TTC 1Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi Bà-la-môn, cho bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng bố thí này! Thưa Tôn giả Gotama, bố thí có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không?
—Này Bà-la-môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích, không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ.
—Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là tương ưng xứ, thế nào là không tương ưng xứ?
TTC 2Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân, có tà kiến. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục. Món ăn của chúng sanh ở địa ngục ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở nơi đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 3Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh… có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào loại bàng sanh. Món ăn của chúng sanh ở bàng sanh ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ; trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 4Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có tâm sân hận, có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh cộng trú với loài Người. Món ăn của loài người như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 5Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh… có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên. Món ăn của chư Thiên như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 6Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh… có tà kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi ngạ quỷ. Món ăn của chúng sanh ngạ quỷ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào các bạn bè , hoặc thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 7Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống ấy đã chết, không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy?
—Này Bà-la-môn, các bà con huyết thống khác đã chết, được sanh vào chỗ ấy, những người ấy được hưởng bố thí ấy.
—Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống đã chết, không sanh vào chỗ ấy, và các bà con huyết thống khác cũng không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy?
—Không có trường hợp ấy, không có cơ hội ấy, này Bà-la-môn, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài, không có người bà con huyết thống đã chết. Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có hưởng quả.
—Có phải Tôn giả Gotama nói một giả thuyết không thể xảy ra?
—Này Bà-la-môn, Ta nói một giả thuyết không thể xảy ra. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Người ấy bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các loài voi. Tại đây, vị ấy được đồ ăn, đồ uống, vòng hoa, các loại trang sức khác. Vì rằng, ở đây, này Bà-la-môn, có sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến, do vậy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các loài voi. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; do vậy, tại đấy vị ấy được các món ăn, các đồ uống, vòng hoa, các đồ trang sức khác. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Người ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh cộng trú với các loài ngựa… sanh cộng trú với các loài bò… Cộng trú với các loài gia cầm. Vị ấy tại đấy, được các món ăn, các đồ uống, vòng hoa, các đồ trang sức khác. Vì rằng, này Bà-la-môn, có sát sanh, có lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, có nói láo, có nói hai lưỡi, có nói lời độc ác, có nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Do vậy, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào cộng trú với các loài gia cầm. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc, nên tại đấy vị ấy được đồ ăn, đồ uống, vòng hoa, các loại trang sức khác. Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham ái, từ bỏ sân tâm, có chánh kiến. Người ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với loài Người. Tại đấy, vị ấy được năm loại dục công đức sai khác, thuộc về loài Người. Vì rằng, này Bà-la-môn, vị ấy từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có sân tâm, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với loài Người. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, các trú xứ, đèn đuốc; do vậy, ở đấy vị ấy được năm dục công đức của loài Người. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh… có chánh kiến, người ấy bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên. Vị ấy tại đấy được năm loại dục công đức của chư Thiên. Vì rằng ở đây có từ bỏ sát sanh… có chánh kiến, cho nên sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với chư Thiên. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Do vậy, tại đấy vị ấy được năm dục công đức của chư Thiên. Như vậy, này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có kết quả.
TTC 8Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Cho đến như thế này, thưa Tôn giả Gotama, là vừa đủ để bố thí, là vừa đủ để tổ chức các tín thí. Vì rằng, ở đấy, người bố thí không phải không có kết quả (như đã được nói).
—Như vậy, này Bà-la-môn, người bố thí này không phải không có kết quả.
—Thật kỳ diệu thay, Tôn giả Gotama… Xin Tôn giả Gotama hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Atha kho jāṇussoṇi brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jāṇussoṇi brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“Mayamassu, bho gotama, brāhmaṇā nāma.
Dānāni dema, saddhāni karoma:
‘idaṁ dānaṁ petānaṁ ñātisālohitānaṁ upakappatu, idaṁ dānaṁ petā ñātisālohitā paribhuñjantū’ti.
Kacci taṁ, bho gotama, dānaṁ petānaṁ ñātisālohitānaṁ upakappati;
kacci te petā ñātisālohitā taṁ dānaṁ paribhuñjantī”ti?
“Ṭhāne kho, brāhmaṇa, upakappati, no aṭṭhāne”ti.
“Katamaṁ pana, bho gotama, ṭhānaṁ, katamaṁ aṭṭhānan”ti?
“Idha, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti, adinnādāyī hoti, kāmesumicchācārī hoti, musāvādī hoti, pisuṇavāco hoti, pharusavāco hoti, samphappalāpī hoti, abhijjhālu hoti, byāpannacitto hoti, micchādiṭṭhiko hoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā nirayaṁ upapajjati.
