TTC 1—Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Thầy về người không Chân nhân và người không Chân nhân hơn cả người không Chân nhân; về bậc Chân nhân và bậc Chân nhân còn hơn cả bậc Chân nhân. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, thế nào là người không Chân nhân?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không có lòng tin, không có xấu hổ, không có sợ hãi, nghe ít, biếng nhác, thất niệm, liệt tuệ.
Người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là người không Chân nhân.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, thế nào là người không Chân nhân còn hơn cả người không Chân nhân?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình không tin và khích lệ người khác không tin; tự mình không xấu hổ và khích lệ người khác không xấu hổ; tự mình không sợ hãi và khích lệ người khác không sợ hãi; tự mình nghe ít và khích lệ người khác nghe ít; tự mình biếng nhác và khích lệ người khác biếng khác; tự mình thất niệm và khích lệ người khác thất niệm; tự mình liệt tuệ và khích lệ người khác liệt tuệ.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là gọi là người không Chân nhân còn hơn cả người không Chân nhân.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc Chân nhân?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có lòng tin, có xấu hổ, có sợ hãi, nghe nhiều, siêng năng tinh cần, có niệm, có trí tuệ.
Người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là bậc Chân nhân.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc Chân nhân còn hơn cả bậc Chân nhân?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình đầy đủ lòng tin, còn khích lệ người khác có đầy đủ lòng tin; tự mình có xấu hổ và khích lệ người khác có xấu hổ; tự mình có sợ hãi và khích lệ người khác có sợ hãi; tự mình nghe nhiều và khích lệ người khác nghe nhiều; tự mình siêng năng tinh cần và khích lệ người khác siêng năng tinh cần; tự mình chánh niệm và khích lệ người khác chánh niệm; tự mình có trí tuệ và khích lệ người khác có trí tuệ.
Người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là gọi là bậc Chân nhân còn hơn cả bậc Chân nhân.
“Asappurisañca vo, bhikkhave, desessāmi, asappurisena asappurisatarañca;
sappurisañca, sappurisena sappurisatarañca. Taṁ suṇātha …pe….
“Katamo ca, bhikkhave, asappuriso?
Idha, bhikkhave, ekacco assaddho hoti, ahiriko hoti, anottappī hoti, appassuto hoti, kusīto hoti, muṭṭhassati hoti, duppañño hoti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, asappuriso.
Katamo ca, bhikkhave, asappurisena asappurisataro?
Idha, bhikkhave, ekacco attanā ca assaddho hoti, parañca assaddhiye samādapeti;
attanā ca ahiriko hoti, parañca ahirikatāya samādapeti;
attanā ca anottappī hoti, parañca anottappe samādapeti;
attanā ca appassuto hoti, parañca appassute samādapeti;
attanā ca kusīto hoti, parañca kosajje samādapeti;
attanā ca muṭṭhassati hoti, parañca muṭṭhassacce samādapeti;
attanā ca duppañño hoti, parañca duppaññatāya samādapeti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, asappurisena asappurisataro.
Katamo ca, bhikkhave, sappuriso?
Idha, bhikkhave, ekacco saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, bahussuto hoti, āraddhavīriyo hoti, satimā hoti, paññavā hoti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, sappuriso.
Katamo ca, bhikkhave, sappurisena sappurisataro?
Idha, bhikkhave, ekacco attanā ca saddhāsampanno hoti, parañca saddhāsampadāya samādapeti;
attanā ca hirimā hoti, parañca hirimatāya samādapeti;
attanā ca ottappī hoti, parañca ottappe samādapeti;
attanā ca bahussuto hoti, parañca bāhusacce samādapeti;
attanā ca āraddhavīriyo hoti, parañca vīriyārambhe samādapeti;
attanā ca upaṭṭhitassati hoti, parañca satiupaṭṭhāne samādapeti;
attanā ca paññāsampanno hoti, parañca paññāsampadāya samādapeti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, sappurisena sappurisataro”ti.
Dutiyaṁ.
“Mendicants, I will teach you an untrue person and an even more untrue person,
a true person and an even truer person.
And what is an untrue person?
It’s someone who is faithless, shameless, imprudent, with little learning, lazy, unmindful, and witless.
This is called an untrue person.
And what is an even more untrue person?
It’s someone who is faithless, shameless, imprudent, with little learning, lazy, confused, and witless. And they encourage others in these same qualities.
