TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn cách thức để trả lời câu hỏi. Thế nào là bốn?
Có câu hỏi, này các Tỷ-kheo, đòi hỏi câu trả lời nhất hướng (một chiều dứt khoát); có câu hỏi, này các Tỷ-kheo, đòi hỏi một câu hỏi phản nghịch; có câu hỏi, này các Tỷ-kheo, cần phải để một bên; có câu hỏi, này các Tỷ-kheo, cần phải trả lời một cách phân tích.
Này các Tỷ-kheo, có bốn cách thức để trả lời câu hỏi này.
TTC 2
Một trả lời nhất hướng,
Rồi trả lời phân tích,
Thứ ba là câu hỏi,
Ðòi câu hỏi phản nghịch,
Loại câu hỏi thứ tư,
Cần phải để một bên,
Trong các câu hỏi ấy,
Ai rõ biết thuận pháp,
Tỷ-kheo ấy được gọi,
Thiện xảo bốn câu hỏi.
Khó nhiếp phục, khó thắng,
Thâm sâu, khó chiến thắng,
Thiện xảo trong nghĩa lý,
Cả hai, nghĩa không nghĩa,
Từ bỏ không ý nghĩa,
Bậc Trí nắm lấy nghĩa,
Bậc Trí minh kiến nghĩa
Ðược gọi là bậc Trí.
“Cattārimāni, bhikkhave, pañhabyākaraṇāni.
Katamāni cattāri?
Atthi, bhikkhave, pañho ekaṁsabyākaraṇīyo;
atthi, bhikkhave, pañho vibhajjabyākaraṇīyo;
atthi, bhikkhave, pañho paṭipucchābyākaraṇīyo;
atthi, bhikkhave, pañho ṭhapanīyo.
Imāni kho, bhikkhave, cattāri pañhabyākaraṇānīti.
Ekaṁsavacanaṁ ekaṁ,
vibhajjavacanāparaṁ;
Tatiyaṁ paṭipuccheyya,
catutthaṁ pana ṭhāpaye.
Yo ca tesaṁ tattha tattha,
jānāti anudhammataṁ;
Catupañhassa kusalo,
āhu bhikkhuṁ tathāvidhaṁ.
Durāsado duppasaho,
gambhīro duppadhaṁsiyo;
Atho atthe anatthe ca,
ubhayassa hoti kovido.
Anatthaṁ parivajjeti,
atthaṁ gaṇhāti paṇḍito;
Atthābhisamayā dhīro,
paṇḍitoti pavuccatī”ti.
Dutiyaṁ.
“There are these four ways of answering questions. Which four? There are questions that should be answered categorically [straightforwardly yes, no, this, that]. There are questions that should be answered with an analytical (qualified) answer [defining or redefining the terms]. There are questions that should be answered with a counter-question. There are questions that should be put aside. These are the four ways of answering questions.”
First the categorical answer,
then the qualified,
third, the type to be counter-questioned,
& fourth, the one to be set aside.
Any monk who knows which is which,
in line with the Dhamma,
is said to be skilled
in the four types of questions:
hard to overcome, hard to beat,
profound, hard to defeat.
He knows what’s worthwhile
& what’s not,
proficient in (recognizing) both,
he rejects the worthless,
grasps the worthwhile.
He’s called one who has broken through
to what’s worthwhile,
prudent,
wise.
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn cách thức để trả lời câu hỏi. Thế nào là bốn?
Có câu hỏi, này các Tỷ-kheo, đòi hỏi câu trả lời nhất hướng (một chiều dứt khoát); có câu hỏi, này các Tỷ-kheo, đòi hỏi một câu hỏi phản nghịch; có câu hỏi, này các Tỷ-kheo, cần phải để một bên; có câu hỏi, này các Tỷ-kheo, cần phải trả lời một cách phân tích.
Này các Tỷ-kheo, có bốn cách thức để trả lời câu hỏi này.
TTC 2
Một trả lời nhất hướng,
Rồi trả lời phân tích,
Thứ ba là câu hỏi,
Ðòi câu hỏi phản nghịch,
Loại câu hỏi thứ tư,
Cần phải để một bên,
Trong các câu hỏi ấy,
Ai rõ biết thuận pháp,
Tỷ-kheo ấy được gọi,
Thiện xảo bốn câu hỏi.
Khó nhiếp phục, khó thắng,
Thâm sâu, khó chiến thắng,
Thiện xảo trong nghĩa lý,
Cả hai, nghĩa không nghĩa,
Từ bỏ không ý nghĩa,
Bậc Trí nắm lấy nghĩa,
Bậc Trí minh kiến nghĩa
Ðược gọi là bậc Trí.
“Cattārimāni, bhikkhave, pañhabyākaraṇāni.
Katamāni cattāri?
Atthi, bhikkhave, pañho ekaṁsabyākaraṇīyo;
atthi, bhikkhave, pañho vibhajjabyākaraṇīyo;
atthi, bhikkhave, pañho paṭipucchābyākaraṇīyo;
atthi, bhikkhave, pañho ṭhapanīyo.
Imāni kho, bhikkhave, cattāri pañhabyākaraṇānīti.
Ekaṁsavacanaṁ ekaṁ,
vibhajjavacanāparaṁ;
Tatiyaṁ paṭipuccheyya,
catutthaṁ pana ṭhāpaye.
Yo ca tesaṁ tattha tattha,
jānāti anudhammataṁ;
Catupañhassa kusalo,
āhu bhikkhuṁ tathāvidhaṁ.
Durāsado duppasaho,
gambhīro duppadhaṁsiyo;
Atho atthe anatthe ca,
ubhayassa hoti kovido.
Anatthaṁ parivajjeti,
atthaṁ gaṇhāti paṇḍito;
Atthābhisamayā dhīro,
paṇḍitoti pavuccatī”ti.
Dutiyaṁ.