Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở vườn Cây Bàng (Nigrodhārāma)
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn nhân một lỗi lầm, sau khi quở trách chúng Tỷ-kheo Tăng, đắp y vào buổi sáng, cầm y bát, đi vào thành Kapilavatthu để khất thực.
Vi-n 3 Ði khất thực ở Kapilavatthu xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Thế Tôn đi đến Mahāvana (Ðại Lâm) để nghỉ buổi trưa. Sau khi đi sâu vào rừng Mahāvana, Ngài ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây veluvalatthikà.
Vi-n 4 Trong khi Thế Tôn độc cư Thiền tịnh, tư tưởng như sau được khởi lên:
Vi-n 5 “Chúng Tỷ-kheo đã được Ta làm cho vững mạnh. Nhưng ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể thay đổi, đổi khác.
Vi-n 6 Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hột giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
Vi-n 7 Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không được bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như trước đây chúng Tỷ-kheo đã được Ta giúp đỡ, cũng vậy, nay Ta hãy giúp đỡ cho chúng Tỷ-kheo!”
Vi-n 8 Rồi Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được tư niệm của Thế Tôn, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay duỗi ra, cũng vậy, biến mất từ Phạm thiên giới, hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Vi-n 9 Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn làm cho vững mạnh.
Vi-n 10 Nhưng ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể đổi khác, biến đổi.
Vi-n 11 Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hạt giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
Vi-n 12 Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi.
Vi-n 13 Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy làm cho chúng Tỷ-kheo hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết giảng cho chúng Tỷ-kheo như trước đây chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ, cũng vậy, nay Thế Tôn hãy giúp đỡ cho chúng Tỷ-kheo!
Vi-n 14 Thế Tôn im lặng nhận lời.
Vi-n 15 Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.
Vi-n 16 Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến vườn Cây Bàng, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nghĩ rằng: “Ta hãy thị hiện thần thông một cách khiến cho các vị Tỷ-kheo ấy đến Ta từng nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi”.
Vi-n 17 Và các Tỷ-kheo ấy đến Thế Tôn, từng nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 18 Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:
—Này các Tỷ-kheo, đây là nghề sinh sống hèn hạ nhất, tức là nghề khất thực. Ðây là một lời nguyền rủa trong đời, này các Tỷ-kheo, khi nói: “Ông, kẻ khất thực với bát trên bàn tay, Ông đi chỗ này, chỗ kia và đấy là nghề sinh sống”. Này các Tỷ-kheo, điều mà các thiện gia nam tử chấp nhận là những vị sống vì lý tưởng mục đích, duyên với lý tưởng mục đích; không phải vì ma cưỡng ép, không phải vì trộm cướp cưỡng ép, không phải vì thiếu nợ, không phải vì sợ hãi, không phải vì không có nguồn sinh sống, mà với ý nghĩ: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị chìm đắm trong đau khổ, bị đoanh vây bởi đau khổ. Rất có thể, sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra”.
Vi-n 19 Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là thiện gia nam tử xuất gia. Vị ấy có tham dục đối với các dục vọng, tham ái cuồng nhiệt, tâm tư sân hận, tư niệm ô nhiễm, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự. Ví như, này các Tỷ-kheo, một que củi từ chỗ hỏa táng, cả hai đầu đều cháy, ở giữa lại dính phân, không được dùng làm củi trong làng, không được dùng làm củi trong rừng. Dùng ví dụ ấy, Ta tả cho các Ông con người ấy, đã mất cả nhà và tài sản, lại không làm viên mãn mục đích của Sa-môn hạnh.
Vi-n 20 Này các Tỷ-kheo, có ba bất thiện tầm này: dục tầm, sân tầm, hại tầm. Và này các Tỷ-kheo, ba bất thiện tầm này được đoạn diệt không có dư tàn, đối với vị nào tâm đã khéo an trú vào bốn Niệm xứ hay tu tập vô tướng Thiền định.
Vi-n 21 Này các Tỷ-kheo, hãy khéo tu tập vô tướng Thiền định. Này các Tỷ-kheo, vô tướng Thiền định được tu tập, làm cho tăng thịnh, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn.
