TTC 1—Này các Tỷ-kheo, các pháp do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập, có bốn lợi ích được chờ đợi. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập. Vị ấy khi mạng chung bị thất niệm, được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân. Tại đấy, các vị sống an lạc đọc các pháp cú cho vị ấy. Này các Tỷ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Này các Tỷ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ nhất được chờ đợi.
TTC 2Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập. Vị ấy khi mạng chung bị thất niệm, được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân. Tại đấy, các vị sống an lạc không đọc các pháp cú cho vị ấy. Nhưng có Tỷ-kheo có thần thông, đã đạt được tâm tự tại, thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Vị ấy sung sướng nghĩ như sau: “Ðây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Này các Tỷ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thiện xảo về tiếng trống. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng trống. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng trống hay không phải là tiếng trống. Người ấy đi đến kết luận: “Ðây là tiếng trống”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai … chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Này các Tỷ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập, đây là lợi ích thứ hai được chờ đợi.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và một Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ðây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thiện xảo về tiếng tù và. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng tù và. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng tù và hay không phải là tiếng tù và. Người ấy đi đến kết luận: “Ðây là tiếng tù và”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và một Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ðây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Này các Tỷ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Này các Tỷ-kheo, do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ ba được chờ đợi.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và không có Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư thiên. Nhưng có thể có người được hóa sanh, nhắc nhở khiến cho nhớ lại sự hóa sanh: “Này bạn, bạn có nhớ không? Này bạn, bạn có nhớ không, tại chỗ ấy chúng ta đã sống Phạm hạnh?”. Vị ấy trả lời: “Này bạn, tôi nhớ! Này bạn, tôi nhớ”. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, hai người bạn cùng chơi trò chơi đất bùn, hai người vào một thời nào, một chỗ nào được gặp nhau. Người bạn này có thể nói với người bạn kia: “Này bạn, bạn có nhớ cái này không? Này bạn, bạn có nhớ cái này không?”. Người ấy có thể trả lời: “Này bạn, tôi có nhớ! Này bạn, tôi có nhớ!”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, do được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và không có Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư thiên. Nhưng có thể có người được hóa sanh, nhắc nhở cho nhớ lại sự hoá sanh : ''Này bạn, bạn có nhớ không? Này bạn, bạn có nhớ không, tại chỗ ấy chúng ta đã sống Phạm hạnh?”. Vị ấy trả lời: “Này bạn, tôi nhớ! Này bạn, tôi nhớ”. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Này các Tỷ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ tư được chờ đợi.
Này các Tỷ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; có bốn lợi ích này được chờ đợi.
“Sotānugatānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ, vacasā paricitānaṁ, manasānupekkhitānaṁ, diṭṭhiyā suppaṭividdhānaṁ cattāro ānisaṁsā pāṭikaṅkhā.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha sukhino dhammapadā plavanti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha so satto khippaṁyeva visesagāmī hoti.
Sotānugatānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ, vacasā paricitānaṁ, manasānupekkhitānaṁ, diṭṭhiyā suppaṭividdhānaṁ ayaṁ paṭhamo ānisaṁso pāṭikaṅkho.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha na heva kho sukhino dhammapadā plavanti;
api ca kho bhikkhu iddhimā cetovasippatto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti.
Tassa evaṁ hoti:
‘ayaṁ vā so dhammavinayo, yatthāhaṁ pubbe brahmacariyaṁ acarin’ti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha so satto khippameva visesagāmī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso kusalo bherisaddassa.
So addhānamaggappaṭipanno bherisaddaṁ suṇeyya.
Tassa na heva kho assa kaṅkhā vā vimati vā:
‘bherisaddo nu kho, na nu kho bherisaddo’ti.
Atha kho bherisaddotveva niṭṭhaṁ gaccheyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha na heva kho sukhino dhammapadā plavanti;
api ca kho bhikkhu iddhimā cetovasippatto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti.
Tassa evaṁ hoti:
‘ayaṁ vā so dhammavinayo, yatthāhaṁ pubbe brahmacariyaṁ acarin’ti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha so satto khippaṁyeva visesagāmī hoti.
Sotānugatānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ, vacasā paricitānaṁ, manasānupekkhitānaṁ, diṭṭhiyā suppaṭividdhānaṁ ayaṁ dutiyo ānisaṁso pāṭikaṅkho.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha na heva kho sukhino dhammapadā plavanti, napi bhikkhu iddhimā cetovasippatto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti;
api ca kho devaputto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti.
Tassa evaṁ hoti:
‘ayaṁ vā so dhammavinayo, yatthāhaṁ pubbe brahmacariyaṁ acarin’ti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha so satto khippaṁyeva visesagāmī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso kusalo saṅkhasaddassa.
So addhānamaggappaṭipanno saṅkhasaddaṁ suṇeyya.
