TTC 1Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Con được nghe trước mặt Thế Tôn, con được nắm giữ trước mặt Thế Tôn: “Abhibhù, đệ tử Ðức Phật Sikhi, đứng ở Phạm Thiên Giới, có thể làm cho ngàn thế giới nghe tiếng của mình”. Nhưng bạch Thế Tôn, Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có thể làm cho nghe tiếng xa như thế nào?
—Vị ấy chỉ là một đệ tử, này Ananda. Các Như Lai là vô lượng.
Lần thứ hai, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Con được nghe trước mặt Thế Tôn, … có thể làm cho nghe tiếng xa như thế nào?
—Vị ấy chỉ là một đệ tử, này Ananda. Các Như Lai là vô lượng.
TTC 2Lần thứ ba, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Con được nghe trước mặt Thế Tôn, … có thể làm cho nghe tiếng xa như thế nào?
—Này Ananda, Thầy có được nghe nói đến tiểu thiên thế giới không?
—Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn! Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn Thiện Thệ, để Thế Tôn nói về vấn đề này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này Ananda, hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
TTC 3—Xa cho đến mặt trăng, mặt trời chạy trong quỹ đạo của chúng và chói sáng khắp bốn phương với ánh sáng của chúng, xa như vậy là một ngàn thế giới. Trong ấy có một ngàn mặt trăng, một ngàn mặt trời, một ngàn núi Sineru (Tu-di), một ngàn Jambudìta (Diêm-phù-đề), một ngàn Aparagoyànà (Tây ngưu hóa châu), một ngàn Uttarakurù (Bắc-cu-vô châu), một ngàn Pubbavidehà (Ðông thắng thần châu), bốn ngàn biển lớn, bốn ngàn đại vương, 1000 cõi trời Bốn thiên vương, 1000 cõi trời ba mươi ba, 1000 Dạ-ma thiên, 1000 Tusità (Ðâu-suất thiên), 1000 Hóa Lạc thiên, 1000 Tha Hóa Tự tại thiên, 1000 Phạm Thiên. Này Ananda, đây gọi là một tiểu thiên thế giới. Này Ananda, cho đến 1000 lần một tiểu thiên thế giới, được gọi là, này Ananda, ba Ðại thiên thế giới. Này Ananda, Như Lai có thể làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn.
TTC 4—Làm sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn?
—Ở đây, này Ananda, Như Lai chiếu ánh sáng cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới, cho đến khi các chúng sanh nhận thức được ánh sáng ấy. Rồi Thế Tôn phát âm và làm cho tiếng mình được nghe. Như vậy, này Ananda, Như Lai làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn.
TTC 5Khi được nói như vậy, Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Udàyi:
—Ðược lợi thay cho tôi, khéo được lợi thay cho tôi, có được bậc Ðạo sư có thần lực như vậy, có uy lực như vậy!
Khi được nghe nói như vậy, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Ananda:
—Này Hiền giả Ananda, ở đây Hiền giả nghĩ có được gì, nếu bậc Ðạo sư của Hiền giả có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy?
Khi được nghe nói như vậy, Thế Tôn nói với Tôn giả Udàyi:
—Chớ có nói như vậy, này Udàyi; chớ nói vậy, này Udàyi. Này Udàyi, nếu Ananda chưa có đoạn tận tham và mệnh chung, nhưng với tâm tịnh tín của mình, vị ấy có thể bảy lần ngự trị trên thế giới chư Thiên, có thể bảy lần ngự trị trên cõi Jambudìpa này. Nhưng này Udàyi, Ananda ngay trong hiện tại sẽ được Bát-Niết-bàn.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘bhagavato, ānanda, sikhissa abhibhū nāma sāvako brahmaloke ṭhito sahassilokadhātuṁ sarena viññāpesī’ti.
Bhagavā pana, bhante, arahaṁ sammāsambuddho kīvatakaṁ pahoti sarena viññāpetun”ti?
“Sāvako so, ānanda, appameyyā tathāgatā”ti.
Dutiyampi kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘bhagavato, ānanda, sikhissa abhibhū nāma sāvako brahmaloke ṭhito sahassilokadhātuṁ sarena viññāpesī’ti.
Bhagavā pana, bhante, arahaṁ sammāsambuddho kīvatakaṁ pahoti sarena viññāpetun”ti?
“Sāvako so, ānanda, appameyyā tathāgatā”ti.
Tatiyampi kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘bhagavato, ānanda, sikhissa abhibhū nāma sāvako brahmaloke ṭhito sahassilokadhātuṁ sarena viññāpesī’ti.
