Vi-n 1 Một thời Tôn giả Lomasavangìsa trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong khu vườn Nigrodha.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Thích tử Mahānāma đi đến Tôn giả Lomasavangiisa; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Lomasavangiisa rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Thích tử Mahānāma thưa với Tôn giả Lomasavangìsa:
Vi-n 3 —Thưa Tôn giả, hữu học trú với Như Lai trú là một, hay hữu học trú là khác, Như Lai trú là khác?
—Này Hiền giả Mahānāma, hữu học trú không phải là một với Như Lai trú. Này Hiền giả Mahānāma, hữu học trú là khác, Như Lai trú là khác.
Vi-n 4 Này Hiền giả Mahānāma, những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; sau khi đoạn tận năm triền cái, những vị ấy trú. Thế nào là năm? Ðoạn tận dục tham triền cái, các vị ấy trú. Ðoạn tận sân triền cái … Ðoạn tận hôn trầm thụy miên triền cái … Ðoạn tận trạo hối triền cái … Ðoạn tận nghi hoặc triền cái, các vị ấy trú. Này Hiền giả Mahānāma, những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, trú với tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; sau khi đoạn tận năm triền cái này, những vị ấy trú.
Vi-n 5 Và này Hiền giả Mahānāma, những Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã tu hành thành mãn, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí, giải thoát; những vị ấy đoạn tận năm triền cái, chặt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể khởi lên. Thế nào là năm? Dục tham triền cái được đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây ta-la, được làm cho không thể tái sanh, được làm cho không thể khởi lên; sân triền cái được đoạn tận … hôn trầm thụy miên triền cái được đoạn tận … trạo hối triền cái được đoạn tận … nghi hoặc triền cái được đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây ta-la, được làm cho không thể tái sanh, được làm cho không thể khởi lên. Này Hiền giả Mahānāma, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã tu hành thành mãn, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí, giải thoát; những vị ấy đã đoạn tận năm triền cái này, đã chặt đứt từ gốc rễ, đã làm cho như thân cây ta-la, đã làm cho không thể tái sanh, đã làm cho không thể khởi lên.
Vi-n 6 Như vậy, với pháp môn này, này Hiền giả Mahānāma, Hiền giả cần phải hiểu rằng hữu học trú là khác, Như Lai trú là khác.
Vi-n 7 1. —Một thời, thưa Hiền giả Mahānāma, Thế Tôn trú ở Icchànangala, tại khu rừng Icchànangala.
Vi-n 8 2. Rồi này Mahānāma, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 9 3. Rồi Thế Tôn …
Vi-n 10 4. “Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta …
Vi-n 11-16. 5–10. Thở vô dài …
Vi-n 17 11. Ai muốn nói một cách chơn chánh, đây là Thánh trú …
Vi-n 18 12. Những ai là những Tỷ-kheo hữu học …
Vi-n 19 13. Ai muốn nói một cách chơn chánh.”.
Vi-n 20 Với pháp môn này, này Hiền giả Mahānāma, cần phải hiểu như sau: Hữu học trú là khác, Như Lai trú là khác.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā lomasakaṁbhiyo sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho mahānāmo sakko yenāyasmā lomasakaṁbhiyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ lomasakaṁbhiyaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko āyasmantaṁ lomasakaṁbhiyaṁ etadavoca:
“so eva nu kho, bhante, sekho vihāro so tathāgatavihāro, udāhu aññova sekho vihāro añño tathāgatavihāro”ti?
“Na kho, āvuso mahānāma, sveva sekho vihāro, so tathāgatavihāro.
Añño kho, āvuso mahānāma, sekho vihāro, añño tathāgatavihāro.
Ye te, āvuso mahānāma, bhikkhū sekhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti, te pañca nīvaraṇe pahāya viharanti.
Katame pañca?
Kāmacchandanīvaraṇaṁ pahāya viharanti, byāpādanīvaraṇaṁ …pe…
thinamiddhanīvaraṇaṁ …
uddhaccakukkuccanīvaraṇaṁ …
vicikicchānīvaraṇaṁ pahāya viharanti.
Yepi te, āvuso mahānāma, bhikkhū sekhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti, te ime pañca nīvaraṇe pahāya viharanti.
Ye ca kho te, āvuso mahānāma, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, tesaṁ pañca nīvaraṇā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Katame pañca?
