Vi-n 1 Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), trong vườn Nigrodha.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ có một hội đường mới của những người Sakka ở Kapilavatthu được làm không bao lâu, chưa được một Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay một người nào đến ở.
Vi-n 3 Rồi một số người Sakka ở Kapilavatthu đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi xuống một bên, các người Sakka ở Kapilavatthu bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, có hội đường mới của những người Sakka ở Kapilavatthu được làm không bao lâu, chưa được một Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay một người nào đến ở. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy sử dụng ngôi nhà ấy đầu tiên, rồi sau các người Sakka ở Kapilavatthu sẽ sử dụng. Như vậy, sẽ đưa đến hạnh phúc và an lạc lâu dài cho những người Sakka ở Kapilivatthu.
Thế Tôn im lặng nhận lời.
Vi-n 5 Những người Sakka ở Kapilavatthu sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi đi đến hội đường mới ấy. Sau khi đến, họ cho trải toàn bộ hội đường với những tấm đệm, cho bày biện các chỗ ngồi, cho sắp đặt ghè nước, cho treo đèn dầu, rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, toàn bộ hội đường đã được trải đệm. Các chỗ ngồi đã được bày biện. Một ghè nước đã được đặt sẵn. Ngọn đèn dầu đã được treo lên. Nay Thế Tôn hãy làm gì Ngài nghĩ là phải thời.
Vi-n 6 Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến hội đường mới; sau khi đến, rửa chân, đi vào hội đường và ngồi dựa vào cây cột ở giữa, mặt hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo, sau khi rửa chân, bước vào hội đường, và ngồi dựa vào bức tường phía Tây, mặt hướng về phía Ðông, với Thế Tôn trước mặt. Các người Sakka ở Kapilavatthu, sau khi rửa chân, bước vào hội đường, ngồi dựa vào bức tường phía Ðông, hướng mặt về phía Tây, với Thế Tôn phía trước mặt.
Vi-n 7 Rồi Thế Tôn, phần lớn của đêm, với pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các người Sakka ở Kapilavatthu. Rồi Thế Tôn giải tán họ với câu:
—Này các Sakka, đêm đã quá khuya, nay các Ông hãy làm những gì các Ông nghĩ là hợp thời.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các người Sakka ở Kapilavatthu vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Vi-n 8 Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Này Moggallāna, chúng Tỷ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggallāna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỷ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Mahà Moggallāna vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 9 Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy.
Vi-n 10 Ở đây, Tôn giả Mahà Moggallāna gọi các Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền.
—Thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallāna. Tôn giả Mahà Moggallāna nói như sau:
—Này chư Hiền, tôi sẽ giảng cho chư Hiền về pháp môn nhiễm dục lậu, và pháp môn không nhiễm dục lậu. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Tôi sẽ giảng.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallāna. Tôn giả Mahà Moggallāna nói như sau:
Vi-n 11 —Và này chư Hiền, thế nào là nhiễm dục lậu? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp sắc khả ái, ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được trừ diệt không có dư tàn … Khi lưỡi nếm vị … Khi ý biết các pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được trừ diệt không có dư tàn.
Vi-n 12 Này chư Hiền, đây gọi là Tỷ-kheo bị nhiễm dục lậu đối với các sắc do mắt nhận thức … đối với các vị do lưỡi nhận thức … đối với các pháp do ý nhận thức. Tỷ-kheo sống như vậy, này chư Hiền, nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua ý, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng.
Vi-n 13 Cũng vậy, này chư Hiền, như một cái nhà lợp bằng cây lau hay cỏ, héo khô, không có nhựa, xưa đến ba bốn năm. Nếu từ phương Ðông có người đến, với bó đuốc cháy đỏ, ngọn lửa sẽ nắm được cơ hội, sẽ nắm được đối tượng. Nếu một người từ phương Tây đến … Nếu một người từ phương Bắc đến … Nếu một người từ phương Nam đến … Nếu một người từ phương dưới đến … Nếu một người từ phương trên đến, hay một người bất cứ từ ở đâu đến, với bó đuốc cháy đỏ, ngọn lửa nắm được cơ hội, ngọn lửa nắm được đối tượng. Cũng vậy, này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống như vậy. Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua ý, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng.