Bhagavā pana, bhante, arahaṁ sammāsambuddho kīvatakaṁ pahoti sarena viññāpetun”ti?
“Sutā te, ānanda, sahassī cūḷanikā lokadhātū”ti?
“Etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo,
yaṁ bhagavā bhāseyya. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tenahānanda, suṇāhi sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Yāvatā, ānanda, candimasūriyā pariharanti, disā bhanti virocanā, tāva sahassadhā loko.
Tasmiṁ sahassadhā loke sahassaṁ candānaṁ, sahassaṁ sūriyānaṁ, sahassaṁ sinerupabbatarājānaṁ, sahassaṁ jambudīpānaṁ, sahassaṁ aparagoyānānaṁ, sahassaṁ uttarakurūnaṁ, sahassaṁ pubbavidehānaṁ, cattāri mahāsamuddasahassāni, cattāri mahārājasahassāni, sahassaṁ cātumahārājikānaṁ, sahassaṁ tāvatiṁsānaṁ, sahassaṁ yāmānaṁ, sahassaṁ tusitānaṁ, sahassaṁ nimmānaratīnaṁ, sahassaṁ paranimmitavasavattīnaṁ, sahassaṁ brahmalokānaṁ—
ayaṁ vuccatānanda, sahassī cūḷanikā lokadhātu.
Yāvatānanda, sahassī cūḷanikā lokadhātu tāva sahassadhā loko.
Ayaṁ vuccatānanda, dvisahassī majjhimikā lokadhātu.
Yāvatānanda, dvisahassī majjhimikā lokadhātu tāva sahassadhā loko.
Ayaṁ vuccatānanda, tisahassī mahāsahassī lokadhātu.
Ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato tisahassimahāsahassilokadhātuṁ sarena viññāpeyya, yāvatā pana ākaṅkheyyā”ti.
“Yathā kathaṁ pana, bhante, bhagavā tisahassimahāsahassilokadhātuṁ sarena viññāpeyya, yāvatā pana ākaṅkheyyā”ti?
“Idhānanda, tathāgato tisahassimahāsahassilokadhātuṁ obhāsena phareyya.
Yadā te sattā taṁ ālokaṁ sañjāneyyuṁ, atha tathāgato ghosaṁ kareyya saddamanussāveyya.
Evaṁ kho, ānanda, tathāgato tisahassimahāsahassilokadhātuṁ sarena viññāpeyya, yāvatā pana ākaṅkheyyā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me satthā evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā udāyī āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“kiṁ tuyhettha, āvuso ānanda, yadi te satthā evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo”ti?
Evaṁ vutte, bhagavā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“mā hevaṁ, udāyi, mā hevaṁ, udāyi.
Sace, udāyi, ānando avītarāgo kālaṁ kareyya, tena cittappasādena sattakkhattuṁ devesu devarajjaṁ kāreyya, sattakkhattuṁ imasmiṁyeva jambudīpe mahārajjaṁ kāreyya.
Api ca, udāyi, ānando diṭṭheva dhamme parinibbāyissatī”ti.
Dasamaṁ.
Ānandavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Channo ājīvako sakko,
nigaṇṭho ca nivesako;
Duve bhavā sīlabbataṁ,
gandhajātañca cūḷanīti.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, I have heard and learned this in the presence of the Buddha:
‘Ānanda, the Buddha Sikhī had a disciple called Abhibhū. Standing in the realm of divinity, he could make his voice heard throughout the thousandfold galaxy.’
I wonder how far a Blessed One, a perfected one, a fully awakened Buddha can make their voice heard?”
“He was a disciple, Ānanda. Realized Ones are immeasurable.”
For a second time …
For a third time, Ānanda said to the Buddha:
“… I wonder how far a Blessed One, a perfected one, a fully awakened Buddha can make their voice heard?”
“Ānanda, have you heard of a thousandfold lesser world system, a galaxy?”
“Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One!
Let the Buddha speak. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, Ānanda, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” Ānanda replied.
The Buddha said this:
“Ānanda, a galaxy extends a thousand times as far as the moon and sun revolve and the shining ones light up the quarters.
In that galaxy there are a thousand moons, a thousand suns, a thousand Sinerus king of mountains, a thousand Black Plum Tree Lands, a thousand lands west of Godāvarī, a thousand lands north of Kuru, a thousand lands east of Videha, four thousand oceans, four thousand great kings, a thousand realms of the gods of the four great kings, a thousand realms of the gods of the thirty-three, of the gods of Yama, of the joyful gods, of the gods who love to create, of the gods who control what is created by others, and a thousand realms of divinity.