Kāmacchandanīvaraṇaṁ pahīnaṁ ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ;
byāpādanīvaraṇaṁ pahīnaṁ …pe…
thinamiddhanīvaraṇaṁ …
uddhaccakukkuccanīvaraṇaṁ …
vicikicchānīvaraṇaṁ pahīnaṁ ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ.
Ye te, āvuso mahānāma, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, tesaṁ ime pañca nīvaraṇā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Tadamināpetaṁ, āvuso mahānāma, pariyāyena veditabbaṁ yathā—
aññova sekho vihāro, añño tathāgatavihāro.
Ekamidaṁ, āvuso mahānāma, samayaṁ bhagavā icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Tatra kho, āvuso mahānāma, bhagavā bhikkhū āmantesi:
‘icchāmahaṁ, bhikkhave, temāsaṁ paṭisallīyituṁ.
Nāmhi kenaci upasaṅkamitabbo, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakenā’ti.
‘Evaṁ, bhante’ti kho, āvuso mahānāma, te bhikkhū bhagavato paṭissutvā nāssudha koci bhagavantaṁ upasaṅkamati, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakena.
Atha kho, āvuso, bhagavā tassa temāsassa accayena paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi:
‘sace kho, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ:
“katamenāvuso, vihārena samaṇo gotamo vassāvāsaṁ bahulaṁ vihāsī”ti, evaṁ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyātha:
“ānāpānassatisamādhinā kho, āvuso, bhagavā vassāvāsaṁ bahulaṁ vihāsī”’ti.
Idhāhaṁ, bhikkhave, sato assasāmi, sato passasāmi.
Dīghaṁ assasanto dīghaṁ assasāmīti pajānāmi, dīghaṁ passasanto dīghaṁ passasāmīti pajānāmi …pe…
paṭinissaggānupassī assasissāmīti pajānāmi, paṭinissaggānupassī passasissāmīti pajānāmi.
Yañhi taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya—
ariyavihāro itipi, brahmavihāro itipi, tathāgatavihāro itipi.
Ānāpānassatisamādhiṁ sammā vadamāno vadeyya—
ariyavihāro itipi, brahmavihāro itipi, tathāgatavihāro itipi.
Ye te, bhikkhave, bhikkhū sekhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti, tesaṁ ānāpānassatisamādhi bhāvito bahulīkato āsavānaṁ khayāya saṁvattati.
Ye ca kho te, bhikkhave, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, tesaṁ ānāpānassatisamādhi bhāvito bahulīkato diṭṭheva dhamme sukhavihārāya ceva saṁvattati satisampajaññāya ca.
Yañhi taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya—
ariyavihāro itipi, brahmavihāro itipi, tathāgatavihāro itipi.
Ānāpānassatisamādhiṁ sammā vadamāno vadeyya—
ariyavihāro itipi, brahmavihāro itipi, tathāgatavihāro itipīti.
Iminā kho etaṁ, āvuso mahānāma, pariyāyena veditabbaṁ, yathā—
aññova sekho vihāro, añño tathāgatavihāro”ti.
Dutiyaṁ.
At one time Venerable Lomasakaṅgiya was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.
Then Mahānāma the Sakyan went up to Venerable Lomasakaṅgiya, bowed, sat down to one side, and said to him,
“Sir, is the meditation of a trainee just the same as the meditation of a realized one? Or is the meditation of a trainee different from the meditation of a realized one?”
“Reverend Mahānāma, the meditation of a trainee and a realized one are not the same;
they are different.
Those mendicants who are trainees haven’t achieved their heart’s desire, but live aspiring for the supreme sanctuary from the yoke. They meditate after giving up the five hindrances.
What five?
The hindrances of sensual desire, ill will,
dullness and drowsiness,
restlessness and remorse,
and doubt.
Those who are trainee mendicants … meditate after giving up the five hindrances.
Those mendicants who are perfected—who have ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment—for them, the five hindrances are cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
What five?
The hindrances of sensual desire,
ill will,
dullness and drowsiness,
restlessness and remorse,
and doubt.
Those mendicants who are perfected—who have ended the defilements … for them, the five hindrances are cut off at the root … and unable to arise in the future.
And here’s another way to understand how
the meditation of a trainee and a realized one are different.
At one time the Buddha was staying in a forest near Icchānaṅgala.
There he addressed the mendicants,
‘Mendicants, I wish to go on retreat for three months.
No-one should approach me, except for the one who brings my almsfood.’
‘Yes, sir,’ replied those mendicants. And no-one approached him, except for the one who brought the almsfood.