Yo nerayikānaṁ sattānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati.
Idampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ na upakappati.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī …pe… micchādiṭṭhiko hoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tiracchānayoniṁ upapajjati.
Yo tiracchānayonikānaṁ sattānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati.
Idampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ na upakappati.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya paṭivirato hoti, samphappalāpā paṭivirato hoti, anabhijjhālu hoti, abyāpannacitto hoti, sammādiṭṭhiko hoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Yo manussānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati.
Idampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ na upakappati.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko hoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Yo devānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati.
Idampi, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ upakappati.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti …pe… micchādiṭṭhiko hoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pettivisayaṁ upapajjati.
Yo pettivesayikānaṁ sattānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati, yaṁ vā panassa ito anuppavecchanti mittāmaccā vā ñātisālohitā vā, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati.
Idaṁ kho, brāhmaṇa, ṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ upakappatī”ti.
“Sace pana, bho gotama, so peto ñātisālohito taṁ ṭhānaṁ anupapanno hoti, ko taṁ dānaṁ paribhuñjatī”ti?
“Aññepissa, brāhmaṇa, petā ñātisālohitā taṁ ṭhānaṁ upapannā honti, te taṁ dānaṁ paribhuñjantī”ti.
“Sace pana, bho gotama, so ceva peto ñātisālohito taṁ ṭhānaṁ anupapanno hoti aññepissa ñātisālohitā petā taṁ ṭhānaṁ anupapannā honti, ko taṁ dānaṁ paribhuñjatī”ti?
“Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, brāhmaṇa, anavakāso yaṁ taṁ ṭhānaṁ vivittaṁ assa iminā dīghena addhunā yadidaṁ petehi ñātisālohitehi.
Api ca, brāhmaṇa, dāyakopi anipphalo”ti.
“Aṭṭhānepi bhavaṁ gotamo parikappaṁ vadatī”ti?
“Aṭṭhānepi kho ahaṁ, brāhmaṇa, parikappaṁ vadāmi.
Idha, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti, adinnādāyī hoti, kāmesumicchācārī hoti, musāvādī hoti, pisuṇavāco hoti, pharusavāco hoti, samphappalāpī hoti, abhijjhālu hoti, byāpannacitto hoti, micchādiṭṭhiko hoti;
so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hatthīnaṁ sahabyataṁ upapajjati.
So tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa.
Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hatthīnaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti …pe… micchādiṭṭhiko hoti.
So dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā assānaṁ sahabyataṁ upapajjati …pe…
gunnaṁ sahabyataṁ upapajjati …pe…
kukkurānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
So tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa.
Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātī …pe… micchādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā kukkurānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko hoti.
So dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
So tattha lābhī hoti mānusakānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ.
Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti mānusakānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko hoti.
So dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
So tattha lābhī hoti dibbānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ.
Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti dibbānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ.
Api ca, brāhmaṇa, dāyakopi anipphalo”ti.
“Acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama.
Yāvañcidaṁ, bho gotama, alameva dānāni dātuṁ, alaṁ saddhāni kātuṁ, yatra hi nāma dāyakopi anipphalo”ti.
“Evametaṁ, brāhmaṇa, dāyakopi hi, brāhmaṇa, anipphalo”ti.
“Abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Ekādasamaṁ.
Jāṇussoṇivaggo dutiyo.
Then Janussonin the brahman went to the Blessed One and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings & courtesies, he sat to one side. As he was sitting there, he said to the Blessed One, “Master Gotama, you know that we brahmans give gifts, make offerings, [saying,] ‘May this gift accrue to our dead relatives. May our dead relatives partake of this gift.’ Now, Master Gotama, does that gift accrue to our dead relatives? Do our dead relatives partake of that gift?”
“In possible places, brahman, it accrues to them, but not in impossible places.”
“And which, Master Gotama, are the possible places? Which are the impossible places?”
“There is the case, brahman, where a certain person takes life, takes what is not given, engages in sensual misconduct, engages in false speech, engages in divisive speech, engages in abusive speech, engages in idle chatter, is covetous, bears ill will, and has wrong views. With the break-up of the body, after death, he reappears in hell. He lives there, he remains there, by means of whatever is the food of hell-beings. This is an impossible place for that gift to accrue to one staying there.
“Then there is the case where a certain person takes life, takes what is not given, engages in sensual misconduct, engages in false speech, engages in divisive speech, engages in abusive speech, engages in idle chatter, is covetous, bears ill will, and has wrong views. With the break-up of the body, after death, he reappears in the animal womb. He lives there, he remains there, by means of whatever is the food of common animals. This, too, is an impossible place for that gift to accrue to one staying there.
