Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần.
Vi-n 3 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng hay không?
—Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài.
Vi-n 4 —Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỷ-kheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng ấy; còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ để được làm người trở lại. Vì sao?
Vi-n 5 Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỷ-kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có người yếu bị ăn thịt. Vì sao?
Vi-n 6 Vì không thấy được bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ … Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Vi-n 7 Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ” … một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.
“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso mahāsamudde ekacchiggaḷaṁ yugaṁ pakkhipeyya. Tatrāpissa kāṇo kacchapo. So vassasatassa vassasatassa accayena sakiṁ sakiṁ ummujjeyya.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu kho kāṇo kacchapo vassasatassa vassasatassa accayena sakiṁ sakiṁ ummujjanto amusmiṁ ekacchiggaḷe yuge gīvaṁ paveseyyā”ti?
“Yadi nūna, bhante, kadāci karahaci dīghassa addhuno accayenā”ti.
“Khippataraṁ kho so, bhikkhave, kāṇo kacchapo vassasatassa vassasatassa accayena sakiṁ sakiṁ ummujjanto amusmiṁ ekacchiggaḷe yuge gīvaṁ paveseyya, na tvevāhaṁ, bhikkhave, sakiṁ vinipātagatena bālena manussattaṁ vadāmi.
Taṁ kissa hetu?
Na hettha, bhikkhave, atthi dhammacariyā, samacariyā, kusalakiriyā, puññakiriyā.
Aññamaññakhādikā ettha, bhikkhave, vattati dubbalakhādikā.
Taṁ kissa hetu?
Adiṭṭhattā, bhikkhave, catunnaṁ ariyasaccānaṁ.
Katamesaṁ catunnaṁ?
Dukkhassa ariyasaccassa …pe… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasaccassa.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti.
Sattamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, suppose a man would throw a yoke with a single hole into the great ocean, and there was a blind turtle which would come to the surface once every hundred years. What do you think, bhikkhus, would that blind turtle, coming to the surface once every hundred years, insert its neck into that yoke with a single hole?” sn.v.456
SC 2“If it would ever do so, venerable sir, it would be only after a very long time.”
SC 3“Sooner, I say, would that blind turtle, coming to the surface once every hundred years, insert its neck into that yoke with a single hole than the fool who has gone once to the nether world would regain the human state. For what reason? Because here, bhikkhus, there is no conduct guided by the Dhamma, no righteous conduct, no wholesome activity, no meritorious activity. Here there prevails mutual devouring, the devouring of the weak. For what reason? Because, bhikkhus, they have not seen the Four Noble Truths. What four? The noble truth of suffering … the noble truth of the way leading to the cessation of suffering.
SC 4“Therefore, bhikkhus, an exertion should be made to understand: ‘This is suffering.’… An exertion should be made to understand: ‘This is the way leading to the cessation of suffering.’”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần.
Vi-n 3 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng hay không?
—Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài.
Vi-n 4 —Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỷ-kheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng ấy; còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ để được làm người trở lại. Vì sao?
Vi-n 5 Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỷ-kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có người yếu bị ăn thịt. Vì sao?
Vi-n 6 Vì không thấy được bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ … Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Vi-n 7 Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ” … một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.
“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso mahāsamudde ekacchiggaḷaṁ yugaṁ pakkhipeyya. Tatrāpissa kāṇo kacchapo. So vassasatassa vassasatassa accayena sakiṁ sakiṁ ummujjeyya.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu kho kāṇo kacchapo vassasatassa vassasatassa accayena sakiṁ sakiṁ ummujjanto amusmiṁ ekacchiggaḷe yuge gīvaṁ paveseyyā”ti?
“Yadi nūna, bhante, kadāci karahaci dīghassa addhuno accayenā”ti.
“Khippataraṁ kho so, bhikkhave, kāṇo kacchapo vassasatassa vassasatassa accayena sakiṁ sakiṁ ummujjanto amusmiṁ ekacchiggaḷe yuge gīvaṁ paveseyya, na tvevāhaṁ, bhikkhave, sakiṁ vinipātagatena bālena manussattaṁ vadāmi.
Taṁ kissa hetu?
Na hettha, bhikkhave, atthi dhammacariyā, samacariyā, kusalakiriyā, puññakiriyā.
Aññamaññakhādikā ettha, bhikkhave, vattati dubbalakhādikā.
Taṁ kissa hetu?
Adiṭṭhattā, bhikkhave, catunnaṁ ariyasaccānaṁ.
Katamesaṁ catunnaṁ?
Dukkhassa ariyasaccassa …pe… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasaccassa.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti.
Sattamaṁ.