Vi-n 22 Này các Tỷ-kheo, có hai kiến này: hữu kiến, phi hữu kiến. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Có cái gì ở trong đời, ta chấp trước mà không có phạm tội?”
Vi-n 23 Và vị ấy biết: “Không có cái gì ở trong đời ta chấp trước mà không có phạm tội”. Nếu ta chấp thủ sự chấp thủ sắc … thọ … tưởng … các hành … Nếu ta chấp thủ sự chấp thủ thức, do duyên chấp thủ, hữu trở thành của ta. Do duyên hữu, có sanh. Do sanh, có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 24 Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 25-28. —Thọ … Tưởng … Hành … Thức … Do vậy, này các Tỷ-kheo, thấy vậy … Vị ấy biết: ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho bhagavā kismiñcideva pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ paṇāmetvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kapilavatthuṁ piṇḍāya pāvisi.
Kapilavatthusmiṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena mahāvanaṁ tenupasaṅkami divāvihārāya.
Mahāvanaṁ ajjhogāhetvā beluvalaṭṭhikāya mūle divāvihāraṁ nisīdi.
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“mayā kho bhikkhusaṅgho pabāḷho.
Santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ.
Tesaṁ mamaṁ apassantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo.
Seyyathāpi nāma vacchassa taruṇassa mātaraṁ apassantassa siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo;
evameva santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ tesaṁ mamaṁ apassantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo.
Seyyathāpi nāma bījānaṁ taruṇānaṁ udakaṁ alabhantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo;
evameva santettha …pe…
tesaṁ mamaṁ alabhantānaṁ dassanāya siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo.
Yannūnāhaṁ yatheva mayā pubbe bhikkhusaṅgho anuggahito, evameva etarahi anuggaṇheyyaṁ bhikkhusaṅghan”ti.
Atha kho brahmā sahampati bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito bhagavato purato pāturahosi.
Atha kho brahmā sahampati ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Bhagavatā, bhante, bhikkhusaṅgho pabāḷho.
Santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ.
Tesaṁ bhagavantaṁ apassantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo.
Seyyathāpi nāma vacchassa taruṇassa mātaraṁ apassantassa siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo;
evameva santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ tesaṁ bhagavantaṁ apassantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo.
Seyyathāpi nāma bījānaṁ taruṇānaṁ udakaṁ alabhantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo;
evameva santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ, tesaṁ bhagavantaṁ alabhantānaṁ dassanāya siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo.
Abhinandatu, bhante, bhagavā bhikkhusaṅghaṁ;
abhivadatu, bhante, bhagavā bhikkhusaṅghaṁ.
Yatheva bhagavatā pubbe bhikkhusaṅgho anuggahito, evameva etarahi anuggaṇhātu bhikkhusaṅghan”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho brahmā sahampati bhagavato adhivāsanaṁ viditvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena nigrodhārāmo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi yathā te bhikkhū ekadvīhikāya sārajjamānarūpā yenāhaṁ tenupasaṅkameyyuṁ.
Tepi bhikkhū ekadvīhikāya sārajjamānarūpā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū bhagavā etadavoca:
“Antamidaṁ, bhikkhave, jīvikānaṁ yadidaṁ piṇḍolyaṁ.
Abhisāpoyaṁ, bhikkhave, lokasmiṁ piṇḍolo vicarasi pattapāṇīti.
Tañca kho etaṁ, bhikkhave, kulaputtā upenti atthavasikā, atthavasaṁ paṭicca;
neva rājābhinītā, na corābhinītā, na iṇaṭṭā, na bhayaṭṭā, na ājīvikāpakatā;
api ca kho otiṇṇāmha jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi dukkhotiṇṇā dukkhaparetā
appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethāti.
Evaṁ pabbajito cāyaṁ, bhikkhave, kulaputto.
So ca hoti abhijjhālu kāmesu tibbasārāgo byāpannacitto paduṭṭhamanasaṅkappo muṭṭhassati asampajāno asamāhito vibbhantacitto pākatindriyo.
Seyyathāpi, bhikkhave, chavālātaṁ ubhatopadittaṁ majjhe gūthagataṁ, neva gāme kaṭṭhatthaṁ pharati, nāraññe kaṭṭhatthaṁ pharati.
Tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi gihibhogā ca parihīno, sāmaññatthañca na paripūreti.
Tayome, bhikkhave, akusalavitakkā—
kāmavitakko, byāpādavitakko, vihiṁsāvitakko.
Ime ca bhikkhave, tayo akusalavitakkā kva aparisesā nirujjhanti?
Catūsu vā satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittassa viharato animittaṁ vā samādhiṁ bhāvayato.
Yāvañcidaṁ, bhikkhave, alameva animitto samādhi bhāvetuṁ.
Animitto, bhikkhave, samādhi bhāvito bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Dvemā, bhikkhave, diṭṭhiyo—
bhavadiṭṭhi ca vibhavadiṭṭhi ca.
Tatra kho, bhikkhave, sutavā ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘atthi nu kho taṁ kiñci lokasmiṁ yamahaṁ upādiyamāno na vajjavā assan’ti?
So evaṁ pajānāti:
‘natthi nu kho taṁ kiñci lokasmiṁ yamahaṁ upādiyamāno na vajjavā assaṁ.
Ahañhi rūpaññeva upādiyamāno upādiyeyyaṁ vedanaññeva …
saññaññeva …
saṅkhāreyeva viññāṇaññeva upādiyamāno upādiyeyyaṁ.
Tassa me assa upādānapaccayā bhavo;
bhavapaccayā jāti;
jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhaveyyuṁ.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo assā’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ …pe…
tasmātiha, bhikkhave,
evaṁ passaṁ …
nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling among the Sakyans at Kapilavatthu in Nigrodha’s Park.
SC 2Then the Blessed One, having dismissed the bhikkhus for a particular reason, dressed in the morning and, taking bowl and robe, entered Kapilavatthu for alms. When he had walked for alms in Kapilavatthu and had returned from the alms round, after his meal he went to the Great Wood for the day’s abiding. Having plunged into the Great Wood, he sat down at the foot of a beluva sapling for the day’s abiding.
SC 3Then, while the Blessed One was alone in seclusion, a reflection arose in his mind thus: “The Saṅgha of bhikkhus has been dismissed by me. There are bhikkhus here who are newly ordained, not long gone forth, recently come to this Dhamma and Discipline. If they do not see me there may take place in them some alteration or change. Just as when a young calf does not see its mother there may take place in it some alteration or change, so too there are bhikkhus here who are newly ordained, not long gone forth, recently come to this Dhamma and Discipline. If they do not see me there may take place in them some alteration or change. Just as when young seedlings do not get water there may take place in them some alteration or change, so too there are bhikkhus here who are newly ordained, not long gone forth, recently come to this Dhamma and Discipline. If they do not see me there may take place in them some alteration or change. Let me assist the Saṅgha of bhikkhus now just as I have assisted it in the past.”
SC 4Then Brahma Sahampati, having known with his own mind the reflection in the Blessed One’s mind, just as quickly as a strong man might extend his drawn-in arm or draw in his extended arm, disappeared from the brahma world and reappeared before the Blessed One. sn.iii.92 He arranged his upper robe over one shoulder, raised his joined hands in reverential salutation towards the Blessed One, and said to him: “So it is, Blessed One! So it is, Fortunate One! The Saṅgha of bhikkhus has been dismissed by the Blessed One. There are bhikkhus here who are newly ordained … as above, including the similes … If they do not see the Blessed One there may take place in them some alteration or change. Venerable sir, let the Blessed One take delight in the Saṅgha of bhikkhus! Let the Blessed One welcome the Saṅgha of bhikkhus! Let the Blessed One assist the Saṅgha of bhikkhus now just as he has assisted it in the past.”
SC 5The Blessed One consented by silence. Then Brahma Sahampati, having understood the Blessed One’s consent, paid homage to the Blessed One and, keeping him on his right, he disappeared right there.
