Vi-n 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Kūru, tại thị trấn dân chúng Kūru tên là Kammāsadhamma.
Vi-n 2 Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:—“Này các Tỷ-kheo”.—“Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, các ông có nắm giữ với nội xúc hay không?
Vi-n 4 Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con có nắm giữ, với nội xúc.
Vi-n 5 —Này các Tỷ-kheo, nhưng ông nắm giữ nội xúc như thế nào?
Vi-n 6 Tỷ-kheo ấy trả lời. Với câu trả lời, Tỷ-kheo ấy không làm tâm Thế Tôn thỏa mãn.
Vi-n 7 Khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời. Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời Thế Tôn nói về nội xúc. Sau khi nghe, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
Vi-n 8 —Vậy này Ānanda, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 9 Thế Tôn nói như sau:
—Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi nắm giữ nội xúc, nắm giữ nội xúc như sau: “Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết; sự đau khổ này lấy cái gì làm nhân, hay lấy cái gì làm tập khởi, lấy cái gì làm tác sanh, lấy cái gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết như sau: “Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết. Sự đau khổ này lấy sanh y làm nhân, lấy sanh y làm tập khởi, lấy sanh y làm tác sanh, lấy sanh y làm hiện hữu. Do sanh y có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh y không có mặt, già chết không hiện hữu”. Vị ấy biết già chết. Vị ấy biết già chết tập khởi. Vị ấy biết già chết đoạn diệt. Vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Và nhờ thực hành như vậy, vị ấy trở thành một vị tùy pháp hành.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã thực hành để diệt tận khổ đau, để đoạn diệt già chết một cách hoàn toàn.
Vi-n 10 Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau: “Sanh y này lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm tác sanh, lấy gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, sanh y hiện hữu? Cái gì không có mặt, sanh y không hiện hữu?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết được như sau: “Sanh y lấy ái làm nhân, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm tác sanh, lấy ái làm hiện hữu. Do ái có mặt, sanh y hiện hữu. Do ái không có mặt, sanh y không hiện hữu”. Vị ấy biết sanh y, biết sanh y tập khởi, biết sanh y đoạn diệt, và biết con đường thích ứng đưa đến sanh y đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy được gọi là tùy pháp hành.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã chơn chánh thực hành để tận diệt đau khổ và đoạn diệt sanh y một cách hoàn toàn.
Vi-n 11 Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau: “Nhưng ái này, khởi lên tại chỗ nào được khởi lên, an trú tại chỗ nào được an trú?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết được như sau: “Tất cả những gì ở đời khả ái, hấp dẫn, khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú. Và cái gì ở đời khả ái, hấp dẫn? Con mắt ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy ái được an trú”.
Vi-n 12 … Lỗ tai ở đời là khả ái, hấp dẫn…
Vi-n 13 … Lỗ mũi ở đời là khả ái, hấp dẫn…
Vi-n 14 … Lưỡi ở đời là khả ái, hấp dẫn…
Vi-n 15 … Thân ở đời là khả ái, hấp dẫn…
Vi-n 16 … Ý ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú.
Vi-n 17 Này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, thấy là tự ngã, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Vi-n 18 Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy sẽ làm ái tăng trưởng.
Vi-n 20 Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy sẽ làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy sẽ làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không có thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 21 Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Vi-n 22 Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 23 Này các Tỷ-kheo, ví như một bình bằng đồng, đựng nước uống có sắc, có hương, có vị và nước uống ấy có pha thuốc độc. Rồi một người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước và có những người nói với người ấy như sau: “Này Bạn, bình đồng đựng nước uống này, có sắc, có hương, có vị, và bình nước uống ấy có pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy, Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết”. Người kia có thể uống bình nước bằng đồng ấy một cách hấp tấp không suy nghĩ, không từ bỏ. Người kia do nhân duyên ấy, có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết.
Vi-n 24 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, phàm vật gì khả ái hấp dẫn ở đời…
Vi-n 25 … Những ai trong tương lai…
Vi-n 26 Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Vi-n 27 Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 28 Và này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy từ bỏ ái.
Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy đã được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ đã giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 29 Và này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy sẽ từ bỏ ái.
Vi-n 30 Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y… Ta nói họ có thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 31 Còn những ai, này các Tỷ-kheo, trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.