“Then there is the case where a certain person refrains from taking life, refrains from taking what is not given, refrains from sensual misconduct, refrains from false speech, refrains from divisive speech, refrains from abusive speech, refrains from idle chatter, is not covetous, bears no ill will, and has right views. With the break-up of the body, after death, he reappears in the company of human beings. He lives there, he remains there, by means of whatever is the food of human beings. This, too, is an impossible place for that gift to accrue to one staying there.
“Then there is the case where a certain person refrains from taking life, refrains from taking what is not given, refrains from sensual misconduct, refrains from false speech, refrains from divisive speech, refrains from abusive speech, refrains from idle chatter, is not covetous, bears no ill will, and has right views. With the break-up of the body, after death, he reappears in the company of the devas. He lives there, he remains there, by means of whatever is the food of devas. This, too, is an impossible place for that gift to accrue to one staying there.
“Then there is the case where a certain person takes life, takes what is not given, engages in sensual misconduct, engages in false speech, engages in divisive speech, engages in abusive speech, engages in idle chatter, is covetous, bears ill will, and has wrong views. With the break-up of the body, after death, he reappears in the realms of the hungry shades. He lives there, he remains there, by means of whatever is the food of hungry shades. He lives there, he remains that, by means of whatever his friends or relatives give in dedication to him. This is the possible place for that gift to accrue to one staying there.
“But, Master Gotama, if that dead relative does not reappear in that possible place, who partakes of that gift?”
“Other dead relatives, brahman, who have reappeared in that possible place.”
“But, Master Gotama, if that dead relative does not reappear in that possible place, and other dead relatives have not reappeared in that possible place, then who partakes of that gift?”
“It’s impossible, brahman, it cannot be, that over this long time that possible place is devoid of one’s dead relatives. But at any rate, the donor does not go without reward.
“Does Master Gotama describe any preparation for the impossible places?”
“Brahman, I do describe a preparation for the impossible places. There is the case where a certain person takes life, takes what is not given, engages in sensual misconduct, engages in false speech, engages in divisive speech, engages in abusive speech, engages in idle chatter, is covetous, bears ill will, and has wrong views. But he gives food, drink, cloth, vehicles, garlands, scents, creams, bed, lodging, & lamps to brahmans & contemplatives. With the break-up of the body, after death, he reappears in the company of elephants. There he receives food, drink, flowers, & various ornaments. It’s because he took life, took what is not given, engaged in sensual misconduct, engaged in false speech, engaged in divisive speech, engaged in abusive speech, engaged in idle chatter, was covetous, bore ill will, and had wrong views that he reappears in the company of elephants. But it’s because he gave food, drink, cloth, vehicles, garlands, scents, creams, bed, lodging, & lamps to brahmans & contemplatives that he receives food, drink, flowers, & various ornaments.
“Then there is the case where a certain person takes life… has wrong views. But he gives food… lamps to brahmans & contemplatives. With the break-up of the body, after death, he reappears in the company of horses… in the company of cattle… in the company of poultry. There he receives food, drink, flowers, & various ornaments. It’s because he took life… and had wrong views that he reappears in the company of poultry. But it’s because he gave food, drink… & lamps to brahmans & contemplatives that he receives food, drink, flowers, & various ornaments.
“Then there is the case where a certain person refrains from taking life, refrains from taking what is not given, refrains from sensual misconduct, refrains from false speech, refrains from divisive speech, refrains from abusive speech, refrains from idle chatter, is not covetous, bears no ill will, and has right views. And he gives food, drink, cloth, vehicles, garlands, scents, creams, bed, lodging, & lamps to brahmans & contemplatives. With the break-up of the body, after death, he reappears in the company of human beings. There he experiences the five strings of human sensuality [delightful sights, sounds, smells, tastes, tactile sensations]. It’s because he refrained from taking what is not given, refrained from sensual misconduct, refrained from false speech, refrained from divisive speech, refrained from abusive speech, refrained from idle chatter, was not covetous, bore no ill will, and had right views that he reappears in the company of human beings. And it’s because he gave food, drink, cloth, vehicles, garlands, scents, creams, bed, lodging, & lamps to brahmans & contemplatives that he experiences the five strings of human sensuality.