SC 6Then in the evening the Blessed One emerged from seclusion and went to Nigrodha’s Park. He sat down in the appointed seat and performed such a feat of spiritual power that the bhikkhus would come to him, alone and in pairs, in a timid manner. Then those bhikkhus approached the Blessed One, alone and in pairs, in a timid manner. sn.iii.93 Having approached, they paid homage to the Blessed One and sat down to one side. The Blessed One then said to them:
SC 7“Bhikkhus, this is the lowest form of livelihood, that is, gathering alms. In the world this is a term of abuse: ‘You alms-gatherer; you roam about with a begging bowl in your hand!’ And yet, bhikkhus, clansmen intent on the good take up that way of life for a valid reason. It is not because they have been driven to it by kings that they do so, nor because they have been driven to it by thieves, nor owing to debt, nor from fear, nor to earn a livelihood. But they do so with the thought: ‘I am immersed in birth, aging, and death; in sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair. I am immersed in suffering, oppressed by suffering. Perhaps an ending of this entire mass of suffering might be discerned!’
SC 8“It is in such a way, bhikkhus, that this clansman has gone forth. Yet he is covetous, inflamed by lust for sensual pleasures, with a mind full of ill will, with intentions corrupted by hate, muddle-minded, lacking clear comprehension, unconcentrated, scatter-brained, loose in his sense faculties. Just as a brand from a funeral pyre, burning at both ends and smeared with excrement in the middle, cannot be used as timber either in the village or in the forest, in just such a way do I speak about this person: he has missed out on the enjoyments of a householder, yet he does not fulfil the goal of asceticism.
SC 9“There are, bhikkhus, these three kinds of unwholesome thoughts: sensual thought, thought of ill will, thought of harming. And where, bhikkhus, do these three unwholesome thoughts cease without remainder? For one who dwells with a mind well established in the four establishments of mindfulness, or for one who develops the signless concentration. This is reason enough, bhikkhus, to develop the signless concentration. When the signless concentration is developed and cultivated, bhikkhus, it is of great fruit and benefit.
SC 10“There are, bhikkhus, these two views: the view of existence and the view of extermination. sn.iii.94 Therein, bhikkhus, the instructed noble disciple reflects thus: ‘Is there anything in the world that I could cling to without being blameworthy?’ He understand thus: ‘There is nothing in the world that I could cling to without being blameworthy. For if I should cling, it is only form that I would be clinging to, only feeling … only perception … only volitional formations … only consciousness that I would be clinging to. With that clinging of mine as condition, there would be existence; with existence as condition, birth; with birth as condition, aging-and-death, sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair would come to be. Such would be the origin of this whole mass of suffering.’
SC 11“What do you think, bhikkhus, is form permanent or impermanent? … Is feeling … perception … volitional formations … consciousness permanent or impermanent?”—“Impermanent, venerable sir.”—“Is what is impermanent suffering or happiness?”—“Suffering, venerable sir.”—“Is what is impermanent, suffering, and subject to change fit to be regarded thus: ‘This is mine, this I am, this is my self’?”—“No, venerable sir.”
SC 12“Seeing thus … He understands: ‘… there is no more for this state of being.’”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở vườn Cây Bàng (Nigrodhārāma)
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn nhân một lỗi lầm, sau khi quở trách chúng Tỷ-kheo Tăng, đắp y vào buổi sáng, cầm y bát, đi vào thành Kapilavatthu để khất thực.
Vi-n 3 Ði khất thực ở Kapilavatthu xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Thế Tôn đi đến Mahāvana (Ðại Lâm) để nghỉ buổi trưa. Sau khi đi sâu vào rừng Mahāvana, Ngài ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây veluvalatthikà.
Vi-n 4 Trong khi Thế Tôn độc cư Thiền tịnh, tư tưởng như sau được khởi lên:
Vi-n 5 “Chúng Tỷ-kheo đã được Ta làm cho vững mạnh. Nhưng ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể thay đổi, đổi khác.
Vi-n 6 Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hột giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
Vi-n 7 Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không được bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như trước đây chúng Tỷ-kheo đã được Ta giúp đỡ, cũng vậy, nay Ta hãy giúp đỡ cho chúng Tỷ-kheo!”
Vi-n 8 Rồi Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được tư niệm của Thế Tôn, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay duỗi ra, cũng vậy, biến mất từ Phạm thiên giới, hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Vi-n 9 Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn làm cho vững mạnh.
Vi-n 10 Nhưng ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể đổi khác, biến đổi.
Vi-n 11 Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hạt giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
Vi-n 12 Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi.