Vi-n 32 Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy sẽ giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ sẽ giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 33 Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình nước bằng đồng có sắc, có hương, có vị, nhưng bị pha thuốc độc. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Có những người nói với người ấy: “Này Bạn, bình nước bằng đồng này có sắc, có hương, có vị, nhưng bình nước uống ấy bị pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết”.
Vi-n 34 Và này các Tỷ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau: “Ở đây, ta có thể nhiếp phục khát nước này với uống rượu, hay nhiếp phục với ăn sữa đông (sanh tô), hay nhiếp phục với ngậm muối, hay nhiếp phục với cháo chua. Nhưng ta không có thể uống thứ này, nó khiến ta phải bất hạnh, đau khổ lâu dài”. Người ấy sau khi suy nghĩ, không uống và từ bỏ thứ nước uống ấy. Do nhân duyên này, người ấy không đi đến chết, hay sự đau khổ gần như chết.
Vi-n 35 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong thời quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là đau khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ đoạn trừ ái.
Vi-n 36 Những ai đoạn trừ ái, những người ấy đoạn trừ sanh y. Những ai đoạn trừ sanh y, những người ấy đoạn trừ đau khổ. Những ai đoạn trừ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ được giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 37-38 Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai…
Vi-n 39 Những ai trong thời hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.
Vi-n 40 Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ được giải thoát khỏi đau khổ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kurūsu viharati kammāsadhammaṁ nāma kurūnaṁ nigamo.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“sammasatha no tumhe, bhikkhave, antaraṁ sammasan”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahaṁ kho, bhante, sammasāmi antaraṁ sammasan”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, sammasasi antaraṁ sammasan”ti?
Atha kho so bhikkhu byākāsi.
Yathā so bhikkhu byākāsi na so bhikkhu bhagavato cittaṁ ārādhesi.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo;
yaṁ bhagavā antaraṁ sammasaṁ bhāseyya. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tenahānanda, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Idha, bhikkhave, bhikkhu sammasamāno sammasati antaraṁ sammasaṁ:
‘yaṁ kho idaṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ dukkhaṁ loke uppajjati jarāmaraṇaṁ.
Idaṁ kho dukkhaṁ kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ, kismiṁ sati jarāmaraṇaṁ hoti, kismiṁ asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti?
So sammasamāno evaṁ jānāti:
‘yaṁ kho idaṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ dukkhaṁ loke uppajjati jarāmaraṇaṁ.
Idaṁ kho dukkhaṁ upadhinidānaṁ upadhisamudayaṁ upadhijātikaṁ upadhipabhavaṁ, upadhismiṁ sati jarāmaraṇaṁ hoti, upadhismiṁ asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti.
So jarāmaraṇañca pajānāti jarāmaraṇasamudayañca pajānāti jarāmaraṇanirodhañca pajānāti yā ca jarāmaraṇanirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti.
Tathāpaṭipanno ca hoti anudhammacārī.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno jarāmaraṇanirodhāya.
Athāparaṁ sammasamāno sammasati antaraṁ sammasaṁ:
‘upadhi panāyaṁ kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo, kismiṁ sati upadhi hoti, kismiṁ asati upadhi na hotī’ti?
So sammasamāno evaṁ jānāti:
‘upadhi taṇhānidāno taṇhāsamudayo taṇhājātiko taṇhāpabhavo, taṇhāya sati upadhi hoti, taṇhāya asati upadhi na hotī’ti.
So upadhiñca pajānāti upadhisamudayañca pajānāti upadhinirodhañca pajānāti yā ca upadhinirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti.
Tathāpaṭipanno ca hoti anudhammacārī.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno upadhinirodhāya.
Athāparaṁ sammasamāno sammasati antaraṁ sammasaṁ:
‘taṇhā panāyaṁ kattha uppajjamānā uppajjati, kattha nivisamānā nivisatī’ti?
So sammasamāno evaṁ jānāti—
yaṁ kho loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
Kiñca loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ?
Cakkhuṁ loke piyarūpaṁ, sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
Sotaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ …pe…
ghānaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ …
jivhā loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ …
kāyo loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ …
mano loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati ettha nivisamānā nivisati.
Ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ niccato addakkhuṁ sukhato addakkhuṁ attato addakkhuṁ ārogyato addakkhuṁ khemato addakkhuṁ.
Te taṇhaṁ vaḍḍhesuṁ.
Ye taṇhaṁ vaḍḍhesuṁ te upadhiṁ vaḍḍhesuṁ.
Ye upadhiṁ vaḍḍhesuṁ te dukkhaṁ vaḍḍhesuṁ.
