Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Vi-n 2 Rồi rất nhiều quần tiên Ujjhànasannà (Hiềm trách thiên), sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, các vị ấy đứng giữa hư không.
Vi-n 3 Rồi một vị Thiên đứng giữa hư không, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Những ai nói mình khác
Với điều họ thực có,
Thời mọi vật thọ dụng,
Xem như do trộm cắp,
Chẳng khác kẻ gian manh,
Dùng lừa đảo trộm cắp.
Hãy nói điều có làm,
Không nói điều không làm,
Không làm nói có làm,
Kẻ trí biết rõ họ.
(Thế Tôn):
Những ai chỉ biết nói,
Hay chỉ biết nghe thôi,
Những hạng người như vậy,
Không thể nào tiến bộ.
Khó nhọc thay con đường,
Giúp kẻ trí giải thoát.
Nhờ Thiền định thiêu cháy,
Mọi trói buộc quần ma,
Kẻ trí không làm vậy,
Sau khi biết thế tình,
Với trí, chứng Niết-bàn,
Vượt chấp trước ở đời.
Vi-n 4 Rồi các quần tiên ấy đứng xuống đất, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
—Ðây là tội lỗi của chúng con, bạch Thế Tôn. Chúng con đi đến tội lỗi, vì ngu xuẩn, vì mê mờ, vì bất thiện. Chúng con nghĩ chúng con có thể công kích Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho chúng con, lỗi lầm là lỗi lầm để gìn giữ trong tương lai.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn mỉm cười.
Vi-n 6 Các quần tiên ấy càng tức tối thêm và bay lên hư không.
Vi-n 7 Một vị Thiên nói bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ai không chịu chấp nhận,
Tội lỗi được phát lộ,
Nội phẫn, ưa sân hận,
Hận thù càng kiên chặt.
Nếu không có tội lỗi,
Ở đây không lầm lạc,
Hận thù không thể tiêu.
Do gì xem là thiện?
Với ai không tội lỗi?
Với ai không lầm lạc?
Ai không bị si mê?
Ai kẻ trí thường niệm?
(Thế Tôn):
Như Lai, bậc Giác Ngộ,
Thương xót mọi hữu tình,
Nơi Ngài không tội lỗi,
Nơi Ngài không lầm lạc.
Ngài không bị si mê,
Ngài chánh trí thường niệm.
Ai không chịu chấp nhận,
Tội lỗi được phát lộ,
Nội phẫn, ưa sân hận,
Hận thù càng kiên chặt.
Ta không thích hận thù,
Ta nhận tội các Ông.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho sambahulā ujjhānasaññikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā vehāsaṁ aṭṭhaṁsu.
Vehāsaṁ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Aññathā santamattānaṁ,
aññathā yo pavedaye;
Nikacca kitavasseva,
bhuttaṁ theyyena tassa taṁ.
Yañhi kayirā tañhi vade,
yaṁ na kayirā na taṁ vade;
Akarontaṁ bhāsamānaṁ,
parijānanti paṇḍitā”ti.
“Na yidaṁ bhāsitamattena,
ekantasavanena vā;
Anukkamitave sakkā,
yāyaṁ paṭipadā daḷhā;
Yāya dhīrā pamuccanti,
jhāyino mārabandhanā.
Na ve dhīrā pakubbanti,
viditvā lokapariyāyaṁ;
Aññāya nibbutā dhīrā,
tiṇṇā loke visattikan”ti.
Atha kho tā devatāyo pathaviyaṁ patiṭṭhahitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“accayo no, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yā mayaṁ bhagavantaṁ āsādetabbaṁ amaññimhā.
Tāsaṁ no, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
Atha kho bhagavā sitaṁ pātvākāsi.
Atha kho tā devatāyo bhiyyoso mattāya ujjhāyantiyo vehāsaṁ abbhuggañchuṁ.
Ekā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Accayaṁ desayantīnaṁ,
yo ce na paṭigaṇhati;
Kopantaro dosagaru,
sa veraṁ paṭimuñcatī”ti.
