Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, chớ có nói lời tranh luận nhau: “Ông không biết Pháp và Luật này. Tôi biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh. Tôi theo chánh hạnh. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói tôi tương ưng. Lời nói Ông không tương ưng. Ðiều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được”. Vì sao?
Vi-n 3 Những câu chuyện ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, nếu có nói, thời hãy nói: “Ðây là Khổ” … hãy nói: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao?
Vi-n 5 Các lời nói ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, làm căn bản cho Phạm hạnh … một cố gắng cần phải làm …
“Mā, bhikkhave, viggāhikakathaṁ katheyyātha:
‘na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi, ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi. Kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi. Micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno. Sahitaṁ me, asahitaṁ te. Purevacanīyaṁ pacchā avaca, pacchāvacanīyaṁ pure avaca. Adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ. Āropito te vādo, cara vādappamokkhāya. Niggahitosi, nibbeṭhehi vā sace pahosī’ti.
Taṁ kissa hetu?
Nesā, bhikkhave, kathā atthasaṁhitā nādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
Kathentā ca kho tumhe, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti katheyyātha …pe…
yogo karaṇīyo”ti.
Navamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, do not engage in disputatious talk, saying: ‘You don’t understand this Dhamma and Discipline. I understand this Dhamma and Discipline. What, you understand this Dhamma and Discipline! You’re practising wrongly, I’m practising rightly. What should have been said before you said after; what should have been said after you said before. I’m consistent, you’re inconsistent. What you took so long to think out has been overturned. Your thesis has been refuted. Go off to rescue your thesis, for you’re defeated, or disentangle yourself if you can.’ For what reason? Because, bhikkhus, this talk is unbeneficial, irrelevant to the fundamentals of the holy life, and does not lead to revulsion, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna.
SC 2“When you talk, bhikkhus, you should talk about: ‘This is suffering’; you should talk about: ‘This is the origin of suffering’; you should talk about: ‘This is the cessation of suffering’; you should talk about: ‘This is the way leading to the cessation of suffering. ’ For what reason? Because, bhikkhus, this talk is beneficial, relevant to the fundamentals of the holy life, and leads to revulsion, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna.
SC 3“Therefore, bhikkhus, an exertion should be made to understand: ‘This is suffering.’… An exertion should be made to understand: ‘This is the way leading to the cessation of suffering.’”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, chớ có nói lời tranh luận nhau: “Ông không biết Pháp và Luật này. Tôi biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh. Tôi theo chánh hạnh. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói tôi tương ưng. Lời nói Ông không tương ưng. Ðiều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được”. Vì sao?
Vi-n 3 Những câu chuyện ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, nếu có nói, thời hãy nói: “Ðây là Khổ” … hãy nói: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao?
Vi-n 5 Các lời nói ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, làm căn bản cho Phạm hạnh … một cố gắng cần phải làm …
“Mā, bhikkhave, viggāhikakathaṁ katheyyātha:
‘na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi, ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi. Kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi. Micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno. Sahitaṁ me, asahitaṁ te. Purevacanīyaṁ pacchā avaca, pacchāvacanīyaṁ pure avaca. Adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ. Āropito te vādo, cara vādappamokkhāya. Niggahitosi, nibbeṭhehi vā sace pahosī’ti.
Taṁ kissa hetu?
Nesā, bhikkhave, kathā atthasaṁhitā nādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
Kathentā ca kho tumhe, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti katheyyātha …pe…
yogo karaṇīyo”ti.
Navamaṁ.