Ye dukkhaṁ vaḍḍhesuṁ te na parimucciṁsu jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘na parimucciṁsu dukkhasmā’ti vadāmi.
Yepi hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ niccato dakkhissanti sukhato dakkhissanti attato dakkhissanti ārogyato dakkhissanti khemato dakkhissanti.
Te taṇhaṁ vaḍḍhissanti.
Ye taṇhaṁ vaḍḍhissanti te upadhiṁ vaḍḍhissanti.
Ye upadhiṁ vaḍḍhissanti te dukkhaṁ vaḍḍhissanti.
Ye dukkhaṁ vaḍḍhissanti te na parimuccissanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘na parimuccissanti dukkhasmā’ti vadāmi.
Yepi hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ niccato passanti sukhato passanti attato passanti ārogyato passanti khemato passanti.
Te taṇhaṁ vaḍḍhenti.
Ye taṇhaṁ vaḍḍhenti te upadhiṁ vaḍḍhenti.
Ye upadhiṁ vaḍḍhenti te dukkhaṁ vaḍḍhenti.
Ye dukkhaṁ vaḍḍhenti te na parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘na parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi.
Seyyathāpi, bhikkhave, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno.
So ca kho visena saṁsaṭṭho.
Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ayaṁ te, ambho purisa, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno;
so ca kho visena saṁsaṭṭho.
Sace ākaṅkhasi piva.
Pivato hi kho taṁ chādessati vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchasi maraṇamattaṁ vā dukkhan’ti.
So taṁ āpānīyakaṁsaṁ sahasā appaṭisaṅkhā piveyya, nappaṭinissajjeyya.
So tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Evameva kho, bhikkhave, ye hi keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ …pe…
anāgatamaddhānaṁ …pe…
etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ niccato passanti sukhato passanti attato passanti ārogyato passanti khemato passanti, te taṇhaṁ vaḍḍhenti.
Ye taṇhaṁ vaḍḍhenti te upadhiṁ vaḍḍhenti.
Ye upadhiṁ vaḍḍhenti te dukkhaṁ vaḍḍhenti.
Ye dukkhaṁ vaḍḍhenti te na parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘na parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi.
Ye ca kho keci, bhikkhave, atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato addakkhuṁ dukkhato addakkhuṁ anattato addakkhuṁ rogato addakkhuṁ bhayato addakkhuṁ,
te taṇhaṁ pajahiṁsu.
Ye taṇhaṁ pajahiṁsu te upadhiṁ pajahiṁsu.
Ye upadhiṁ pajahiṁsu te dukkhaṁ pajahiṁsu.
Ye dukkhaṁ pajahiṁsu te parimucciṁsu jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimucciṁsu dukkhasmā’ti vadāmi.
Yepi hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato dakkhissanti dukkhato dakkhissanti anattato dakkhissanti rogato dakkhissanti bhayato dakkhissanti,
te taṇhaṁ pajahissanti.
Ye taṇhaṁ pajahissanti …pe…
‘parimuccissanti dukkhasmā’ti vadāmi.
Yepi hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato passanti dukkhato passanti anattato passanti rogato passanti bhayato passanti,
te taṇhaṁ pajahanti.
Ye taṇhaṁ pajahanti te upadhiṁ pajahanti.
Ye upadhiṁ pajahanti te dukkhaṁ pajahanti.
Ye dukkhaṁ pajahanti te parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi.
Seyyathāpi, bhikkhave, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno.
So ca kho visena saṁsaṭṭho.
Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ayaṁ te, ambho purisa, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno
so ca kho visena saṁsaṭṭho.
Sace ākaṅkhasi piva.
Pivato hi kho taṁ chādessati vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi; pivitvā ca pana tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchasi maraṇamattaṁ vā dukkhan’ti.
Atha kho, bhikkhave, tassa purisassa evamassa:
‘sakkā kho me ayaṁ surāpipāsitā pānīyena vā vinetuṁ dadhimaṇḍakena vā vinetuṁ bhaṭṭhaloṇikāya vā vinetuṁ loṇasovīrakena vā vinetuṁ, na tvevāhaṁ taṁ piveyyaṁ, yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti.
So taṁ āpānīyakaṁsaṁ paṭisaṅkhā na piveyya, paṭinissajjeyya.