Tassa na heva kho assa kaṅkhā vā vimati vā:
‘saṅkhasaddo nu kho, na nu kho saṅkhasaddo’ti.
Atha kho saṅkhasaddotveva niṭṭhaṁ gaccheyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha na heva kho sukhino dhammapadā plavanti, napi bhikkhu iddhimā cetovasippatto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti;
api ca kho devaputto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti.
Tassa evaṁ hoti:
‘ayaṁ vā so dhammavinayo, yatthāhaṁ pubbe brahmacariyaṁ acarin’ti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha so satto khippaṁyeva visesagāmī hoti.
Sotānugatānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ, vacasā paricitānaṁ, manasānupekkhitānaṁ, diṭṭhiyā suppaṭividdhānaṁ ayaṁ tatiyo ānisaṁso pāṭikaṅkho.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha na heva kho sukhino dhammapadā plavanti, napi bhikkhu iddhimā cetovasippatto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti, napi devaputto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti;
api ca kho opapātiko opapātikaṁ sāreti:
‘sarasi tvaṁ, mārisa, sarasi tvaṁ, mārisa, yattha mayaṁ pubbe brahmacariyaṁ acarimhā’ti.
So evamāha:
‘sarāmi, mārisa, sarāmi, mārisā’ti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha so satto khippaṁyeva visesagāmī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, dve sahāyakā sahapaṁsukīḷikā.
Te kadāci karahaci aññamaññaṁ samāgaccheyyuṁ.
Añño pana sahāyako sahāyakaṁ evaṁ vadeyya:
‘idampi, samma, sarasi, idampi, samma, sarasī’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘sarāmi, samma, sarāmi, sammā’ti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha na heva kho sukhino dhammapadā plavanti, napi bhikkhu iddhimā cetovasippatto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti, napi devaputto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti;
api ca kho opapātiko opapātikaṁ sāreti:
‘sarasi tvaṁ, mārisa, sarasi tvaṁ, mārisa, yattha mayaṁ pubbe brahmacariyaṁ acarimhā’ti.
So evamāha:
‘sarāmi, mārisa, sarāmi, mārisā’ti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha kho so satto khippaṁyeva visesagāmī hoti.
Sotānugatānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ, vacasā paricitānaṁ, manasānupekkhitānaṁ, diṭṭhiyā suppaṭividdhānaṁ ayaṁ catuttho ānisaṁso pāṭikaṅkho.
Sotānugatānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ, vacasā paricitānaṁ, manasānupekkhitānaṁ diṭṭhiyā suppaṭividdhānaṁ ime cattāro ānisaṁsā pāṭikaṅkhā”ti.
Paṭhamaṁ.
“Mendicants, you can expect four benefits when the teachings have been followed by ear, consolidated by voice, examined by the mind, and well comprehended theoretically.
What four?
Take a mendicant who memorizes the teaching—
statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations.
They’ve followed those teachings by ear, consolidated them by voice, examined them by the mind, and well comprehended them theoretically.
But they die unmindful and are reborn in one of the orders of gods.
Being happy there, passages of the teaching come back to them.
Memory comes up slowly,
but then that being quickly reaches distinction.
This is the first benefit you can expect when the teachings have been followed by ear, consolidated by voice, examined by the mind, and well comprehended theoretically.
Furthermore, take a mendicant who memorizes the teaching—
statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations.
They’ve followed those teachings by ear, consolidated them by voice, examined them by the mind, and well comprehended them theoretically.
But they die unmindful and are reborn in one of the orders of gods.
Though they’re happy there, passages of the teaching don’t come back to them.
However, a mendicant with psychic powers, who has achieved mastery of the mind, teaches Dhamma to the assembly of gods.
They think:
‘I used to lead the spiritual life in this same teaching and training.’
Memory comes up slowly,
but then that being quickly reaches distinction.
Suppose a person was skilled in the sound of drums.
While traveling along a road they hear the sound of drums.
They wouldn’t have any doubts or uncertainties about whether
that was the sound of drums or not.
They’d just conclude, ‘That’s the sound of drums.’
In the same way, take a mendicant who memorizes the teaching …
But they die unmindful and are reborn in one of the orders of gods. …
Memory comes up slowly,
but then that being quickly reaches distinction.
This is the second benefit you can expect when the teachings have been followed by ear, consolidated by voice, examined by the mind, and well comprehended theoretically.
Furthermore, take a mendicant who memorizes the teaching—
statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations.
They’ve followed those teachings by ear, consolidated them by voice, examined them by the mind, and well comprehended them theoretically.
But they die unmindful and are reborn in one of the orders of gods.
But passages of the teaching don’t come back to them when they’re happy, nor does a mendicant with psychic powers … teach Dhamma to the assembly of gods.
However, a godling teaches Dhamma to the assembly of gods.