Vi-n 14 Này chư Hiền, sống như vậy, các sắc chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các sắc. Các tiếng chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các tiếng. Các hương chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các hương. Các vị chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các vị. Các xúc chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các xúc. Các pháp chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các pháp. Này chư Hiền, đây được gọi là Tỷ-kheo bị sắc chinh phục, bị tiếng chinh phục, bị hương chinh phục, bị vị chinh phục, bị xúc chinh phục, bị pháp chinh phục, không phải không bị chinh phục. Chinh phục vị ấy là các ác bất thiện pháp bị nhiễm ô, đưa đến tái sanh, đầy sợ hãi (sadarà), đưa đến quả khổ dị thục, tương lai là già chết. Như vậy, này chư Hiền, là nhiễm dục lậu.
Vi-n 15 Và này chư Hiền, thế nào là không nhiễm dục lậu? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp sắc khả ái, không ghét bỏ sắc không khả ái, sống an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn … Khi lưỡi nếm vị … Khi ý biết các pháp, vị ấy không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn. Này chư Hiền, đây gọi là vị Tỷ-kheo không bị nhiễm dục lậu đối với các sắc do mắt nhận thức … đối với các vị do lưỡi nhận thức … đối với các pháp do ý nhận thức … Tỷ-kheo sống như vậy, này chư Hiền, nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Māra không nắm được cơ hội, Māra không nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi, Māra không nắm được cơ hội, Māra không nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua ý, Māra không nắm được cơ hội, Māra không nắm được đối tượng.
Vi-n 16 Ví như, này chư Hiền, một cái nhà có nóc nhọn hay một giảng đường có nóc nhọn xây bằng đất dày, vừa mới xoa trét, nếu có người từ phương Ðông lại với ngọn đuốc cháy đỏ, ngọn lửa không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng … từ phương Tây đến … từ phương Bắc đến … từ phương Nam đến … từ phương dưới đến … từ phương trên đến hay từ bất cứ phương nào đến, với ngọn đuốc cháy đỏ, ngọn lửa không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng.
Vi-n 17 Sống như vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo chinh phục các sắc, không phải các sắc chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các tiếng, không phải các tiếng chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các hương, không phải các hương chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các vị, không phải các vị chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các xúc, không phải các xúc chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các pháp, không phải các pháp chinh phục Tỷ-kheo. Này chư Hiền, đây gọi là Tỷ-kheo chinh phục các sắc, chinh phục các tiếng, chinh phục các hương, chinh phục các vị, chinh phục các xúc, chinh phục các pháp, không phải bị chinh phục. Chính vị ấy chinh phục các ác bất thiện pháp bị nhiễm ô, đưa đến tái sanh, đầy sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục tương lai là già chết. Như vậy, này chư Hiền, là không nhiễm dục lậu.
Vi-n 18 Rồi Thế Tôn ngồi dậy và gọi Tôn giả Màha Moggallāna:
—Lành thay, lành thay, này Moggallāna! Lành thay, này Moggallāna! Ông đã thuyết cho các Tỷ-kheo về pháp môn nhiễm dục lậu và pháp môn không nhiễm dục lậu.
Vi-n 19 Tôn giả Mahà Moggallāna thuyết như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Mahà Moggallāna thuyết.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Tena kho pana samayena kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ navaṁ santhāgāraṁ acirakāritaṁ hoti anajjhāvuṭṭhaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena.
Atha kho kāpilavatthavā sakyā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho kāpilavatthavā sakyā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ navaṁ santhāgāraṁ acirakāritaṁ anajjhāvuṭṭhaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena.
Taṁ, bhante, bhagavā paṭhamaṁ paribhuñjatu.
Bhagavatā paṭhamaṁ paribhuttaṁ pacchā kāpilavatthavā sakyā paribhuñjissanti.
Tadassa kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho kāpilavatthavā sakyā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena navaṁ santhāgāraṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sabbasanthariṁ santhāgāraṁ santharitvā āsanāni paññāpetvā udakamaṇikaṁ patiṭṭhāpetvā telappadīpaṁ āropetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“sabbasantharisanthataṁ, bhante, santhāgāraṁ, āsanāni paññattāni, udakamaṇiko patiṭṭhāpito, telappadīpo āropito.
Yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho bhagavā nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena navaṁ santhāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā pāde pakkhāletvā santhāgāraṁ pavisitvā majjhimaṁ thambhaṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi.
Bhikkhusaṅghopi kho pāde pakkhāletvā santhāgāraṁ pavisitvā pacchimaṁ bhittiṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi bhagavantaṁyeva purakkhatvā.
Kāpilavatthavā sakyā pāde pakkhāletvā santhāgāraṁ pavisitvā puratthimaṁ bhittiṁ nissāya pacchimābhimukhā nisīdiṁsu bhagavantaṁyeva purakkhatvā.
Atha kho bhagavā kāpilavatthave sakye bahudeva rattiṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uyyojesi:
“abhikkantā kho, gotamā, ratti.
Yassadāni kālaṁ maññathā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho kāpilavatthavā sakyā bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Atha kho bhagavā acirapakkantesu kāpilavatthavesu sakyesu āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ āmantesi:
“vigatathinamiddho kho, moggallāna, bhikkhusaṅgho.
Paṭibhātu taṁ, moggallāna, bhikkhūnaṁ dhammī kathā.
Piṭṭhi me āgilāyati;
tamahaṁ āyamissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā mahāmoggallāno bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapetvā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi, pāde pādaṁ accādhāya, sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā.
Tatra kho āyasmā mahāmoggallāno bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahāmoggallānassa paccassosuṁ.
Āyasmā mahāmoggallāno etadavoca:
“avassutapariyāyañca vo, āvuso, desessāmi, anavassutapariyāyañca.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahāmoggallānassa paccassosuṁ.
Āyasmā mahāmoggallāno etadavoca:
“Kathaṁ, āvuso, avassuto hoti?
Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe adhimuccati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassatī viharati parittacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme adhimuccati, appiyarūpe dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassatī ca viharati parittacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Ayaṁ vuccati, āvuso, bhikkhu avassuto cakkhuviññeyyesu rūpesu …pe…
avassuto jivhāviññeyyesu rasesu …pe…
avassuto manoviññeyyesu dhammesu.
Evaṁvihāriñcāvuso, bhikkhuṁ cakkhuto cepi naṁ māro upasaṅkamati labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ …pe…
jivhāto cepi naṁ māro upasaṅkamati, labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ …pe…
manato cepi naṁ māro upasaṅkamati, labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ.
Seyyathāpi, āvuso, naḷāgāraṁ vā tiṇāgāraṁ vā sukkhaṁ kolāpaṁ terovassikaṁ.
Puratthimāya cepi naṁ disāya puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, labhetheva aggi otāraṁ, labhetha aggi ārammaṇaṁ;
pacchimāya cepi naṁ disāya puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya …pe…
uttarāya cepi naṁ disāya …pe…
dakkhiṇāya cepi naṁ disāya …pe…
heṭṭhimato cepi naṁ …pe…
uparimato cepi naṁ …
yato kutoci cepi naṁ puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, labhetheva aggi otāraṁ labhetha aggi ārammaṇaṁ.
Evameva kho, āvuso, evaṁvihāriṁ bhikkhuṁ cakkhuto cepi naṁ māro upasaṅkamati, labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ …pe…
jivhāto cepi naṁ māro upasaṅkamati …pe…
manato cepi naṁ māro upasaṅkamati, labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ.
Evaṁvihāriñcāvuso, bhikkhuṁ rūpā adhibhaṁsu, na bhikkhu rūpe adhibhosi;
saddā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu sadde adhibhosi;
gandhā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu gandhe adhibhosi;
rasā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu rase adhibhosi;
phoṭṭhabbā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu phoṭṭhabbe adhibhosi;
dhammā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu dhamme adhibhosi.
Ayaṁ vuccatāvuso, bhikkhu rūpādhibhūto, saddādhibhūto, gandhādhibhūto, rasādhibhūto, phoṭṭhabbādhibhūto, dhammādhibhūto, adhibhūto, anadhibhū, adhibhaṁsu naṁ pāpakā akusalā dhammā saṅkilesikā ponobhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā.
Evaṁ kho, āvuso, avassuto hoti.
Kathañcāvuso, anavassuto hoti?
Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe nādhimuccati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme nādhimuccati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Ayaṁ vuccatāvuso, bhikkhu anavassuto cakkhuviññeyyesu rūpesu …pe…
anavassuto manoviññeyyesu dhammesu.