Vi-n 13 Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy làm cho chúng Tỷ-kheo hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết giảng cho chúng Tỷ-kheo như trước đây chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ, cũng vậy, nay Thế Tôn hãy giúp đỡ cho chúng Tỷ-kheo!
Vi-n 14 Thế Tôn im lặng nhận lời.
Vi-n 15 Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.
Vi-n 16 Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến vườn Cây Bàng, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nghĩ rằng: “Ta hãy thị hiện thần thông một cách khiến cho các vị Tỷ-kheo ấy đến Ta từng nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi”.
Vi-n 17 Và các Tỷ-kheo ấy đến Thế Tôn, từng nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 18 Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:
—Này các Tỷ-kheo, đây là nghề sinh sống hèn hạ nhất, tức là nghề khất thực. Ðây là một lời nguyền rủa trong đời, này các Tỷ-kheo, khi nói: “Ông, kẻ khất thực với bát trên bàn tay, Ông đi chỗ này, chỗ kia và đấy là nghề sinh sống”. Này các Tỷ-kheo, điều mà các thiện gia nam tử chấp nhận là những vị sống vì lý tưởng mục đích, duyên với lý tưởng mục đích; không phải vì ma cưỡng ép, không phải vì trộm cướp cưỡng ép, không phải vì thiếu nợ, không phải vì sợ hãi, không phải vì không có nguồn sinh sống, mà với ý nghĩ: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị chìm đắm trong đau khổ, bị đoanh vây bởi đau khổ. Rất có thể, sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra”.
Vi-n 19 Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là thiện gia nam tử xuất gia. Vị ấy có tham dục đối với các dục vọng, tham ái cuồng nhiệt, tâm tư sân hận, tư niệm ô nhiễm, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự. Ví như, này các Tỷ-kheo, một que củi từ chỗ hỏa táng, cả hai đầu đều cháy, ở giữa lại dính phân, không được dùng làm củi trong làng, không được dùng làm củi trong rừng. Dùng ví dụ ấy, Ta tả cho các Ông con người ấy, đã mất cả nhà và tài sản, lại không làm viên mãn mục đích của Sa-môn hạnh.
Vi-n 20 Này các Tỷ-kheo, có ba bất thiện tầm này: dục tầm, sân tầm, hại tầm. Và này các Tỷ-kheo, ba bất thiện tầm này được đoạn diệt không có dư tàn, đối với vị nào tâm đã khéo an trú vào bốn Niệm xứ hay tu tập vô tướng Thiền định.
Vi-n 21 Này các Tỷ-kheo, hãy khéo tu tập vô tướng Thiền định. Này các Tỷ-kheo, vô tướng Thiền định được tu tập, làm cho tăng thịnh, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn.
Vi-n 22 Này các Tỷ-kheo, có hai kiến này: hữu kiến, phi hữu kiến. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Có cái gì ở trong đời, ta chấp trước mà không có phạm tội?”
Vi-n 23 Và vị ấy biết: “Không có cái gì ở trong đời ta chấp trước mà không có phạm tội”. Nếu ta chấp thủ sự chấp thủ sắc … thọ … tưởng … các hành … Nếu ta chấp thủ sự chấp thủ thức, do duyên chấp thủ, hữu trở thành của ta. Do duyên hữu, có sanh. Do sanh, có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 24 Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 25-28. —Thọ … Tưởng … Hành … Thức … Do vậy, này các Tỷ-kheo, thấy vậy … Vị ấy biết: ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho bhagavā kismiñcideva pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ paṇāmetvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kapilavatthuṁ piṇḍāya pāvisi.
Kapilavatthusmiṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena mahāvanaṁ tenupasaṅkami divāvihārāya.
Mahāvanaṁ ajjhogāhetvā beluvalaṭṭhikāya mūle divāvihāraṁ nisīdi.
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“mayā kho bhikkhusaṅgho pabāḷho.
Santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ.
Tesaṁ mamaṁ apassantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo.
Seyyathāpi nāma vacchassa taruṇassa mātaraṁ apassantassa siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo;
evameva santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ tesaṁ mamaṁ apassantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo.
Seyyathāpi nāma bījānaṁ taruṇānaṁ udakaṁ alabhantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo;
evameva santettha …pe…
tesaṁ mamaṁ alabhantānaṁ dassanāya siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo.
