TTC 1—Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người săn sóc bệnh không đủ khả năng để săn sóc người bệnh. Thế nào là năm?
TTC 2Không có năng lực pha thuốc; không biết cái gì thích đáng, cái gì không thích đáng; đưa cái gì không thích đáng, không đưa cái gì thích đáng, vì muốn lợi ích vật chất, săn sóc người bệnh, không phải vì lòng từ, cảm thấy ghê tởm khi phải dọn phân, nước tiểu, đồ mửa ra, hay đờm; không có năng lực thỉnh thoảng với pháp thoại trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ người bệnh.
Thành tựu năm pháp này, một người săn sóc bệnh không đủ khả năng để săn sóc người bệnh.
TTC 3Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người săn sóc bệnh có đủ khả năng để săn sóc người bệnh. Thế nào là năm?
TTC 4Có năng lực pha thuốc; biết cái gì thích đáng, cái gì không thích đáng; đưa cái gì thích đáng, không đưa cái gì không thích đáng, vì lòng từ săn sóc người bệnh, không vì lợi ích vật chất, không cảm thấy ghê tởm khi phải dọn phân, nước tiểu, đồ mửa ra, hay đờm; có năng lực thỉnh thoảng với pháp thoại trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ người bệnh.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người săn sóc bệnh có đủ khả năng để săn sóc người bệnh.
“Pañcahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato gilānupaṭṭhāko nālaṁ gilānaṁ upaṭṭhātuṁ.
Katamehi pañcahi?
Nappaṭibalo hoti bhesajjaṁ saṁvidhātuṁ;
sappāyāsappāyaṁ na jānāti, asappāyaṁ upanāmeti, sappāyaṁ apanāmeti;
āmisantaro gilānaṁ upaṭṭhāti, no mettacitto;
jegucchī hoti uccāraṁ vā passāvaṁ vā vantaṁ vā kheḷaṁ vā nīharituṁ;
nappaṭibalo hoti gilānaṁ kālena kālaṁ dhammiyā kathāya sandassetuṁ samādapetuṁ samuttejetuṁ sampahaṁsetuṁ.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato gilānupaṭṭhāko nālaṁ gilānaṁ upaṭṭhātuṁ.
Pañcahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato gilānupaṭṭhāko alaṁ gilānaṁ upaṭṭhātuṁ.
Katamehi pañcahi?
Paṭibalo hoti bhesajjaṁ saṁvidhātuṁ;
sappāyāsappāyaṁ jānāti, asappāyaṁ apanāmeti, sappāyaṁ upanāmeti;
mettacitto gilānaṁ upaṭṭhāti, no āmisantaro;
ajegucchī hoti uccāraṁ vā passāvaṁ vā vantaṁ vā kheḷaṁ vā nīharituṁ;
paṭibalo hoti gilānaṁ kālena kālaṁ dhammiyā kathāya sandassetuṁ samādapetuṁ samuttejetuṁ sampahaṁsetuṁ.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato gilānupaṭṭhāko alaṁ gilānaṁ upaṭṭhātun”ti.
Catutthaṁ.
“Mendicants, a carer with five qualities is not competent to care for a patient.
What five?
They’re unable to prepare medicine.
They don’t know what is suitable and unsuitable, so they supply what is unsuitable and remove what is suitable.
They care for the sick for the sake of material benefits, not out of love.
They’re disgusted to remove feces, urine, vomit, or spit.
They’re unable to educate, encourage, fire up, and inspire the patient with a Dhamma talk from time to time.
A carer with these five qualities is not competent to care for a patient.
A carer with five qualities is competent to care for a patient.
What five?
They’re able to prepare medicine.
They know what is suitable and unsuitable, so they remove what is unsuitable and supply what is suitable.
They care for the sick out of love, not for the sake of material benefits.
They’re not disgusted to remove feces, urine, vomit, or spit.
They’re able to educate, encourage, fire up, and inspire the patient with a Dhamma talk from time to time.
A carer with these five qualities is competent to care for a patient.”
TTC 1—Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người săn sóc bệnh không đủ khả năng để săn sóc người bệnh. Thế nào là năm?
TTC 2Không có năng lực pha thuốc; không biết cái gì thích đáng, cái gì không thích đáng; đưa cái gì không thích đáng, không đưa cái gì thích đáng, vì muốn lợi ích vật chất, săn sóc người bệnh, không phải vì lòng từ, cảm thấy ghê tởm khi phải dọn phân, nước tiểu, đồ mửa ra, hay đờm; không có năng lực thỉnh thoảng với pháp thoại trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ người bệnh.
Thành tựu năm pháp này, một người săn sóc bệnh không đủ khả năng để săn sóc người bệnh.
TTC 3Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người săn sóc bệnh có đủ khả năng để săn sóc người bệnh. Thế nào là năm?
TTC 4Có năng lực pha thuốc; biết cái gì thích đáng, cái gì không thích đáng; đưa cái gì thích đáng, không đưa cái gì không thích đáng, vì lòng từ săn sóc người bệnh, không vì lợi ích vật chất, không cảm thấy ghê tởm khi phải dọn phân, nước tiểu, đồ mửa ra, hay đờm; có năng lực thỉnh thoảng với pháp thoại trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ người bệnh.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người săn sóc bệnh có đủ khả năng để săn sóc người bệnh.
“Pañcahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato gilānupaṭṭhāko nālaṁ gilānaṁ upaṭṭhātuṁ.
Katamehi pañcahi?
Nappaṭibalo hoti bhesajjaṁ saṁvidhātuṁ;
sappāyāsappāyaṁ na jānāti, asappāyaṁ upanāmeti, sappāyaṁ apanāmeti;
āmisantaro gilānaṁ upaṭṭhāti, no mettacitto;
jegucchī hoti uccāraṁ vā passāvaṁ vā vantaṁ vā kheḷaṁ vā nīharituṁ;
nappaṭibalo hoti gilānaṁ kālena kālaṁ dhammiyā kathāya sandassetuṁ samādapetuṁ samuttejetuṁ sampahaṁsetuṁ.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato gilānupaṭṭhāko nālaṁ gilānaṁ upaṭṭhātuṁ.
Pañcahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato gilānupaṭṭhāko alaṁ gilānaṁ upaṭṭhātuṁ.
Katamehi pañcahi?
Paṭibalo hoti bhesajjaṁ saṁvidhātuṁ;
sappāyāsappāyaṁ jānāti, asappāyaṁ apanāmeti, sappāyaṁ upanāmeti;
mettacitto gilānaṁ upaṭṭhāti, no āmisantaro;
ajegucchī hoti uccāraṁ vā passāvaṁ vā vantaṁ vā kheḷaṁ vā nīharituṁ;
paṭibalo hoti gilānaṁ kālena kālaṁ dhammiyā kathāya sandassetuṁ samādapetuṁ samuttejetuṁ sampahaṁsetuṁ.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato gilānupaṭṭhāko alaṁ gilānaṁ upaṭṭhātun”ti.
Catutthaṁ.