Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn … ý căn.
Vi-n 3 Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn căn này; khi ấy, vị Thánh đệ tử được gọi là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết định đạt tới Chánh Ðẳng Giác.
“Chayimāni, bhikkhave, indriyāni.
Katamāni cha?
Cakkhundriyaṁ …pe… manindriyaṁ.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako imesaṁ channaṁ indriyānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
Chaṭṭhaṁ.
“Mendicants, there are these six faculties.
What six?
The faculties of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind.
A noble disciple comes to truly understand these six faculties’ origin, disappearance, gratification, drawback, and escape.
Such a noble disciple is called a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, destined for awakening.”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn … ý căn.
Vi-n 3 Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn căn này; khi ấy, vị Thánh đệ tử được gọi là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết định đạt tới Chánh Ðẳng Giác.
“Chayimāni, bhikkhave, indriyāni.
Katamāni cha?
Cakkhundriyaṁ …pe… manindriyaṁ.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako imesaṁ channaṁ indriyānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
Chaṭṭhaṁ.