Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá) trên núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).
Vi-n 2 Rồi Dạ-xoa tên Sakka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những bài kệ với Thế Tôn:
Thật không tốt lành gì,
Một Sa-môn như Ngài,
Ðã đoạn mọi triền phược,
Ðã sống chơn giải thoát,
Lại tiếp tục giảng dạy,
Những kẻ khác tu học.
Vi-n 3 (Thế Tôn):
Này Dạ-xoa Sakka,
Dầu vì lý do gì,
Loài Người sống chung nhau,
Không một lý do nào,
Xứng đáng bậc trí tuệ,
Với lòng từ lân mẫn,
Nếu với tâm tín thành,
Giảng dạy những người khác,
Do vậy không hệ lụy,
Vì lòng từ lân mẫn.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Atha kho sakkanāmako yakkho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Sabbaganthappahīnassa,
vippamuttassa te sato;
Samaṇassa na taṁ sādhu,
yadaññamanusāsasī”ti.
“Yena kenaci vaṇṇena,
saṁvāso sakka jāyati;
Na taṁ arahati sappañño,
manasā anukampituṁ.
Manasā ce pasannena,
yadaññamanusāsati;
Na tena hoti saṁyutto,
yānukampā anuddayā”ti.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain.
Then a spirit who was Sakka in name only went up to the Buddha, and addressed him in verse:
“You’ve given up all ties,
and are fully freed.
It’s not a good idea for you, ascetic,
to be instructing others.”
“No matter how you explain why
people gather together, Sakka,
it’s unworthy for a wise person
not to think of the other with sympathy.
If you instruct others
with a mind clear and confident,
your compassion and empathy
don’t create attachments.”
Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá) trên núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).
Vi-n 2 Rồi Dạ-xoa tên Sakka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những bài kệ với Thế Tôn:
Thật không tốt lành gì,
Một Sa-môn như Ngài,
Ðã đoạn mọi triền phược,
Ðã sống chơn giải thoát,
Lại tiếp tục giảng dạy,
Những kẻ khác tu học.
Vi-n 3 (Thế Tôn):
Này Dạ-xoa Sakka,
Dầu vì lý do gì,
Loài Người sống chung nhau,
Không một lý do nào,
Xứng đáng bậc trí tuệ,
Với lòng từ lân mẫn,
Nếu với tâm tín thành,
Giảng dạy những người khác,
Do vậy không hệ lụy,
Vì lòng từ lân mẫn.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Atha kho sakkanāmako yakkho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Sabbaganthappahīnassa,
vippamuttassa te sato;
Samaṇassa na taṁ sādhu,
yadaññamanusāsasī”ti.
“Yena kenaci vaṇṇena,
saṁvāso sakka jāyati;
Na taṁ arahati sappañño,
manasā anukampituṁ.
Manasā ce pasannena,
yadaññamanusāsati;
Na tena hoti saṁyutto,
yānukampā anuddayā”ti.