So tatonidānaṁ na maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Evameva kho, bhikkhave, ye hi keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato addakkhuṁ dukkhato addakkhuṁ anattato addakkhuṁ rogato addakkhuṁ bhayato addakkhuṁ,
te taṇhaṁ pajahiṁsu.
Ye taṇhaṁ pajahiṁsu te upadhiṁ pajahiṁsu.
Ye upadhiṁ pajahiṁsu te dukkhaṁ pajahiṁsu.
Ye dukkhaṁ pajahiṁsu te parimucciṁsu jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimucciṁsu dukkhasmā’ti vadāmi.
Yepi hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṁ …pe…
etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato passanti dukkhato passanti anattato passanti rogato passanti bhayato passanti,
te taṇhaṁ pajahanti.
Ye taṇhaṁ pajahanti te upadhiṁ pajahanti.
Ye upadhiṁ pajahanti te dukkhaṁ pajahanti.
Ye dukkhaṁ pajahanti te parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling among the Kurus, where there was a town of the Kurus named Kammasadamma. There the Blessed One addressed the bhikkhus thus: “Bhikkhus!”
SC 2“Venerable sir!” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:
“Do you engage in inward exploration, bhikkhus?”
SC 3When this was said, one bhikkhu said to the Blessed One: “Venerable sir, I engage in inward exploration.”
SC 4“How do you engage in inward exploration, bhikkhu?”
SC 5The bhikkhu then explained but the way he explained did not satisfy the Blessed One. Then the Venerable Ānanda said: “Now is the time for this, Blessed One! Now is the time for this, Fortunate One! Let the Blessed One explain inward exploration. Having heard it from the Blessed One, the bhikkhus will remember it.”
SC 6“Then listen and attend closely, Ānanda, I will speak.”
SC 7“Yes, venerable sir,” the bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 8“Here, bhikkhus, when engaged in inward exploration, a bhikkhu explores thus: ‘The many diverse kinds of suffering that arise in the world headed by aging-and-death: what is the source of this suffering, what is its origin, sn.ii.108 from what is it born and produced? When what exists does aging-and-death come to be? When what does not exist does aging-and-death not come to be?’
SC 9“As he explores he understands thus: ‘The many diverse kinds of suffering that arise in the world headed by aging-and-death: this suffering has acquisition as its source, acquisition as its origin; it is born and produced from acquisition. When there is acquisition, aging-and-death comes to be; when there is no acquisition, aging-and-death does not come to be.’
SC 10“He understands aging-and-death, its origin, its cessation, and the way leading on that is in conformity with its cessation. He practises in that way and conducts himself accordingly. This is called a bhikkhu who is practising for the utterly complete destruction of suffering, for the cessation of aging-and-death.
SC 11“Then, engaging further in inward exploration, he explores thus: ‘What is the source of this acquisition, what is its origin, from what is it born and produced? When what exists does acquisition come to be? When what is absent does acquisition not come to be?’
SC 12“As he explores he understands thus: ‘Acquisition has craving as its source, craving as its origin; it is born and produced from craving. When there is craving, acquisition comes to be; when there is no craving, acquisition does not come to be.’
SC 13“He understands acquisition, its origin, its cessation, and the way leading on that is in conformity with its cessation. He practises in that way and conducts himself accordingly. This is called a bhikkhu who is practising for the utterly complete destruction of suffering, for the cessation of acquisition.
SC 14“Then, engaging further in inward exploration, he explores thus: ‘When this craving arises, where does it arise? When it settles down, upon what does it settle?’
SC 15“As he explores he understands thus: ‘Whatever in the world has a pleasant and agreeable nature: it is here that this craving arises when it arises; it is here that it settles when it settles down.’ And what in the world has a pleasant and agreeable nature? The eye has a pleasant and agreeable nature in the world: it is here that this craving arises when it arises; it is here that it settles when it settles down. So too the ear, sn.ii.109 the nose, the tongue, the body, and the mind have a pleasant and agreeable nature: it is here that this craving arises when it arises; it is here that it settles when it settles down.
SC 16“Bhikkhus, whatever ascetics and brahmins in the past regarded that in the world with a pleasant and agreeable nature as permanent, as happiness, as self, as healthy, as secure: they nurtured craving. In nurturing craving they nurtured acquisition. In nurturing acquisition they nurtured suffering. In nurturing suffering they were not freed from birth, aging, and death; they were not freed from sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair; they were not freed from suffering, I say.