Evaṁvihāriñcāvuso, bhikkhuṁ cakkhuto cepi naṁ māro upasaṅkamati, neva labhati māro otāraṁ, na labhati māro ārammaṇaṁ …pe…
jivhāto cepi naṁ māro upasaṅkamati …pe…
manato cepi naṁ māro upasaṅkamati, neva labhati māro otāraṁ, na labhati māro ārammaṇaṁ.
Seyyathāpi, āvuso, kūṭāgāraṁ vā sālā vā bahalamattikā addāvalepanā.
Puratthimāya cepi naṁ disāya puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, neva labhetha aggi otāraṁ, na labhetha aggi ārammaṇaṁ …pe…
pacchimāya cepi naṁ …
uttarāya cepi naṁ …
dakkhiṇāya cepi naṁ …
heṭṭhimato cepi naṁ …
uparimato cepi naṁ …
yato kutoci cepi naṁ puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, neva labhetha aggi otāraṁ, na labhetha aggi ārammaṇaṁ.
Evameva kho, āvuso, evaṁvihāriṁ bhikkhuṁ cakkhuto cepi naṁ māro upasaṅkamati, neva labhati māro otāraṁ, na labhati māro ārammaṇaṁ …pe…
manato cepi naṁ māro upasaṅkamati, neva labhati māro otāraṁ, na labhati māro ārammaṇaṁ.
Evaṁvihārī cāvuso, bhikkhu rūpe adhibhosi, na rūpā bhikkhuṁ adhibhaṁsu;
sadde bhikkhu adhibhosi, na saddā bhikkhuṁ adhibhaṁsu;
gandhe bhikkhu adhibhosi, na gandhā bhikkhuṁ adhibhaṁsu;
rase bhikkhu adhibhosi, na rasā bhikkhuṁ adhibhaṁsu;
phoṭṭhabbe bhikkhu adhibhosi, na phoṭṭhabbā bhikkhuṁ adhibhaṁsu;
dhamme bhikkhu adhibhosi, na dhammā bhikkhuṁ adhibhaṁsu.
Ayaṁ vuccatāvuso, bhikkhu rūpādhibhū, saddādhibhū, gandhādhibhū, rasādhibhū, phoṭṭhabbādhibhū, dhammādhibhū, adhibhū, anadhibhūto, adhibhosi te pāpake akusale dhamme saṅkilesike ponobhavike sadare dukkhavipāke āyatiṁ jātijarāmaraṇiye.
Evaṁ kho, āvuso, anavassuto hotī”ti.
Atha kho bhagavā uṭṭhahitvā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ āmantesi:
“sādhu sādhu, moggallāna.
Sādhu kho tvaṁ, moggallāna, bhikkhūnaṁ avassutapariyāyañca anavassutapariyāyañca abhāsī”ti.
Idamavoca āyasmā mahāmoggallāno.
Samanuñño satthā ahosi.
Attamanā te bhikkhū āyasmato mahāmoggallānassa bhāsitaṁ abhinandunti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling among the Sakyans at Kapilavatthu in Nigrodha’s Park. Now on that occasion a new assembly hall had just been built for the Sakyans of Kapilavatthu and it had not yet been inhabited by any ascetic or brahmin or by any human being at all. Then the Sakyans of Kapilavatthu approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:
SC 2“Venerable sir, a new council hall has just been built for the Sakyans of Kapilavatthu and it has not yet been inhabited by any ascetic or brahmin or by any human being at all. sn.iv.183 Venerable sir, let the Blessed One be the first to use it. When the Blessed One has used it first, then the Sakyans of Kapilavatthu will use it afterwards. That will lead to their welfare and happiness for a long time.”
SC 3The Blessed One consented by silence. Then, when the Sakyans understood that the Blessed One had consented, they rose from their seats and, after paying homage to the Blessed One, keeping him on their right, they went to the new assembly hall. They covered it thoroughly with mats, prepared seats, put out a large water jug, and hung up an oil lamp. Then they approached the Blessed One and informed him of this, adding: “Let the Blessed One come at his own convenience.”