“Then there is the case where a certain person refrains from taking life… and has right views. And he gives food, drink, cloth, vehicles, garlands, scents, creams, bed, lodging, & lamps to brahmans & contemplatives. With the break-up of the body, after death, he reappears in the company of devas. There he experiences the five strings of divine sensuality [delightful sights, sounds, smells, tastes, tactile sensations]. It’s because he refrained from taking what is not given… and had right views that he reappears in the company of devas. And it’s because he gave food, drink, cloth, vehicles, garlands, scents, creams, bed, lodging, & lamps to brahmans & contemplatives that he experiences the five strings of divine sensuality. But at any rate, brahman, the donor does not go without reward.”
“It’s amazing, Master Gotama, it’s astounding, how it’s enough to make one want to give a gift, enough to make one want to make an offering, where the donor does not go without reward.”
“That’s the way it is, brahman. That’s the way it is. The donor does not go without reward.”
“Magnificent, Master Gotama! Magnificent! Just as if he were to place upright what was overturned, to reveal what was hidden, to show the way to one who was lost, or to carry a lamp into the dark so that those with eyes could see forms, in the same way has Master Gotama—through many lines of reasoning—made the Dhamma clear. I go to Master Gotama for refuge, to the Dhamma, & to the community of monks. May Master Gotama remember me as a lay follower who has gone to him for refuge, from this day forward, for life.”
TTC 1Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi Bà-la-môn, cho bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng bố thí này! Thưa Tôn giả Gotama, bố thí có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không?
—Này Bà-la-môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích, không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ.
—Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là tương ưng xứ, thế nào là không tương ưng xứ?
TTC 2Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân, có tà kiến. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục. Món ăn của chúng sanh ở địa ngục ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở nơi đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 3Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh… có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào loại bàng sanh. Món ăn của chúng sanh ở bàng sanh ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ; trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 4Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có tâm sân hận, có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh cộng trú với loài Người. Món ăn của loài người như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 5Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh… có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên. Món ăn của chư Thiên như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 6Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh… có tà kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi ngạ quỷ. Món ăn của chúng sanh ngạ quỷ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào các bạn bè , hoặc thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 7Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống ấy đã chết, không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy?
—Này Bà-la-môn, các bà con huyết thống khác đã chết, được sanh vào chỗ ấy, những người ấy được hưởng bố thí ấy.
—Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống đã chết, không sanh vào chỗ ấy, và các bà con huyết thống khác cũng không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy?
—Không có trường hợp ấy, không có cơ hội ấy, này Bà-la-môn, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài, không có người bà con huyết thống đã chết. Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có hưởng quả.
—Có phải Tôn giả Gotama nói một giả thuyết không thể xảy ra?
—Này Bà-la-môn, Ta nói một giả thuyết không thể xảy ra. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Người ấy bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các loài voi. Tại đây, vị ấy được đồ ăn, đồ uống, vòng hoa, các loại trang sức khác. Vì rằng, ở đây, này Bà-la-môn, có sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến, do vậy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các loài voi. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; do vậy, tại đấy vị ấy được các món ăn, các đồ uống, vòng hoa, các đồ trang sức khác. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Người ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh cộng trú với các loài ngựa… sanh cộng trú với các loài bò… Cộng trú với các loài gia cầm. Vị ấy tại đấy, được các món ăn, các đồ uống, vòng hoa, các đồ trang sức khác. Vì rằng, này Bà-la-môn, có sát sanh, có lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, có nói láo, có nói hai lưỡi, có nói lời độc ác, có nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Do vậy, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào cộng trú với các loài gia cầm. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc, nên tại đấy vị ấy được đồ ăn, đồ uống, vòng hoa, các loại trang sức khác. Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham ái, từ bỏ sân tâm, có chánh kiến. Người ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với loài Người. Tại đấy, vị ấy được năm loại dục công đức sai khác, thuộc về loài Người. Vì rằng, này Bà-la-môn, vị ấy từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có sân tâm, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với loài Người. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, các trú xứ, đèn đuốc; do vậy, ở đấy vị ấy được năm dục công đức của loài Người. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh… có chánh kiến, người ấy bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên. Vị ấy tại đấy được năm loại dục công đức của chư Thiên. Vì rằng ở đây có từ bỏ sát sanh… có chánh kiến, cho nên sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với chư Thiên. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Do vậy, tại đấy vị ấy được năm dục công đức của chư Thiên. Như vậy, này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có kết quả.
TTC 8Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Cho đến như thế này, thưa Tôn giả Gotama, là vừa đủ để bố thí, là vừa đủ để tổ chức các tín thí. Vì rằng, ở đấy, người bố thí không phải không có kết quả (như đã được nói).
—Như vậy, này Bà-la-môn, người bố thí này không phải không có kết quả.