“Accayo ce na vijjetha,
nocidhāpagataṁ siyā;
Verāni na ca sammeyyuṁ,
kenīdha kusalo siyā”ti.
“Kassaccayā na vijjanti,
kassa natthi apāgataṁ;
Ko na sammohamāpādi,
ko ca dhīro sadā sato”ti.
“Tathāgatassa buddhassa,
sabbabhūtānukampino;
Tassaccayā na vijjanti,
tassa natthi apāgataṁ;
So na sammohamāpādi,
sova dhīro sadā satoti.
Accayaṁ desayantīnaṁ,
yo ce na paṭigaṇhati;
Kopantaro dosagaru,
sa veraṁ paṭimuñcati;
Taṁ veraṁ nābhinandāmi,
paṭiggaṇhāmi voccayan”ti.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapiṇḍika’s Park. Then, when the night had advanced, a number of “faultfinding” devatās, of stunning beauty, illuminating the entire Jeta’s Grove, approached the Blessed One and stood in the air. sn.i.24
SC 2Then one devatā, standing in the air, recited this verse in the presence of the Blessed One:
SC 3 “If one shows oneself in one way
While actually being otherwise,
What one enjoys is obtained by theft
Like the gains of a cheating gambler.”
Another devatā:
SC 4 “One should speak as one would act;
Don’t speak as one wouldn’t act.
The wise clearly discern the person
Who does not practise what he preaches.”
The Blessed One:
SC 5 “Not by mere speech nor solely by listening
Can one advance on this firm path of practice
By which the wise ones, the meditators,
Are released from the bondage of Mara.
SC 6 “Truly, the wise do not pretend,
For they have understood the way of the world.
By final knowledge the wise are quenched:
They have crossed over attachment to the world.”
SC 7Then those devatās, having alighted on the earth, prostrated themselves with their heads at the Blessed One’s feet and said to the Blessed One:“A transgression overcame us, venerable sir, being so foolish, so stupid, so unskilful that we imagined we could assail the Blessed One. Let the Blessed One pardon us for our transgression seen as such for the sake of restraint in the future.”
SC 8Then the Blessed One displayed a smile. Those devatās, finding fault to an even greater extent, then rose up into the air. One devatā recited this verse in the presence of the Blessed One:
SC 9 “If one does not grant pardon
To those who confess transgression,
Angry at heart, intent on hate,
One strongly harbours enmity.”
The Blessed One:
SC 10 “If there was no transgression,
If here there was no going astray,
And if enmities were appeased,
Then one would be faultless here.”
A devatā:
SC 11 “For whom are there no transgressions?
For whom is there no going astray?
Who has not fallen into confusion?
And who is the wise one, ever mindful?” sn.i.25
The Blessed One:
SC 12 “The Tathagata, the Enlightened One,
Full of compassion for all beings:
For him there are no transgressions,
For him there is no going astray;
He has not fallen into confusion,
And he is the wise one, ever mindful.
SC 13 “If one does not grant pardon
To those who confess transgression,
Angry at heart, intent on hate,
One strongly harbours enmity.
In that enmity I do not delight,
Thus I pardon your transgression.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Vi-n 2 Rồi rất nhiều quần tiên Ujjhànasannà (Hiềm trách thiên), sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, các vị ấy đứng giữa hư không.
Vi-n 3 Rồi một vị Thiên đứng giữa hư không, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Những ai nói mình khác
Với điều họ thực có,
Thời mọi vật thọ dụng,
Xem như do trộm cắp,
Chẳng khác kẻ gian manh,
Dùng lừa đảo trộm cắp.
Hãy nói điều có làm,
Không nói điều không làm,
Không làm nói có làm,
Kẻ trí biết rõ họ.
(Thế Tôn):
Những ai chỉ biết nói,
Hay chỉ biết nghe thôi,
Những hạng người như vậy,
Không thể nào tiến bộ.
Khó nhọc thay con đường,
Giúp kẻ trí giải thoát.