SC 17“Whatever ascetics and brahmins in the future will regard that in the world with a pleasant and agreeable nature as permanent, as happiness, as self, as healthy, as secure: they will nurture craving. In nurturing craving they will nurture acquisition. In nurturing acquisition they will nurture suffering. In nurturing suffering they will not be freed from birth, aging, and death; they will not be freed from sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair; they will not be freed from suffering, I say.
SC 18“Whatever ascetics and brahmins at present regard that in the world with a pleasant and agreeable nature as permanent, as happiness, as self, as healthy, as secure: they are nurturing craving. In nurturing craving they are nurturing acquisition. In nurturing acquisition they are nurturing suffering. In nurturing suffering they are not freed from birth, aging, and death; they are not freed from sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair; they are not freed from suffering, I say. sn.ii.110
SC 19“Suppose, bhikkhus, there was a bronze cup of a beverage having a fine colour, aroma, and taste, but it was mixed with poison. Then a man would come along, oppressed and afflicted by the heat, tired, parched, and thirsty. They would tell him: ‘Good man, this beverage in the bronze cup has a fine colour, aroma, and taste, but it is mixed with poison. Drink it if you wish. If you drink it, it will gratify you with its colour, aroma, and taste, but by drinking it you will meet death or deadly suffering.’ Suddenly, without reflecting, he would drink the beverage—he would not reject it—and thereby he would meet death or deadly suffering.
SC 20“So too, bhikkhus, whatever ascetics and brahmins in the past … in the future … at present regard that in the world with a pleasant and agreeable nature as permanent, as happiness, as self, as healthy, as secure: they are nurturing craving. In nurturing craving … they are not freed from suffering, I say.
SC 21“Bhikkhus, whatever ascetics and brahmins in the past regarded that in the world with a pleasant and agreeable nature as impermanent, as suffering, as nonself, as a disease, as fearful: they abandoned craving. In abandoning craving they abandoned acquisition. In abandoning acquisition they abandoned suffering. In abandoning suffering they were freed from birth, aging, and death; they were freed from sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair; they were freed from suffering, I say.
SC 22“Whatever ascetics and brahmins in the future sn.ii.111 will regard that in the world with a pleasant and agreeable nature as impermanent, as suffering, as nonself, as a disease, as fearful: they will abandon craving. In abandoning craving … they will be freed from suffering, I say.
SC 23“Whatever ascetics and brahmins at present regard that in the world with a pleasant and agreeable nature as impermanent, as suffering, as nonself, as a disease, as fearful: they are abandoning craving. In abandoning craving … they are freed from suffering, I say.
SC 24“Suppose, bhikkhus, there was a bronze cup of a beverage having a fine colour, aroma, and taste, but it was mixed with poison. Then a man would come along, oppressed and afflicted by the heat, tired, parched, and thirsty. They would tell him: ‘Good man, this beverage in the bronze cup has a fine colour, aroma, and taste, but it is mixed with poison. Drink it if you wish. If you drink it, it will gratify you with its colour, aroma, and taste, but by drinking it you will meet death or deadly suffering. ’ Then the man would think: ‘I can quench my thirst with water, whey, porridge, or soup, but I should not drink that beverage, since to do so would lead to my harm and suffering for a long time.’ Having reflected, he would not drink the beverage but would reject it, sn.ii.112 and thereby he would not meet death or deadly suffering.
SC 25“So too, bhikkhus, whatever ascetics and brahmins in the past … in the future … at present regard that in the world with a pleasant and agreeable nature as impermanent, as suffering, as nonself, as a disease, as fearful: they are abandoning craving. In abandoning craving … they are freed from suffering, I say.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Kūru, tại thị trấn dân chúng Kūru tên là Kammāsadhamma.
Vi-n 2 Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:—“Này các Tỷ-kheo”.—“Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, các ông có nắm giữ với nội xúc hay không?
Vi-n 4 Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con có nắm giữ, với nội xúc.
Vi-n 5 —Này các Tỷ-kheo, nhưng ông nắm giữ nội xúc như thế nào?
Vi-n 6 Tỷ-kheo ấy trả lời. Với câu trả lời, Tỷ-kheo ấy không làm tâm Thế Tôn thỏa mãn.