Then after three months had passed, the Buddha came out of retreat and addressed the mendicants:
‘Mendicants, if wanderers who follow another religion were to ask you:
“Reverends, what was the ascetic Gotama’s usual meditation during the rainy season residence?” You should answer them like this:
“Reverends, the ascetic Gotama’s usual meditation during the rainy season residence was immersion due to mindfulness of breathing.”
In this regard: mindful, I breathe in. Mindful, I breathe out.
Breathing in heavily I know: “I’m breathing in heavily.” Breathing out heavily I know: “I’m breathing out heavily.” …
I know: “I’ll breathe in observing letting go.” I know: “I’ll breathe out observing letting go.”
For if anything should be rightly called
“noble meditation”, or else “divine meditation’, or else “a realized one’s meditation”,
it’s immersion due to mindfulness of breathing.
For those mendicants who are trainees—who haven’t achieved their heart’s desire, but live aspiring for the supreme sanctuary from the yoke—the development and cultivation of immersion due to mindfulness of breathing leads to the ending of defilements.
For those mendicants who are perfected—who have ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment—the development and cultivation of immersion due to mindfulness of breathing leads to blissful meditation in this very life, and to mindfulness and awareness.
For if anything should be rightly called
“noble meditation”, or else “divine meditation’, or else “a realized one’s meditation”,
it’s immersion due to mindfulness of breathing.’
This is another way to understand how
the meditation of a trainee and a realized one are different.”
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Lomasavangìsa trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong khu vườn Nigrodha.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Thích tử Mahānāma đi đến Tôn giả Lomasavangiisa; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Lomasavangiisa rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Thích tử Mahānāma thưa với Tôn giả Lomasavangìsa:
Vi-n 3 —Thưa Tôn giả, hữu học trú với Như Lai trú là một, hay hữu học trú là khác, Như Lai trú là khác?
—Này Hiền giả Mahānāma, hữu học trú không phải là một với Như Lai trú. Này Hiền giả Mahānāma, hữu học trú là khác, Như Lai trú là khác.
Vi-n 4 Này Hiền giả Mahānāma, những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; sau khi đoạn tận năm triền cái, những vị ấy trú. Thế nào là năm? Ðoạn tận dục tham triền cái, các vị ấy trú. Ðoạn tận sân triền cái … Ðoạn tận hôn trầm thụy miên triền cái … Ðoạn tận trạo hối triền cái … Ðoạn tận nghi hoặc triền cái, các vị ấy trú. Này Hiền giả Mahānāma, những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, trú với tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; sau khi đoạn tận năm triền cái này, những vị ấy trú.
Vi-n 5 Và này Hiền giả Mahānāma, những Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã tu hành thành mãn, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí, giải thoát; những vị ấy đoạn tận năm triền cái, chặt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể khởi lên. Thế nào là năm? Dục tham triền cái được đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây ta-la, được làm cho không thể tái sanh, được làm cho không thể khởi lên; sân triền cái được đoạn tận … hôn trầm thụy miên triền cái được đoạn tận … trạo hối triền cái được đoạn tận … nghi hoặc triền cái được đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây ta-la, được làm cho không thể tái sanh, được làm cho không thể khởi lên. Này Hiền giả Mahānāma, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã tu hành thành mãn, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí, giải thoát; những vị ấy đã đoạn tận năm triền cái này, đã chặt đứt từ gốc rễ, đã làm cho như thân cây ta-la, đã làm cho không thể tái sanh, đã làm cho không thể khởi lên.
Vi-n 6 Như vậy, với pháp môn này, này Hiền giả Mahānāma, Hiền giả cần phải hiểu rằng hữu học trú là khác, Như Lai trú là khác.
Vi-n 7 1. —Một thời, thưa Hiền giả Mahānāma, Thế Tôn trú ở Icchànangala, tại khu rừng Icchànangala.
Vi-n 8 2. Rồi này Mahānāma, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 9 3. Rồi Thế Tôn …
Vi-n 10 4. “Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta …
Vi-n 11-16. 5–10. Thở vô dài …
Vi-n 17 11. Ai muốn nói một cách chơn chánh, đây là Thánh trú …
Vi-n 18 12. Những ai là những Tỷ-kheo hữu học …
Vi-n 19 13. Ai muốn nói một cách chơn chánh.”.