Nhờ Thiền định thiêu cháy,
Mọi trói buộc quần ma,
Kẻ trí không làm vậy,
Sau khi biết thế tình,
Với trí, chứng Niết-bàn,
Vượt chấp trước ở đời.
Vi-n 4 Rồi các quần tiên ấy đứng xuống đất, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
—Ðây là tội lỗi của chúng con, bạch Thế Tôn. Chúng con đi đến tội lỗi, vì ngu xuẩn, vì mê mờ, vì bất thiện. Chúng con nghĩ chúng con có thể công kích Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho chúng con, lỗi lầm là lỗi lầm để gìn giữ trong tương lai.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn mỉm cười.
Vi-n 6 Các quần tiên ấy càng tức tối thêm và bay lên hư không.
Vi-n 7 Một vị Thiên nói bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ai không chịu chấp nhận,
Tội lỗi được phát lộ,
Nội phẫn, ưa sân hận,
Hận thù càng kiên chặt.
Nếu không có tội lỗi,
Ở đây không lầm lạc,
Hận thù không thể tiêu.
Do gì xem là thiện?
Với ai không tội lỗi?
Với ai không lầm lạc?
Ai không bị si mê?
Ai kẻ trí thường niệm?
(Thế Tôn):
Như Lai, bậc Giác Ngộ,
Thương xót mọi hữu tình,
Nơi Ngài không tội lỗi,
Nơi Ngài không lầm lạc.
Ngài không bị si mê,
Ngài chánh trí thường niệm.
Ai không chịu chấp nhận,
Tội lỗi được phát lộ,
Nội phẫn, ưa sân hận,
Hận thù càng kiên chặt.
Ta không thích hận thù,
Ta nhận tội các Ông.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho sambahulā ujjhānasaññikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā vehāsaṁ aṭṭhaṁsu.
Vehāsaṁ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Aññathā santamattānaṁ,
aññathā yo pavedaye;
Nikacca kitavasseva,
bhuttaṁ theyyena tassa taṁ.
Yañhi kayirā tañhi vade,
yaṁ na kayirā na taṁ vade;
Akarontaṁ bhāsamānaṁ,
parijānanti paṇḍitā”ti.
“Na yidaṁ bhāsitamattena,
ekantasavanena vā;
Anukkamitave sakkā,
yāyaṁ paṭipadā daḷhā;
Yāya dhīrā pamuccanti,
jhāyino mārabandhanā.
Na ve dhīrā pakubbanti,
viditvā lokapariyāyaṁ;
Aññāya nibbutā dhīrā,
tiṇṇā loke visattikan”ti.
Atha kho tā devatāyo pathaviyaṁ patiṭṭhahitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“accayo no, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yā mayaṁ bhagavantaṁ āsādetabbaṁ amaññimhā.
Tāsaṁ no, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
Atha kho bhagavā sitaṁ pātvākāsi.
Atha kho tā devatāyo bhiyyoso mattāya ujjhāyantiyo vehāsaṁ abbhuggañchuṁ.
Ekā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Accayaṁ desayantīnaṁ,
yo ce na paṭigaṇhati;
Kopantaro dosagaru,
sa veraṁ paṭimuñcatī”ti.
“Accayo ce na vijjetha,
nocidhāpagataṁ siyā;
Verāni na ca sammeyyuṁ,
kenīdha kusalo siyā”ti.
“Kassaccayā na vijjanti,
kassa natthi apāgataṁ;
Ko na sammohamāpādi,
ko ca dhīro sadā sato”ti.
“Tathāgatassa buddhassa,
sabbabhūtānukampino;
Tassaccayā na vijjanti,
tassa natthi apāgataṁ;
So na sammohamāpādi,
sova dhīro sadā satoti.
Accayaṁ desayantīnaṁ,
yo ce na paṭigaṇhati;
Kopantaro dosagaru,
sa veraṁ paṭimuñcati;
Taṁ veraṁ nābhinandāmi,
paṭiggaṇhāmi voccayan”ti.