This is called a thousandfold lesser world system, a ‘galaxy’.
A world system that extends for a thousand galaxies
is called a millionfold middling world system, a ‘galactic cluster’.
A world system that extends for a thousand galactic clusters
is called a billionfold great world system, a ‘galactic supercluster’.
If he wished, Ānanda, a Realized One could make his voice heard throughout a galactic supercluster, or as far as he wants.”
“But how would the Buddha make his voice heard so far?”
“First, Ānanda, a Realized One would fill the galactic supercluster with light.
When sentient beings saw the light, the Realized One would project his call so that they’d hear the sound.
That’s how a Realized One could make his voice heard throughout a galactic supercluster, or as far as he wants.”
When he said this, Venerable Ānanda said,
“I’m so fortunate, so very fortunate,
to have a teacher with such power and might!”
When he said this, Venerable Udāyī said to Venerable Ānanda,
“What is it to you, Reverend Ānanda, if your teacher has such power and might?”
When he said this, the Buddha said to Venerable Udāyī,
“Not so, Udāyī, not so!
If Ānanda were to die while still not free of greed, he would rule as king of the gods for seven lifetimes, or as king of the Black Plum Tree Land for seven lifetimes, because of the confidence of his heart.
However, Ānanda will be fully extinguished in this very life.”
TTC 1Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Con được nghe trước mặt Thế Tôn, con được nắm giữ trước mặt Thế Tôn: “Abhibhù, đệ tử Ðức Phật Sikhi, đứng ở Phạm Thiên Giới, có thể làm cho ngàn thế giới nghe tiếng của mình”. Nhưng bạch Thế Tôn, Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có thể làm cho nghe tiếng xa như thế nào?
—Vị ấy chỉ là một đệ tử, này Ananda. Các Như Lai là vô lượng.
Lần thứ hai, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Con được nghe trước mặt Thế Tôn, … có thể làm cho nghe tiếng xa như thế nào?
—Vị ấy chỉ là một đệ tử, này Ananda. Các Như Lai là vô lượng.
TTC 2Lần thứ ba, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Con được nghe trước mặt Thế Tôn, … có thể làm cho nghe tiếng xa như thế nào?
—Này Ananda, Thầy có được nghe nói đến tiểu thiên thế giới không?
—Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn! Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn Thiện Thệ, để Thế Tôn nói về vấn đề này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này Ananda, hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
TTC 3—Xa cho đến mặt trăng, mặt trời chạy trong quỹ đạo của chúng và chói sáng khắp bốn phương với ánh sáng của chúng, xa như vậy là một ngàn thế giới. Trong ấy có một ngàn mặt trăng, một ngàn mặt trời, một ngàn núi Sineru (Tu-di), một ngàn Jambudìta (Diêm-phù-đề), một ngàn Aparagoyànà (Tây ngưu hóa châu), một ngàn Uttarakurù (Bắc-cu-vô châu), một ngàn Pubbavidehà (Ðông thắng thần châu), bốn ngàn biển lớn, bốn ngàn đại vương, 1000 cõi trời Bốn thiên vương, 1000 cõi trời ba mươi ba, 1000 Dạ-ma thiên, 1000 Tusità (Ðâu-suất thiên), 1000 Hóa Lạc thiên, 1000 Tha Hóa Tự tại thiên, 1000 Phạm Thiên. Này Ananda, đây gọi là một tiểu thiên thế giới. Này Ananda, cho đến 1000 lần một tiểu thiên thế giới, được gọi là, này Ananda, ba Ðại thiên thế giới. Này Ananda, Như Lai có thể làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn.
TTC 4—Làm sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn?
—Ở đây, này Ananda, Như Lai chiếu ánh sáng cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới, cho đến khi các chúng sanh nhận thức được ánh sáng ấy. Rồi Thế Tôn phát âm và làm cho tiếng mình được nghe. Như vậy, này Ananda, Như Lai làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn.
TTC 5Khi được nói như vậy, Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Udàyi:
—Ðược lợi thay cho tôi, khéo được lợi thay cho tôi, có được bậc Ðạo sư có thần lực như vậy, có uy lực như vậy!
Khi được nghe nói như vậy, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Ananda:
—Này Hiền giả Ananda, ở đây Hiền giả nghĩ có được gì, nếu bậc Ðạo sư của Hiền giả có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy?