They think:
‘I used to lead the spiritual life in this same teaching and training.’
Memory comes up slowly,
but then that being quickly reaches distinction.
Suppose a person was skilled in the sound of horns.
While traveling along a road they hear the sound of horns.
They wouldn’t have any doubt about whether
that was the sound of horns or not.
They’d just conclude, ‘That’s the sound of horns.’
In the same way, take a mendicant who memorizes the teaching …
But they die unmindful and are reborn in one of the orders of gods. …
Memory comes up slowly,
but then that being quickly reaches distinction.
This is the third benefit you can expect when the teachings have been followed by ear, consolidated by voice, examined by the mind, and well comprehended theoretically.
Furthermore, take a mendicant who memorizes the teaching—
statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations.
They’ve followed those teachings by ear, consolidated them by voice, examined them by the mind, and well comprehended them theoretically.
But they die unmindful and are reborn in one of the orders of gods.
But passages of the teaching don’t come back to them when they’re happy, and neither a mendicant with psychic powers … nor a godling teaches Dhamma to the assembly of gods.
But a being who has been reborn spontaneously reminds another such being:
‘Do you remember, good fellow? Do you remember where we used to lead the spiritual life?’
He says:
‘I remember, good fellow, I remember!’
Memory comes up slowly,
but then that being quickly reaches distinction.
Suppose there were two friends who had played together in the sand.
Some time or other they’d meet.
And one friend would say to the other:
‘Do you remember this, dear? Do you remember that, dear?’
They’d say:
‘I remember, dear, I remember!’
In the same way, take a mendicant who memorizes the teaching …
But they die unmindful and are reborn in one of the orders of gods. …
Memory comes up slowly,
but then that being quickly reaches distinction.
This is the fourth benefit you can expect when the teachings have been followed by ear, consolidated by voice, examined by the mind, and well comprehended theoretically.
You can expect these four benefits when the teachings have been followed by ear, consolidated by voice, examined by the mind, and well comprehended theoretically.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, các pháp do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập, có bốn lợi ích được chờ đợi. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập. Vị ấy khi mạng chung bị thất niệm, được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân. Tại đấy, các vị sống an lạc đọc các pháp cú cho vị ấy. Này các Tỷ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Này các Tỷ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ nhất được chờ đợi.
TTC 2Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập. Vị ấy khi mạng chung bị thất niệm, được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân. Tại đấy, các vị sống an lạc không đọc các pháp cú cho vị ấy. Nhưng có Tỷ-kheo có thần thông, đã đạt được tâm tự tại, thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Vị ấy sung sướng nghĩ như sau: “Ðây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Này các Tỷ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thiện xảo về tiếng trống. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng trống. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng trống hay không phải là tiếng trống. Người ấy đi đến kết luận: “Ðây là tiếng trống”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai … chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Này các Tỷ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập, đây là lợi ích thứ hai được chờ đợi.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và một Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ðây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thiện xảo về tiếng tù và. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng tù và. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng tù và hay không phải là tiếng tù và. Người ấy đi đến kết luận: “Ðây là tiếng tù và”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và một Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ðây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Này các Tỷ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Này các Tỷ-kheo, do được nghe bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ ba được chờ đợi.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và không có Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư thiên. Nhưng có thể có người được hóa sanh, nhắc nhở khiến cho nhớ lại sự hóa sanh: “Này bạn, bạn có nhớ không? Này bạn, bạn có nhớ không, tại chỗ ấy chúng ta đã sống Phạm hạnh?”. Vị ấy trả lời: “Này bạn, tôi nhớ! Này bạn, tôi nhớ”. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, hai người bạn cùng chơi trò chơi đất bùn, hai người vào một thời nào, một chỗ nào được gặp nhau. Người bạn này có thể nói với người bạn kia: “Này bạn, bạn có nhớ cái này không? Này bạn, bạn có nhớ cái này không?”. Người ấy có thể trả lời: “Này bạn, tôi có nhớ! Này bạn, tôi có nhớ!”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, do được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và không có Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư thiên. Nhưng có thể có người được hóa sanh, nhắc nhở cho nhớ lại sự hoá sanh : ''Này bạn, bạn có nhớ không? Này bạn, bạn có nhớ không, tại chỗ ấy chúng ta đã sống Phạm hạnh?”. Vị ấy trả lời: “Này bạn, tôi nhớ! Này bạn, tôi nhớ”. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.
Này các Tỷ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; đây là lợi ích thứ tư được chờ đợi.
Này các Tỷ-kheo, do được nghe các pháp bằng tai, do tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập; có bốn lợi ích này được chờ đợi.
“Sotānugatānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ, vacasā paricitānaṁ, manasānupekkhitānaṁ, diṭṭhiyā suppaṭividdhānaṁ cattāro ānisaṁsā pāṭikaṅkhā.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha sukhino dhammapadā plavanti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha so satto khippaṁyeva visesagāmī hoti.
Sotānugatānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ, vacasā paricitānaṁ, manasānupekkhitānaṁ, diṭṭhiyā suppaṭividdhānaṁ ayaṁ paṭhamo ānisaṁso pāṭikaṅkho.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha na heva kho sukhino dhammapadā plavanti;
api ca kho bhikkhu iddhimā cetovasippatto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti.
Tassa evaṁ hoti:
‘ayaṁ vā so dhammavinayo, yatthāhaṁ pubbe brahmacariyaṁ acarin’ti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha so satto khippameva visesagāmī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso kusalo bherisaddassa.
So addhānamaggappaṭipanno bherisaddaṁ suṇeyya.
Tassa na heva kho assa kaṅkhā vā vimati vā:
‘bherisaddo nu kho, na nu kho bherisaddo’ti.
Atha kho bherisaddotveva niṭṭhaṁ gaccheyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha na heva kho sukhino dhammapadā plavanti;
api ca kho bhikkhu iddhimā cetovasippatto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti.
Tassa evaṁ hoti:
‘ayaṁ vā so dhammavinayo, yatthāhaṁ pubbe brahmacariyaṁ acarin’ti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha so satto khippaṁyeva visesagāmī hoti.
Sotānugatānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ, vacasā paricitānaṁ, manasānupekkhitānaṁ, diṭṭhiyā suppaṭividdhānaṁ ayaṁ dutiyo ānisaṁso pāṭikaṅkho.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha na heva kho sukhino dhammapadā plavanti, napi bhikkhu iddhimā cetovasippatto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti;
api ca kho devaputto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti.
Tassa evaṁ hoti:
‘ayaṁ vā so dhammavinayo, yatthāhaṁ pubbe brahmacariyaṁ acarin’ti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha so satto khippaṁyeva visesagāmī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso kusalo saṅkhasaddassa.
So addhānamaggappaṭipanno saṅkhasaddaṁ suṇeyya.
Tassa na heva kho assa kaṅkhā vā vimati vā:
‘saṅkhasaddo nu kho, na nu kho saṅkhasaddo’ti.
Atha kho saṅkhasaddotveva niṭṭhaṁ gaccheyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha na heva kho sukhino dhammapadā plavanti, napi bhikkhu iddhimā cetovasippatto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti;
api ca kho devaputto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti.
Tassa evaṁ hoti:
‘ayaṁ vā so dhammavinayo, yatthāhaṁ pubbe brahmacariyaṁ acarin’ti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha so satto khippaṁyeva visesagāmī hoti.
Sotānugatānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ, vacasā paricitānaṁ, manasānupekkhitānaṁ, diṭṭhiyā suppaṭividdhānaṁ ayaṁ tatiyo ānisaṁso pāṭikaṅkho.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha na heva kho sukhino dhammapadā plavanti, napi bhikkhu iddhimā cetovasippatto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti, napi devaputto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti;
api ca kho opapātiko opapātikaṁ sāreti:
‘sarasi tvaṁ, mārisa, sarasi tvaṁ, mārisa, yattha mayaṁ pubbe brahmacariyaṁ acarimhā’ti.
So evamāha:
‘sarāmi, mārisa, sarāmi, mārisā’ti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha so satto khippaṁyeva visesagāmī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, dve sahāyakā sahapaṁsukīḷikā.
Te kadāci karahaci aññamaññaṁ samāgaccheyyuṁ.
Añño pana sahāyako sahāyakaṁ evaṁ vadeyya:
‘idampi, samma, sarasi, idampi, samma, sarasī’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘sarāmi, samma, sarāmi, sammā’ti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Tassa te dhammā sotānugatā honti, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati.
Tassa tattha na heva kho sukhino dhammapadā plavanti, napi bhikkhu iddhimā cetovasippatto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti, napi devaputto devaparisāyaṁ dhammaṁ deseti;
api ca kho opapātiko opapātikaṁ sāreti:
‘sarasi tvaṁ, mārisa, sarasi tvaṁ, mārisa, yattha mayaṁ pubbe brahmacariyaṁ acarimhā’ti.
So evamāha:
‘sarāmi, mārisa, sarāmi, mārisā’ti.
Dandho, bhikkhave, satuppādo;
atha kho so satto khippaṁyeva visesagāmī hoti.
Sotānugatānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ, vacasā paricitānaṁ, manasānupekkhitānaṁ, diṭṭhiyā suppaṭividdhānaṁ ayaṁ catuttho ānisaṁso pāṭikaṅkho.
Sotānugatānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ, vacasā paricitānaṁ, manasānupekkhitānaṁ diṭṭhiyā suppaṭividdhānaṁ ime cattāro ānisaṁsā pāṭikaṅkhā”ti.
Paṭhamaṁ.