyasmā samāno aḍḍhavādaṁ vadeti, adhanova ayamāyasmā samāno dhanavāvādaṁ vadeti, abhogavāva ayamāyasmā samāno bhogavāvādaṁ vadeti.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi ayamāyasmā kismiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne na sakkoti upanīhātuṁ dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā’ti.
Evamevaṁ kho, āvuso, ñāṇavādañca bhikkhu vadamāno bhāvanāvādañca:
‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhammaṁ, bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati;
nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Ñāṇavādaṁ, āvuso, bhikkhu vadamāno:
‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhamman’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘ayamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati;
tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Bhāvanāvādaṁ, āvuso, bhikkhu vadamāno:
‘bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati;
tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Ñāṇavādañca, āvuso, bhikkhu vadamāno bhāvanāvādañca:
‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhammaṁ, bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati;
tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
Seyyathāpi, āvuso, puriso aḍḍhova samāno aḍḍhavādaṁ vadeyya, dhanavāva samāno dhanavāvādaṁ vadeyya, bhogavāva samāno bhogavāvādaṁ vadeyya.
So kismiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne sakkuṇeyya upanīhātuṁ dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā.
Tamenaṁ evaṁ jāneyyuṁ:
‘aḍḍhova ayamāyasmā samāno aḍḍhavādaṁ vadeti, dhanavāva ayamāyasmā samāno dhanavāvādaṁ vadeti, bhogavāva ayamāyasmā samāno bhogavāvādaṁ vadeti.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi ayamāyasmā kismiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne sakkoti upanīhātuṁ dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā’ti.
Evamevaṁ kho, āvuso, ñāṇavādañca bhikkhu vadamāno bhāvanāvādañca:
‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhammaṁ, bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti.
Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo:
‘tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati;
tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhatī’”ti.
Catutthaṁ.