This is called an even more untrue person.
And what is a true person?
It’s someone who is faithful, conscientious, prudent, learned, energetic, mindful, and wise.
This is called a true person.
And what is an even truer person?
It’s someone who is personally accomplished in faith, conscience, prudence, learning, energy, mindfulness, and wisdom. And they encourage others in these same qualities.
This is called an even truer person.”
TTC 1—Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Thầy về người không Chân nhân và người không Chân nhân hơn cả người không Chân nhân; về bậc Chân nhân và bậc Chân nhân còn hơn cả bậc Chân nhân. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, thế nào là người không Chân nhân?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không có lòng tin, không có xấu hổ, không có sợ hãi, nghe ít, biếng nhác, thất niệm, liệt tuệ.
Người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là người không Chân nhân.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, thế nào là người không Chân nhân còn hơn cả người không Chân nhân?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình không tin và khích lệ người khác không tin; tự mình không xấu hổ và khích lệ người khác không xấu hổ; tự mình không sợ hãi và khích lệ người khác không sợ hãi; tự mình nghe ít và khích lệ người khác nghe ít; tự mình biếng nhác và khích lệ người khác biếng khác; tự mình thất niệm và khích lệ người khác thất niệm; tự mình liệt tuệ và khích lệ người khác liệt tuệ.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là gọi là người không Chân nhân còn hơn cả người không Chân nhân.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc Chân nhân?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có lòng tin, có xấu hổ, có sợ hãi, nghe nhiều, siêng năng tinh cần, có niệm, có trí tuệ.
Người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là bậc Chân nhân.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc Chân nhân còn hơn cả bậc Chân nhân?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình đầy đủ lòng tin, còn khích lệ người khác có đầy đủ lòng tin; tự mình có xấu hổ và khích lệ người khác có xấu hổ; tự mình có sợ hãi và khích lệ người khác có sợ hãi; tự mình nghe nhiều và khích lệ người khác nghe nhiều; tự mình siêng năng tinh cần và khích lệ người khác siêng năng tinh cần; tự mình chánh niệm và khích lệ người khác chánh niệm; tự mình có trí tuệ và khích lệ người khác có trí tuệ.
Người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là gọi là bậc Chân nhân còn hơn cả bậc Chân nhân.
“Asappurisañca vo, bhikkhave, desessāmi, asappurisena asappurisatarañca;
sappurisañca, sappurisena sappurisatarañca. Taṁ suṇātha …pe….
“Katamo ca, bhikkhave, asappuriso?
Idha, bhikkhave, ekacco assaddho hoti, ahiriko hoti, anottappī hoti, appassuto hoti, kusīto hoti, muṭṭhassati hoti, duppañño hoti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, asappuriso.
Katamo ca, bhikkhave, asappurisena asappurisataro?
Idha, bhikkhave, ekacco attanā ca assaddho hoti, parañca assaddhiye samādapeti;
attanā ca ahiriko hoti, parañca ahirikatāya samādapeti;
attanā ca anottappī hoti, parañca anottappe samādapeti;
attanā ca appassuto hoti, parañca appassute samādapeti;
attanā ca kusīto hoti, parañca kosajje samādapeti;
attanā ca muṭṭhassati hoti, parañca muṭṭhassacce samādapeti;
attanā ca duppañño hoti, parañca duppaññatāya samādapeti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, asappurisena asappurisataro.
Katamo ca, bhikkhave, sappuriso?
Idha, bhikkhave, ekacco saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, bahussuto hoti, āraddhavīriyo hoti, satimā hoti, paññavā hoti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, sappuriso.
Katamo ca, bhikkhave, sappurisena sappurisataro?
Idha, bhikkhave, ekacco attanā ca saddhāsampanno hoti, parañca saddhāsampadāya samādapeti;
attanā ca hirimā hoti, parañca hirimatāya samādapeti;
attanā ca ottappī hoti, parañca ottappe samādapeti;
attanā ca bahussuto hoti, parañca bāhusacce samādapeti;
attanā ca āraddhavīriyo hoti, parañca vīriyārambhe samādapeti;
attanā ca upaṭṭhitassati hoti, parañca satiupaṭṭhāne samādapeti;
attanā ca paññāsampanno hoti, parañca paññāsampadāya samādapeti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, sappurisena sappurisataro”ti.
Dutiyaṁ.