Yannūnāhaṁ yatheva mayā pubbe bhikkhusaṅgho anuggahito, evameva etarahi anuggaṇheyyaṁ bhikkhusaṅghan”ti.
Atha kho brahmā sahampati bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito bhagavato purato pāturahosi.
Atha kho brahmā sahampati ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Bhagavatā, bhante, bhikkhusaṅgho pabāḷho.
Santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ.
Tesaṁ bhagavantaṁ apassantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo.
Seyyathāpi nāma vacchassa taruṇassa mātaraṁ apassantassa siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo;
evameva santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ tesaṁ bhagavantaṁ apassantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo.
Seyyathāpi nāma bījānaṁ taruṇānaṁ udakaṁ alabhantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo;
evameva santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ, tesaṁ bhagavantaṁ alabhantānaṁ dassanāya siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo.
Abhinandatu, bhante, bhagavā bhikkhusaṅghaṁ;
abhivadatu, bhante, bhagavā bhikkhusaṅghaṁ.
Yatheva bhagavatā pubbe bhikkhusaṅgho anuggahito, evameva etarahi anuggaṇhātu bhikkhusaṅghan”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho brahmā sahampati bhagavato adhivāsanaṁ viditvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena nigrodhārāmo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi yathā te bhikkhū ekadvīhikāya sārajjamānarūpā yenāhaṁ tenupasaṅkameyyuṁ.
Tepi bhikkhū ekadvīhikāya sārajjamānarūpā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū bhagavā etadavoca:
“Antamidaṁ, bhikkhave, jīvikānaṁ yadidaṁ piṇḍolyaṁ.
Abhisāpoyaṁ, bhikkhave, lokasmiṁ piṇḍolo vicarasi pattapāṇīti.
Tañca kho etaṁ, bhikkhave, kulaputtā upenti atthavasikā, atthavasaṁ paṭicca;
neva rājābhinītā, na corābhinītā, na iṇaṭṭā, na bhayaṭṭā, na ājīvikāpakatā;
api ca kho otiṇṇāmha jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi dukkhotiṇṇā dukkhaparetā
appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethāti.
Evaṁ pabbajito cāyaṁ, bhikkhave, kulaputto.
So ca hoti abhijjhālu kāmesu tibbasārāgo byāpannacitto paduṭṭhamanasaṅkappo muṭṭhassati asampajāno asamāhito vibbhantacitto pākatindriyo.
Seyyathāpi, bhikkhave, chavālātaṁ ubhatopadittaṁ majjhe gūthagataṁ, neva gāme kaṭṭhatthaṁ pharati, nāraññe kaṭṭhatthaṁ pharati.
Tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi gihibhogā ca parihīno, sāmaññatthañca na paripūreti.
Tayome, bhikkhave, akusalavitakkā—
kāmavitakko, byāpādavitakko, vihiṁsāvitakko.
Ime ca bhikkhave, tayo akusalavitakkā kva aparisesā nirujjhanti?
Catūsu vā satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittassa viharato animittaṁ vā samādhiṁ bhāvayato.
Yāvañcidaṁ, bhikkhave, alameva animitto samādhi bhāvetuṁ.
Animitto, bhikkhave, samādhi bhāvito bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Dvemā, bhikkhave, diṭṭhiyo—
bhavadiṭṭhi ca vibhavadiṭṭhi ca.
Tatra kho, bhikkhave, sutavā ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘atthi nu kho taṁ kiñci lokasmiṁ yamahaṁ upādiyamāno na vajjavā assan’ti?
So evaṁ pajānāti:
‘natthi nu kho taṁ kiñci lokasmiṁ yamahaṁ upādiyamāno na vajjavā assaṁ.
Ahañhi rūpaññeva upādiyamāno upādiyeyyaṁ vedanaññeva …
saññaññeva …
saṅkhāreyeva viññāṇaññeva upādiyamāno upādiyeyyaṁ.
Tassa me assa upādānapaccayā bhavo;
bhavapaccayā jāti;
jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhaveyyuṁ.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo assā’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ …pe…
tasmātiha, bhikkhave,
evaṁ passaṁ …
nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Aṭṭhamaṁ.