Vi-n 7 Khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời. Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời Thế Tôn nói về nội xúc. Sau khi nghe, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
Vi-n 8 —Vậy này Ānanda, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 9 Thế Tôn nói như sau:
—Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi nắm giữ nội xúc, nắm giữ nội xúc như sau: “Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết; sự đau khổ này lấy cái gì làm nhân, hay lấy cái gì làm tập khởi, lấy cái gì làm tác sanh, lấy cái gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết như sau: “Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết. Sự đau khổ này lấy sanh y làm nhân, lấy sanh y làm tập khởi, lấy sanh y làm tác sanh, lấy sanh y làm hiện hữu. Do sanh y có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh y không có mặt, già chết không hiện hữu”. Vị ấy biết già chết. Vị ấy biết già chết tập khởi. Vị ấy biết già chết đoạn diệt. Vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Và nhờ thực hành như vậy, vị ấy trở thành một vị tùy pháp hành.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã thực hành để diệt tận khổ đau, để đoạn diệt già chết một cách hoàn toàn.
Vi-n 10 Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau: “Sanh y này lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm tác sanh, lấy gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, sanh y hiện hữu? Cái gì không có mặt, sanh y không hiện hữu?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết được như sau: “Sanh y lấy ái làm nhân, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm tác sanh, lấy ái làm hiện hữu. Do ái có mặt, sanh y hiện hữu. Do ái không có mặt, sanh y không hiện hữu”. Vị ấy biết sanh y, biết sanh y tập khởi, biết sanh y đoạn diệt, và biết con đường thích ứng đưa đến sanh y đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy được gọi là tùy pháp hành.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã chơn chánh thực hành để tận diệt đau khổ và đoạn diệt sanh y một cách hoàn toàn.
Vi-n 11 Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau: “Nhưng ái này, khởi lên tại chỗ nào được khởi lên, an trú tại chỗ nào được an trú?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết được như sau: “Tất cả những gì ở đời khả ái, hấp dẫn, khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú. Và cái gì ở đời khả ái, hấp dẫn? Con mắt ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy ái được an trú”.
Vi-n 12 … Lỗ tai ở đời là khả ái, hấp dẫn…
Vi-n 13 … Lỗ mũi ở đời là khả ái, hấp dẫn…
Vi-n 14 … Lưỡi ở đời là khả ái, hấp dẫn…
Vi-n 15 … Thân ở đời là khả ái, hấp dẫn…
Vi-n 16 … Ý ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú.
Vi-n 17 Này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, thấy là tự ngã, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Vi-n 18 Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy sẽ làm ái tăng trưởng.
Vi-n 20 Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy sẽ làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy sẽ làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không có thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 21 Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Vi-n 22 Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 23 Này các Tỷ-kheo, ví như một bình bằng đồng, đựng nước uống có sắc, có hương, có vị và nước uống ấy có pha thuốc độc. Rồi một người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước và có những người nói với người ấy như sau: “Này Bạn, bình đồng đựng nước uống này, có sắc, có hương, có vị, và bình nước uống ấy có pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy, Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết”. Người kia có thể uống bình nước bằng đồng ấy một cách hấp tấp không suy nghĩ, không từ bỏ. Người kia do nhân duyên ấy, có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết.
Vi-n 24 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, phàm vật gì khả ái hấp dẫn ở đời…
Vi-n 25 … Những ai trong tương lai…
Vi-n 26 Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Vi-n 27 Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 28 Và này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy từ bỏ ái.
Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy đã được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ đã giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 29 Và này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy sẽ từ bỏ ái.
Vi-n 30 Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y… Ta nói họ có thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 31 Còn những ai, này các Tỷ-kheo, trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.
Vi-n 32 Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy sẽ giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ sẽ giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 33 Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình nước bằng đồng có sắc, có hương, có vị, nhưng bị pha thuốc độc. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Có những người nói với người ấy: “Này Bạn, bình nước bằng đồng này có sắc, có hương, có vị, nhưng bình nước uống ấy bị pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết”.
Vi-n 34 Và này các Tỷ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau: “Ở đây, ta có thể nhiếp phục khát nước này với uống rượu, hay nhiếp phục với ăn sữa đông (sanh tô), hay nhiếp phục với ngậm muối, hay nhiếp phục với cháo chua. Nhưng ta không có thể uống thứ này, nó khiến ta phải bất hạnh, đau khổ lâu dài”. Người ấy sau khi suy nghĩ, không uống và từ bỏ thứ nước uống ấy. Do nhân duyên này, người ấy không đi đến chết, hay sự đau khổ gần như chết.
Vi-n 35 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong thời quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là đau khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ đoạn trừ ái.
