Vi-n 1 Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tỷ-kheo Kokālika bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Vi-n 3 Rồi Bích-chi Phạm thiên Tudu khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Tỷ-kheo Kokālika.
Vi-n 4 Sau khi đến, vị ấy đứng trên hư không, và nói với Tỷ-kheo Kokālika:
—Này Kokālika, hãy đặt tin tưởng vào Sāriputta và Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna thật là hòa nhã.
Vi-n 5 —Ông là ai, này Hiền giả?
Vi-n 6 —Ta là Bích-chi Phạm thiên Tudu.
Vi-n 7 —Này Hiền giả, phải chăng Ông đã được Thế Tôn nói là đã chứng quả Bất lai. Vậy Ông đến ở đời này làm gì? Ông có thấy lỗi lầm của Ông như thế nào?
Phàm con người đã sanh,
Sanh với búa trong miệng,
Kẻ ngu khi nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân.
Ai khen kẻ làm bậy,
Ai chê người làm hay,
Tự nhen nhúm bất hạnh,
Do chính miệng của mình;
Chính do bất hạnh ấy,
Nên không được an lạc,
Nhỏ thay bất hạnh này,
Trong canh bạc rủi may,
Bị tan hoang tài sản,
Trong giờ phút đỏ đen!
Lớn hơn, sự bất hạnh,
Hơn mọi bất hạnh khác,
Do tự mình gây nên,
Cho tự ngã của mình!
Ai đối xử ác ý,
Với chư Phật, Thiện Thệ,
Phải trải qua thời gian,
Trăm ngàn, nhiều hơn nữa,
Ba mươi sáu và năm,
Trải thời gian thật dài.
Ai với lời và ý,
Phỉ báng bậc Hiền Thánh,
Dùng ác tâm chống đối,
Sẽ sa đọa địa ngục.
Sāvatthinidānaṁ.
Tena kho pana samayena kokāliko bhikkhu ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno.
Atha kho turū paccekabrahmā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena kokāliko bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā vehāsaṁ ṭhito kokālikaṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ.
Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
“Kosi tvaṁ, āvuso”ti?
“Ahaṁ turū paccekabrahmā”ti.
“Nanu tvaṁ, āvuso, bhagavatā anāgāmī byākato, atha kiñcarahi idhāgato?
Passa, yāvañca te idaṁ aparaddhan”ti.
“Purisassa hi jātassa,
kuṭhārī jāyate mukhe;
Yāya chindati attānaṁ,
bālo dubbhāsitaṁ bhaṇaṁ.
Yo nindiyaṁ pasaṁsati,
Taṁ vā nindati yo pasaṁsiyo;
Vicināti mukhena so kaliṁ,
Kalinā tena sukhaṁ na vindati.
Appamattako ayaṁ kali,
Yo akkhesu dhanaparājayo;
Sabbassāpi sahāpi attanā,
Ayameva mahantataro kali;
Yo sugatesu manaṁ padosaye.
Sataṁ sahassānaṁ nirabbudānaṁ,
Chattiṁsati pañca ca abbudāni;
Yamariyagarahī nirayaṁ upeti,
Vācaṁ manañca paṇidhāya pāpakan”ti.
At Sāvatthī.
Now at that time the mendicant Kokālika was sick, suffering, gravely ill.
Then, late at night, the glorious independent divinity Tudu, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the mendicant Kokālika, and standing in the air he said to him,
“Kokālika, have confidence in Sāriputta and Moggallāna,
they’re good monks.”
“Who are you, reverend?”
“I am Tudu the independent divinity.”
“Didn’t the Buddha declare you a non-returner? So what then are you doing back here?
See how far you have strayed!”
“A man is born
with an axe in his mouth.
A fool cuts themselves with it
when they say bad words.
When you praise someone worthy of criticism,
or criticize someone worthy of praise,
you choose a losing hand with your own mouth:
you’ll never find happiness that way.
A losing hand at dice is a trivial thing,
if all you lose is your money
and all you own, even yourself.
What’s a really terrible hand
is to hate the holy ones.
For a hundred thousand times a hundred million,
times five hundred and thirty-six times a thousand times ten million years
a slanderer of noble ones goes to hell,
having aimed bad words and thoughts at them.”
Vi-n 1 Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tỷ-kheo Kokālika bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Vi-n 3 Rồi Bích-chi Phạm thiên Tudu khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Tỷ-kheo Kokālika.
Vi-n 4 Sau khi đến, vị ấy đứng trên hư không, và nói với Tỷ-kheo Kokālika:
—Này Kokālika, hãy đặt tin tưởng vào Sāriputta và Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna thật là hòa nhã.
Vi-n 5 —Ông là ai, này Hiền giả?
Vi-n 6 —Ta là Bích-chi Phạm thiên Tudu.
Vi-n 7 —Này Hiền giả, phải chăng Ông đã được Thế Tôn nói là đã chứng quả Bất lai. Vậy Ông đến ở đời này làm gì? Ông có thấy lỗi lầm của Ông như thế nào?
Phàm con người đã sanh,
Sanh với búa trong miệng,
Kẻ ngu khi nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân.
Ai khen kẻ làm bậy,
Ai chê người làm hay,
Tự nhen nhúm bất hạnh,
Do chính miệng của mình;
Chính do bất hạnh ấy,
Nên không được an lạc,
Nhỏ thay bất hạnh này,
Trong canh bạc rủi may,
Bị tan hoang tài sản,
Trong giờ phút đỏ đen!
Lớn hơn, sự bất hạnh,
Hơn mọi bất hạnh khác,
Do tự mình gây nên,
Cho tự ngã của mình!
Ai đối xử ác ý,
Với chư Phật, Thiện Thệ,
Phải trải qua thời gian,
Trăm ngàn, nhiều hơn nữa,
Ba mươi sáu và năm,
Trải thời gian thật dài.
Ai với lời và ý,
Phỉ báng bậc Hiền Thánh,
Dùng ác tâm chống đối,
Sẽ sa đọa địa ngục.
Sāvatthinidānaṁ.
Tena kho pana samayena kokāliko bhikkhu ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno.
Atha kho turū paccekabrahmā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena kokāliko bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā vehāsaṁ ṭhito kokālikaṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ.
Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
“Kosi tvaṁ, āvuso”ti?
“Ahaṁ turū paccekabrahmā”ti.
“Nanu tvaṁ, āvuso, bhagavatā anāgāmī byākato, atha kiñcarahi idhāgato?
Passa, yāvañca te idaṁ aparaddhan”ti.
“Purisassa hi jātassa,
kuṭhārī jāyate mukhe;
Yāya chindati attānaṁ,
bālo dubbhāsitaṁ bhaṇaṁ.
Yo nindiyaṁ pasaṁsati,
Taṁ vā nindati yo pasaṁsiyo;
Vicināti mukhena so kaliṁ,
Kalinā tena sukhaṁ na vindati.
Appamattako ayaṁ kali,
Yo akkhesu dhanaparājayo;
Sabbassāpi sahāpi attanā,
Ayameva mahantataro kali;
Yo sugatesu manaṁ padosaye.
Sataṁ sahassānaṁ nirabbudānaṁ,
Chattiṁsati pañca ca abbudāni;
Yamariyagarahī nirayaṁ upeti,
Vācaṁ manañca paṇidhāya pāpakan”ti.