Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, núi Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, diệt tận, chỉ còn lại bảy hòn sỏi lớn bằng hột cải. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo? Cái nào là nhiều hơn? Núi Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, diệt tận hay là bảy hòn sỏi lớn bằng hột cải được còn lại?
Vi-n 3 —Chính cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là núi Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, diệt tận này. Ít hơn là bảy hòn sỏi lớn bằng hột cải còn lại này. Không phải một trăm lần, không phải một ngàn lần, không phải một trăm ngàn lần, có thể sánh bằng khi so sánh núi Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, diệt tận với bảy hòn sỏi lớn bằng hột cải còn lại.
Vi-n 4 —Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị Thánh đệ tử đã chứng được kiến cụ túc, đối với người đã chứng được minh kiến, cái này nhiều hơn, tức là khổ đã được đoạn tận, diệt tận. Ít hơn là khổ còn lại. Không phải một trăm lần, không phải một ngàn lần, không phải một trăm ngàn lần, có thể sánh bằng khi so sánh với khổ uẩn trước đã được đoạn tận, tức là bảy lần nhiều hơn.
Vi-n 5 Như vậy lợi ích lớn thay, này các Tỷ-kheo, là pháp minh kiến; như vậy lợi ích lớn thay là chứng đắc pháp nhãn!
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Seyyathāpi, bhikkhave, himavā pabbatarājā parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya, ṭhapetvā satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
katamaṁ nu kho bahutaraṁ, yaṁ vā himavato pabbatarājassa parikkhīṇaṁ pariyādiṇṇaṁ yā vā satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā avasiṭṭhā”ti?
“Etadeva, bhante, bahutaraṁ himavato pabbatarājassa yadidaṁ parikkhīṇaṁ pariyādiṇṇaṁ;
appamattikā satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā avasiṭṭhā.
Neva satimaṁ kalaṁ upenti na sahassimaṁ kalaṁ upenti na satasahassimaṁ kalaṁ upenti himavato pabbatarājassa parikkhīṇaṁ pariyādiṇṇaṁ upanidhāya satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā avasiṭṭhā”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, ariyasāvakassa diṭṭhisampannassa puggalassa abhisametāvino etadeva bahutaraṁ dukkhaṁ yadidaṁ parikkhīṇaṁ pariyādiṇṇaṁ;
appamattakaṁ avasiṭṭhaṁ.
Neva satimaṁ kalaṁ upeti na sahassimaṁ kalaṁ upeti na satasahassimaṁ kalaṁ upeti purimaṁ dukkhakkhandhaṁ parikkhīṇaṁ pariyādiṇṇaṁ upanidhāya yadidaṁ sattakkhattuṁparamatā.
Evaṁ mahatthiyo kho, bhikkhave, dhammābhisamayo, evaṁ mahatthiyo dhammacakkhupaṭilābho”ti.
Dasamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, suppose the Himalayas, the king of mountains, was worn away and eroded except for seven pebbles the size of mustard seeds.
What do you think, mendicants?
Which is more: the portion of the Himalayas, the king of mountains, that has been worn away and eroded, or the seven pebbles the size of mustard seeds that are left?”
“Sir, the portion of the Himalayas, the king of mountains, that has been worn away and eroded is certainly more.
The seven pebbles the size of mustard seeds are tiny.
Compared to the Himalayas, it’s not nearly a hundredth, a thousandth, or a hundred thousandth part.”
“In the same way, for a noble disciple accomplished in view, an individual with comprehension, the suffering that’s over and done with is more,
what’s left is tiny.
Compared to the mass of suffering in the past that’s over and done with, it’s not nearly a hundredth, a thousandth, or a hundred thousandth part, since there are at most seven more lives.
That’s how very beneficial it is to comprehend the teaching and gain the vision of the teaching.”
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, núi Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, diệt tận, chỉ còn lại bảy hòn sỏi lớn bằng hột cải. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo? Cái nào là nhiều hơn? Núi Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, diệt tận hay là bảy hòn sỏi lớn bằng hột cải được còn lại?
Vi-n 3 —Chính cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là núi Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, diệt tận này. Ít hơn là bảy hòn sỏi lớn bằng hột cải còn lại này. Không phải một trăm lần, không phải một ngàn lần, không phải một trăm ngàn lần, có thể sánh bằng khi so sánh núi Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, diệt tận với bảy hòn sỏi lớn bằng hột cải còn lại.
Vi-n 4 —Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị Thánh đệ tử đã chứng được kiến cụ túc, đối với người đã chứng được minh kiến, cái này nhiều hơn, tức là khổ đã được đoạn tận, diệt tận. Ít hơn là khổ còn lại. Không phải một trăm lần, không phải một ngàn lần, không phải một trăm ngàn lần, có thể sánh bằng khi so sánh với khổ uẩn trước đã được đoạn tận, tức là bảy lần nhiều hơn.
Vi-n 5 Như vậy lợi ích lớn thay, này các Tỷ-kheo, là pháp minh kiến; như vậy lợi ích lớn thay là chứng đắc pháp nhãn!
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Seyyathāpi, bhikkhave, himavā pabbatarājā parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya, ṭhapetvā satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
katamaṁ nu kho bahutaraṁ, yaṁ vā himavato pabbatarājassa parikkhīṇaṁ pariyādiṇṇaṁ yā vā satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā avasiṭṭhā”ti?
“Etadeva, bhante, bahutaraṁ himavato pabbatarājassa yadidaṁ parikkhīṇaṁ pariyādiṇṇaṁ;
appamattikā satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā avasiṭṭhā.
Neva satimaṁ kalaṁ upenti na sahassimaṁ kalaṁ upenti na satasahassimaṁ kalaṁ upenti himavato pabbatarājassa parikkhīṇaṁ pariyādiṇṇaṁ upanidhāya satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā avasiṭṭhā”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, ariyasāvakassa diṭṭhisampannassa puggalassa abhisametāvino etadeva bahutaraṁ dukkhaṁ yadidaṁ parikkhīṇaṁ pariyādiṇṇaṁ;
appamattakaṁ avasiṭṭhaṁ.
Neva satimaṁ kalaṁ upeti na sahassimaṁ kalaṁ upeti na satasahassimaṁ kalaṁ upeti purimaṁ dukkhakkhandhaṁ parikkhīṇaṁ pariyādiṇṇaṁ upanidhāya yadidaṁ sattakkhattuṁparamatā.
Evaṁ mahatthiyo kho, bhikkhave, dhammābhisamayo, evaṁ mahatthiyo dhammacakkhupaṭilābho”ti.
Dasamaṁ.