Vi-n 36 Những ai đoạn trừ ái, những người ấy đoạn trừ sanh y. Những ai đoạn trừ sanh y, những người ấy đoạn trừ đau khổ. Những ai đoạn trừ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ được giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 37-38 Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai…
Vi-n 39 Những ai trong thời hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.
Vi-n 40 Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ được giải thoát khỏi đau khổ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kurūsu viharati kammāsadhammaṁ nāma kurūnaṁ nigamo.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“sammasatha no tumhe, bhikkhave, antaraṁ sammasan”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahaṁ kho, bhante, sammasāmi antaraṁ sammasan”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, sammasasi antaraṁ sammasan”ti?
Atha kho so bhikkhu byākāsi.
Yathā so bhikkhu byākāsi na so bhikkhu bhagavato cittaṁ ārādhesi.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo;
yaṁ bhagavā antaraṁ sammasaṁ bhāseyya. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tenahānanda, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Idha, bhikkhave, bhikkhu sammasamāno sammasati antaraṁ sammasaṁ:
‘yaṁ kho idaṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ dukkhaṁ loke uppajjati jarāmaraṇaṁ.
Idaṁ kho dukkhaṁ kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ, kismiṁ sati jarāmaraṇaṁ hoti, kismiṁ asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti?
So sammasamāno evaṁ jānāti:
‘yaṁ kho idaṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ dukkhaṁ loke uppajjati jarāmaraṇaṁ.
Idaṁ kho dukkhaṁ upadhinidānaṁ upadhisamudayaṁ upadhijātikaṁ upadhipabhavaṁ, upadhismiṁ sati jarāmaraṇaṁ hoti, upadhismiṁ asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti.
So jarāmaraṇañca pajānāti jarāmaraṇasamudayañca pajānāti jarāmaraṇanirodhañca pajānāti yā ca jarāmaraṇanirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti.
Tathāpaṭipanno ca hoti anudhammacārī.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno jarāmaraṇanirodhāya.
Athāparaṁ sammasamāno sammasati antaraṁ sammasaṁ:
‘upadhi panāyaṁ kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo, kismiṁ sati upadhi hoti, kismiṁ asati upadhi na hotī’ti?
So sammasamāno evaṁ jānāti:
‘upadhi taṇhānidāno taṇhāsamudayo taṇhājātiko taṇhāpabhavo, taṇhāya sati upadhi hoti, taṇhāya asati upadhi na hotī’ti.
So upadhiñca pajānāti upadhisamudayañca pajānāti upadhinirodhañca pajānāti yā ca upadhinirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti.
Tathāpaṭipanno ca hoti anudhammacārī.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno upadhinirodhāya.
Athāparaṁ sammasamāno sammasati antaraṁ sammasaṁ:
‘taṇhā panāyaṁ kattha uppajjamānā uppajjati, kattha nivisamānā nivisatī’ti?
So sammasamāno evaṁ jānāti—
yaṁ kho loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
Kiñca loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ?
Cakkhuṁ loke piyarūpaṁ, sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
Sotaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ …pe…
ghānaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ …
jivhā loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ …
kāyo loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ …
mano loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati ettha nivisamānā nivisati.
Ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ niccato addakkhuṁ sukhato addakkhuṁ attato addakkhuṁ ārogyato addakkhuṁ khemato addakkhuṁ.
Te taṇhaṁ vaḍḍhesuṁ.
Ye taṇhaṁ vaḍḍhesuṁ te upadhiṁ vaḍḍhesuṁ.
Ye upadhiṁ vaḍḍhesuṁ te dukkhaṁ vaḍḍhesuṁ.
Ye dukkhaṁ vaḍḍhesuṁ te na parimucciṁsu jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘na parimucciṁsu dukkhasmā’ti vadāmi.
Yepi hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ niccato dakkhissanti sukhato dakkhissanti attato dakkhissanti ārogyato dakkhissanti khemato dakkhissanti.
Te taṇhaṁ vaḍḍhissanti.
Ye taṇhaṁ vaḍḍhissanti te upadhiṁ vaḍḍhissanti.
Ye upadhiṁ vaḍḍhissanti te dukkhaṁ vaḍḍhissanti.
Ye dukkhaṁ vaḍḍhissanti te na parimuccissanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘na parimuccissanti dukkhasmā’ti vadāmi.
Yepi hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ niccato passanti sukhato passanti attato passanti ārogyato passanti khemato passanti.
Te taṇhaṁ vaḍḍhenti.