Vi-n 20 Với pháp môn này, này Hiền giả Mahānāma, cần phải hiểu như sau: Hữu học trú là khác, Như Lai trú là khác.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā lomasakaṁbhiyo sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho mahānāmo sakko yenāyasmā lomasakaṁbhiyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ lomasakaṁbhiyaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko āyasmantaṁ lomasakaṁbhiyaṁ etadavoca:
“so eva nu kho, bhante, sekho vihāro so tathāgatavihāro, udāhu aññova sekho vihāro añño tathāgatavihāro”ti?
“Na kho, āvuso mahānāma, sveva sekho vihāro, so tathāgatavihāro.
Añño kho, āvuso mahānāma, sekho vihāro, añño tathāgatavihāro.
Ye te, āvuso mahānāma, bhikkhū sekhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti, te pañca nīvaraṇe pahāya viharanti.
Katame pañca?
Kāmacchandanīvaraṇaṁ pahāya viharanti, byāpādanīvaraṇaṁ …pe…
thinamiddhanīvaraṇaṁ …
uddhaccakukkuccanīvaraṇaṁ …
vicikicchānīvaraṇaṁ pahāya viharanti.
Yepi te, āvuso mahānāma, bhikkhū sekhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti, te ime pañca nīvaraṇe pahāya viharanti.
Ye ca kho te, āvuso mahānāma, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, tesaṁ pañca nīvaraṇā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Katame pañca?
Kāmacchandanīvaraṇaṁ pahīnaṁ ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ;
byāpādanīvaraṇaṁ pahīnaṁ …pe…
thinamiddhanīvaraṇaṁ …
uddhaccakukkuccanīvaraṇaṁ …
vicikicchānīvaraṇaṁ pahīnaṁ ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ.
Ye te, āvuso mahānāma, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, tesaṁ ime pañca nīvaraṇā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Tadamināpetaṁ, āvuso mahānāma, pariyāyena veditabbaṁ yathā—
aññova sekho vihāro, añño tathāgatavihāro.
Ekamidaṁ, āvuso mahānāma, samayaṁ bhagavā icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Tatra kho, āvuso mahānāma, bhagavā bhikkhū āmantesi:
‘icchāmahaṁ, bhikkhave, temāsaṁ paṭisallīyituṁ.
Nāmhi kenaci upasaṅkamitabbo, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakenā’ti.
‘Evaṁ, bhante’ti kho, āvuso mahānāma, te bhikkhū bhagavato paṭissutvā nāssudha koci bhagavantaṁ upasaṅkamati, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakena.
Atha kho, āvuso, bhagavā tassa temāsassa accayena paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi:
‘sace kho, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ:
“katamenāvuso, vihārena samaṇo gotamo vassāvāsaṁ bahulaṁ vihāsī”ti, evaṁ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyātha:
“ānāpānassatisamādhinā kho, āvuso, bhagavā vassāvāsaṁ bahulaṁ vihāsī”’ti.
Idhāhaṁ, bhikkhave, sato assasāmi, sato passasāmi.
Dīghaṁ assasanto dīghaṁ assasāmīti pajānāmi, dīghaṁ passasanto dīghaṁ passasāmīti pajānāmi …pe…
paṭinissaggānupassī assasissāmīti pajānāmi, paṭinissaggānupassī passasissāmīti pajānāmi.
Yañhi taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya—
ariyavihāro itipi, brahmavihāro itipi, tathāgatavihāro itipi.
Ānāpānassatisamādhiṁ sammā vadamāno vadeyya—
ariyavihāro itipi, brahmavihāro itipi, tathāgatavihāro itipi.
Ye te, bhikkhave, bhikkhū sekhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti, tesaṁ ānāpānassatisamādhi bhāvito bahulīkato āsavānaṁ khayāya saṁvattati.
Ye ca kho te, bhikkhave, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, tesaṁ ānāpānassatisamādhi bhāvito bahulīkato diṭṭheva dhamme sukhavihārāya ceva saṁvattati satisampajaññāya ca.
Yañhi taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya—
ariyavihāro itipi, brahmavihāro itipi, tathāgatavihāro itipi.
Ānāpānassatisamādhiṁ sammā vadamāno vadeyya—
ariyavihāro itipi, brahmavihāro itipi, tathāgatavihāro itipīti.
Iminā kho etaṁ, āvuso mahānāma, pariyāyena veditabbaṁ, yathā—
aññova sekho vihāro, añño tathāgatavihāro”ti.
Dutiyaṁ.