Khi được nghe nói như vậy, Thế Tôn nói với Tôn giả Udàyi:
—Chớ có nói như vậy, này Udàyi; chớ nói vậy, này Udàyi. Này Udàyi, nếu Ananda chưa có đoạn tận tham và mệnh chung, nhưng với tâm tịnh tín của mình, vị ấy có thể bảy lần ngự trị trên thế giới chư Thiên, có thể bảy lần ngự trị trên cõi Jambudìpa này. Nhưng này Udàyi, Ananda ngay trong hiện tại sẽ được Bát-Niết-bàn.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘bhagavato, ānanda, sikhissa abhibhū nāma sāvako brahmaloke ṭhito sahassilokadhātuṁ sarena viññāpesī’ti.
Bhagavā pana, bhante, arahaṁ sammāsambuddho kīvatakaṁ pahoti sarena viññāpetun”ti?
“Sāvako so, ānanda, appameyyā tathāgatā”ti.
Dutiyampi kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘bhagavato, ānanda, sikhissa abhibhū nāma sāvako brahmaloke ṭhito sahassilokadhātuṁ sarena viññāpesī’ti.
Bhagavā pana, bhante, arahaṁ sammāsambuddho kīvatakaṁ pahoti sarena viññāpetun”ti?
“Sāvako so, ānanda, appameyyā tathāgatā”ti.
Tatiyampi kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘bhagavato, ānanda, sikhissa abhibhū nāma sāvako brahmaloke ṭhito sahassilokadhātuṁ sarena viññāpesī’ti.
Bhagavā pana, bhante, arahaṁ sammāsambuddho kīvatakaṁ pahoti sarena viññāpetun”ti?
“Sutā te, ānanda, sahassī cūḷanikā lokadhātū”ti?
“Etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo,
yaṁ bhagavā bhāseyya. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tenahānanda, suṇāhi sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Yāvatā, ānanda, candimasūriyā pariharanti, disā bhanti virocanā, tāva sahassadhā loko.
Tasmiṁ sahassadhā loke sahassaṁ candānaṁ, sahassaṁ sūriyānaṁ, sahassaṁ sinerupabbatarājānaṁ, sahassaṁ jambudīpānaṁ, sahassaṁ aparagoyānānaṁ, sahassaṁ uttarakurūnaṁ, sahassaṁ pubbavidehānaṁ, cattāri mahāsamuddasahassāni, cattāri mahārājasahassāni, sahassaṁ cātumahārājikānaṁ, sahassaṁ tāvatiṁsānaṁ, sahassaṁ yāmānaṁ, sahassaṁ tusitānaṁ, sahassaṁ nimmānaratīnaṁ, sahassaṁ paranimmitavasavattīnaṁ, sahassaṁ brahmalokānaṁ—
ayaṁ vuccatānanda, sahassī cūḷanikā lokadhātu.
Yāvatānanda, sahassī cūḷanikā lokadhātu tāva sahassadhā loko.
Ayaṁ vuccatānanda, dvisahassī majjhimikā lokadhātu.
Yāvatānanda, dvisahassī majjhimikā lokadhātu tāva sahassadhā loko.
Ayaṁ vuccatānanda, tisahassī mahāsahassī lokadhātu.
Ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato tisahassimahāsahassilokadhātuṁ sarena viññāpeyya, yāvatā pana ākaṅkheyyā”ti.
“Yathā kathaṁ pana, bhante, bhagavā tisahassimahāsahassilokadhātuṁ sarena viññāpeyya, yāvatā pana ākaṅkheyyā”ti?
“Idhānanda, tathāgato tisahassimahāsahassilokadhātuṁ obhāsena phareyya.
Yadā te sattā taṁ ālokaṁ sañjāneyyuṁ, atha tathāgato ghosaṁ kareyya saddamanussāveyya.
Evaṁ kho, ānanda, tathāgato tisahassimahāsahassilokadhātuṁ sarena viññāpeyya, yāvatā pana ākaṅkheyyā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me satthā evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā udāyī āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“kiṁ tuyhettha, āvuso ānanda, yadi te satthā evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo”ti?
Evaṁ vutte, bhagavā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“mā hevaṁ, udāyi, mā hevaṁ, udāyi.
Sace, udāyi, ānando avītarāgo kālaṁ kareyya, tena cittappasādena sattakkhattuṁ devesu devarajjaṁ kāreyya, sattakkhattuṁ imasmiṁyeva jambudīpe mahārajjaṁ kāreyya.
Api ca, udāyi, ānando diṭṭheva dhamme parinibbāyissatī”ti.
Dasamaṁ.
Ānandavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Channo ājīvako sakko,
nigaṇṭho ca nivesako;
Duve bhavā sīlabbataṁ,
gandhajātañca cūḷanīti.