Ye taṇhaṁ vaḍḍhenti te upadhiṁ vaḍḍhenti.
Ye upadhiṁ vaḍḍhenti te dukkhaṁ vaḍḍhenti.
Ye dukkhaṁ vaḍḍhenti te na parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘na parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi.
Seyyathāpi, bhikkhave, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno.
So ca kho visena saṁsaṭṭho.
Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ayaṁ te, ambho purisa, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno;
so ca kho visena saṁsaṭṭho.
Sace ākaṅkhasi piva.
Pivato hi kho taṁ chādessati vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchasi maraṇamattaṁ vā dukkhan’ti.
So taṁ āpānīyakaṁsaṁ sahasā appaṭisaṅkhā piveyya, nappaṭinissajjeyya.
So tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Evameva kho, bhikkhave, ye hi keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ …pe…
anāgatamaddhānaṁ …pe…
etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ niccato passanti sukhato passanti attato passanti ārogyato passanti khemato passanti, te taṇhaṁ vaḍḍhenti.
Ye taṇhaṁ vaḍḍhenti te upadhiṁ vaḍḍhenti.
Ye upadhiṁ vaḍḍhenti te dukkhaṁ vaḍḍhenti.
Ye dukkhaṁ vaḍḍhenti te na parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘na parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi.
Ye ca kho keci, bhikkhave, atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato addakkhuṁ dukkhato addakkhuṁ anattato addakkhuṁ rogato addakkhuṁ bhayato addakkhuṁ,
te taṇhaṁ pajahiṁsu.
Ye taṇhaṁ pajahiṁsu te upadhiṁ pajahiṁsu.
Ye upadhiṁ pajahiṁsu te dukkhaṁ pajahiṁsu.
Ye dukkhaṁ pajahiṁsu te parimucciṁsu jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimucciṁsu dukkhasmā’ti vadāmi.
Yepi hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato dakkhissanti dukkhato dakkhissanti anattato dakkhissanti rogato dakkhissanti bhayato dakkhissanti,
te taṇhaṁ pajahissanti.
Ye taṇhaṁ pajahissanti …pe…
‘parimuccissanti dukkhasmā’ti vadāmi.
Yepi hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato passanti dukkhato passanti anattato passanti rogato passanti bhayato passanti,
te taṇhaṁ pajahanti.
Ye taṇhaṁ pajahanti te upadhiṁ pajahanti.
Ye upadhiṁ pajahanti te dukkhaṁ pajahanti.
Ye dukkhaṁ pajahanti te parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi.
Seyyathāpi, bhikkhave, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno.
So ca kho visena saṁsaṭṭho.
Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ayaṁ te, ambho purisa, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno
so ca kho visena saṁsaṭṭho.
Sace ākaṅkhasi piva.
Pivato hi kho taṁ chādessati vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi; pivitvā ca pana tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchasi maraṇamattaṁ vā dukkhan’ti.
Atha kho, bhikkhave, tassa purisassa evamassa:
‘sakkā kho me ayaṁ surāpipāsitā pānīyena vā vinetuṁ dadhimaṇḍakena vā vinetuṁ bhaṭṭhaloṇikāya vā vinetuṁ loṇasovīrakena vā vinetuṁ, na tvevāhaṁ taṁ piveyyaṁ, yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti.
So taṁ āpānīyakaṁsaṁ paṭisaṅkhā na piveyya, paṭinissajjeyya.
So tatonidānaṁ na maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Evameva kho, bhikkhave, ye hi keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato addakkhuṁ dukkhato addakkhuṁ anattato addakkhuṁ rogato addakkhuṁ bhayato addakkhuṁ,
te taṇhaṁ pajahiṁsu.
Ye taṇhaṁ pajahiṁsu te upadhiṁ pajahiṁsu.
Ye upadhiṁ pajahiṁsu te dukkhaṁ pajahiṁsu.
Ye dukkhaṁ pajahiṁsu te parimucciṁsu jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimucciṁsu dukkhasmā’ti vadāmi.
Yepi hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṁ …pe…
etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato passanti dukkhato passanti anattato passanti rogato passanti bhayato passanti,
te taṇhaṁ pajahanti.
Ye taṇhaṁ pajahanti te upadhiṁ pajahanti.
Ye upadhiṁ pajahanti te dukkhaṁ pajahanti.
Ye dukkhaṁ pajahanti te parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmī”ti.
Chaṭṭhaṁ.