—Thật kỳ diệu thay, Tôn giả Gotama… Xin Tôn giả Gotama hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Atha kho jāṇussoṇi brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jāṇussoṇi brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“Mayamassu, bho gotama, brāhmaṇā nāma.
Dānāni dema, saddhāni karoma:
‘idaṁ dānaṁ petānaṁ ñātisālohitānaṁ upakappatu, idaṁ dānaṁ petā ñātisālohitā paribhuñjantū’ti.
Kacci taṁ, bho gotama, dānaṁ petānaṁ ñātisālohitānaṁ upakappati;
kacci te petā ñātisālohitā taṁ dānaṁ paribhuñjantī”ti?
“Ṭhāne kho, brāhmaṇa, upakappati, no aṭṭhāne”ti.
“Katamaṁ pana, bho gotama, ṭhānaṁ, katamaṁ aṭṭhānan”ti?
“Idha, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti, adinnādāyī hoti, kāmesumicchācārī hoti, musāvādī hoti, pisuṇavāco hoti, pharusavāco hoti, samphappalāpī hoti, abhijjhālu hoti, byāpannacitto hoti, micchādiṭṭhiko hoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā nirayaṁ upapajjati.
Yo nerayikānaṁ sattānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati.
Idampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ na upakappati.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī …pe… micchādiṭṭhiko hoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tiracchānayoniṁ upapajjati.
Yo tiracchānayonikānaṁ sattānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati.
Idampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ na upakappati.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya paṭivirato hoti, samphappalāpā paṭivirato hoti, anabhijjhālu hoti, abyāpannacitto hoti, sammādiṭṭhiko hoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Yo manussānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati.
Idampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ na upakappati.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko hoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Yo devānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati.
Idampi, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ upakappati.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti …pe… micchādiṭṭhiko hoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pettivisayaṁ upapajjati.
Yo pettivesayikānaṁ sattānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati, yaṁ vā panassa ito anuppavecchanti mittāmaccā vā ñātisālohitā vā, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati.
Idaṁ kho, brāhmaṇa, ṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ upakappatī”ti.
“Sace pana, bho gotama, so peto ñātisālohito taṁ ṭhānaṁ anupapanno hoti, ko taṁ dānaṁ paribhuñjatī”ti?
“Aññepissa, brāhmaṇa, petā ñātisālohitā taṁ ṭhānaṁ upapannā honti, te taṁ dānaṁ paribhuñjantī”ti.
“Sace pana, bho gotama, so ceva peto ñātisālohito taṁ ṭhānaṁ anupapanno hoti aññepissa ñātisālohitā petā taṁ ṭhānaṁ anupapannā honti, ko taṁ dānaṁ paribhuñjatī”ti?
“Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, brāhmaṇa, anavakāso yaṁ taṁ ṭhānaṁ vivittaṁ assa iminā dīghena addhunā yadidaṁ petehi ñātisālohitehi.
Api ca, brāhmaṇa, dāyakopi anipphalo”ti.
“Aṭṭhānepi bhavaṁ gotamo parikappaṁ vadatī”ti?
“Aṭṭhānepi kho ahaṁ, brāhmaṇa, parikappaṁ vadāmi.
Idha, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti, adinnādāyī hoti, kāmesumicchācārī hoti, musāvādī hoti, pisuṇavāco hoti, pharusavāco hoti, samphappalāpī hoti, abhijjhālu hoti, byāpannacitto hoti, micchādiṭṭhiko hoti;
so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hatthīnaṁ sahabyataṁ upapajjati.
So tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa.
Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hatthīnaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti …pe… micchādiṭṭhiko hoti.
So dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā assānaṁ sahabyataṁ upapajjati …pe…
gunnaṁ sahabyataṁ upapajjati …pe…
kukkurānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
So tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa.
Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātī …pe… micchādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā kukkurānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko hoti.
So dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
So tattha lābhī hoti mānusakānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ.
Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti mānusakānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko hoti.
So dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
So tattha lābhī hoti dibbānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ.
Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti dibbānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ.
Api ca, brāhmaṇa, dāyakopi anipphalo”ti.
“Acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama.
Yāvañcidaṁ, bho gotama, alameva dānāni dātuṁ, alaṁ saddhāni kātuṁ, yatra hi nāma dāyakopi anipphalo”ti.
“Evametaṁ, brāhmaṇa, dāyakopi hi, brāhmaṇa, anipphalo”ti.
“Abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Ekādasamaṁ.
Jāṇussoṇivaggo dutiyo.