Vi-n 1 Một thời, một Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy sống thân mật quá đáng đối với một gia đình.
Vi-n 3 Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác vị ấy, biến hình thành gia phụ của gia đình ấy và đi đến Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 4 Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tỷ-kheo ấy:
Trên bờ sông, cửa chợ,
Tại trạm nghỉ, lộ trình,
Dân chúng thường tập hợp,
Tranh luận liền khởi lên.
Giữa ta và giữa Ông,
Có gì là sai khác?
Vi-n 5 (Vị Tỷ-kheo):
Nhiều tiếng qua tiếng lại,
Bậc khổ hạnh kham nhẫn,
Chớ cảm thấy bực phiền,
Chớ phát sinh nhiễm trước.
Ai bị tiếng rối loạn,
Như nai trong rừng rú,
Ðược gọi là khinh tâm,
Khó tu hành thành tựu.
Ekaṁ samayaṁ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṁ vanasaṇḍe.
Tena kho pana samayena so bhikkhu aññatarasmiṁ kule ativelaṁ ajjhogāḷhappatto viharati.
Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa bhikkhuno anukampikā atthakāmā taṁ bhikkhuṁ saṁvejetukāmā yā tasmiṁ kule kulagharaṇī, tassā vaṇṇaṁ abhinimminitvā yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Nadītīresu saṇṭhāne,
sabhāsu rathiyāsu ca;
Janā saṅgamma mantenti,
mañca tañca kimantaran”ti.
“Bahūhi saddā paccūhā,
khamitabbā tapassinā;
Na tena maṅku hotabbaṁ,
na hi tena kilissati.
Yo ca saddaparittāsī,
vane vātamigo yathā;
Lahucittoti taṁ āhu,
nāssa sampajjate vatan”ti.
At one time one of the monks was staying in the land of the Kosalans in a certain forest grove.
Now at that time that monk had become too closely involved in the affairs of a certain family.
The deity haunting that forest had sympathy for that monk, wanting what’s best for him. So, wanting to stir him up, they manifested in the appearance of the mistress of that family, approached the monk, and addressed him in verse:
“At river banks and guest houses,
hotels and highways,
people gather to gossip about
what’s going on between you and me.”
“There are many sounds echoing
that a fervent ascetic must endure.
They ought not be dismayed by that,
for that’s not what defiles you.
If you’re startled by every little sound,
like a wind-deer in the wood,
they’ll call you ‘flighty minded’;
and your practice won’t succeed.”
Vi-n 1 Một thời, một Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy sống thân mật quá đáng đối với một gia đình.
Vi-n 3 Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác vị ấy, biến hình thành gia phụ của gia đình ấy và đi đến Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 4 Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tỷ-kheo ấy:
Trên bờ sông, cửa chợ,
Tại trạm nghỉ, lộ trình,
Dân chúng thường tập hợp,
Tranh luận liền khởi lên.
Giữa ta và giữa Ông,
Có gì là sai khác?
Vi-n 5 (Vị Tỷ-kheo):
Nhiều tiếng qua tiếng lại,
Bậc khổ hạnh kham nhẫn,
Chớ cảm thấy bực phiền,
Chớ phát sinh nhiễm trước.
Ai bị tiếng rối loạn,
Như nai trong rừng rú,
Ðược gọi là khinh tâm,
Khó tu hành thành tựu.
Ekaṁ samayaṁ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṁ vanasaṇḍe.
Tena kho pana samayena so bhikkhu aññatarasmiṁ kule ativelaṁ ajjhogāḷhappatto viharati.
Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa bhikkhuno anukampikā atthakāmā taṁ bhikkhuṁ saṁvejetukāmā yā tasmiṁ kule kulagharaṇī, tassā vaṇṇaṁ abhinimminitvā yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Nadītīresu saṇṭhāne,
sabhāsu rathiyāsu ca;
Janā saṅgamma mantenti,
mañca tañca kimantaran”ti.
“Bahūhi saddā paccūhā,
khamitabbā tapassinā;
Na tena maṅku hotabbaṁ,
na hi tena kilissati.
Yo ca saddaparittāsī,
vane vātamigo yathā;
Lahucittoti taṁ āhu,
nāssa sampajjate vatan”ti.