SC 4Then the Blessed One dressed and, taking bowl and robe, went together with the Saṅgha of bhikkhus to the new assembly hall. After washing his feet, he entered the hall and sat down against the central pillar facing east. The bhikkhus too, after washing their feet, entered the hall and sat down against the western wall facing east, with the Blessed One in front of them. The Sakyans of Kapilavatthu too, after washing their feet, entered the hall and sat down against the eastern wall facing west, with the Blessed One in front of them.
SC 5The Blessed One then instructed, exhorted, inspired, and gladdened the Sakyans with a Dhamma talk through much of the night, after which he dismissed them, saying: “The night has passed, Gotamas. You may go at your own convenience.” sn.iv.184
SC 6“Yes, venerable sir,” they replied. Then they rose from their seats and, after paying homage to the Blessed One, keeping him on their right, they departed. Then, not long after the Sakyans of Kapilavatthu had left, the Blessed One addressed the Venerable Mahamoggallana thus: “The Saṅgha of bhikkhus is free from sloth and torpor, Moggallana. Give a Dhamma talk to the bhikkhus. My back is aching, so I will stretch it.”
SC 7“Yes, venerable sir,” the Venerable Mahamoggallana replied.
SC 8Then the Blessed One prepared his outer robe folded in four and lay down on his right side in the lion’s posture, with one foot overlapping the other, mindful and clearly comprehending, after noting in his mind the idea of rising. Thereupon the Venerable Mahamoggallana addressed the bhikkhus thus: “Friends, bhikkhus!”
SC 9“Friend!” those bhikkhus replied. The Venerable Mahamoggallana said this:
SC 10“I will teach you, friends, an exposition on the corrupted and the uncorrupted. Listen to it and attend closely, I will speak.”
SC 11“Yes, friend,” those bhikkhus replied. The Venerable Mahamoggallana said this:
SC 12“How, friends, is one corrupted? Here, having seen a form with the eye, a bhikkhu is intent upon a pleasing form and repelled by a displeasing form. He dwells without having set up mindfulness of the body, with a limited mind, and he does not understand as it really is that liberation of mind, liberation by wisdom, wherein those evil unwholesome states cease without remainder. sn.iv.185 Having heard a sound with the ear … Having cognized a mental phenomenon with the mind, he is intent upon a pleasing mental phenomenon and repelled by a displeasing mental phenomenon. He dwells without having set up mindfulness of the body, with a limited mind, and he does not understand as it really is that liberation of mind, liberation by wisdom, wherein those evil unwholesome states cease without remainder.
SC 13“This is called, friends, a bhikkhu who is corrupted amidst forms cognizable by the eye, corrupted amidst sounds cognizable by the ear, corrupted amidst odours cognizable by the nose, corrupted amidst tastes cognizable by the tongue, corrupted amidst tactile objects cognizable by the body, corrupted amidst mental phenomena cognizable by the mind. When a bhikkhu dwells thus, if Mara approaches him through the eye, Mara gains access to him, Mara gets a hold on him. If Mara approaches him through the ear … through the mind, Mara gains access to him, Mara gets a hold on him.
SC 14“Suppose, friends, there is a shed made of reeds or of grass, dried up, desiccated, past its prime. If a man approaches it from the east with a blazing grass torch, or from the west, from the north, from the south, from below, or from above, whichever way he approaches it the fire gains access to it, the fire gets a hold on it. So too, friends, when a bhikkhu dwells thus, if Mara approaches him through the eye … through the mind, Mara gains access to him, Mara gets a hold on him.
SC 15“When a bhikkhu dwells thus, forms overwhelm him; he does not overwhelm forms. Sounds overwhelm him; sn.iv.186 he does not overwhelm sounds. Odours overwhelm him; he does not overwhelm odours. Tastes overwhelm him; he does not overwhelm tastes. Tactile objects overwhelm him; he does not overwhelm tactile objects. Mental phenomena overwhelm him; he does not overwhelm mental phenomena. This is called, friends, a bhikkhu who is overwhelmed by forms, overwhelmed by sounds, overwhelmed by odours, overwhelmed by tastes, overwhelmed by tactile objects, overwhelmed by mental phenomena—one who is overwhelmed and who does not overwhelm. Evil unwholesome states have overwhelmed him, states that defile, that lead to renewed existence, that bring trouble, that result in suffering, and that lead to future birth, aging, and death.
SC 16“It is in this way, friends, that one is corrupted.
SC 17“And how, friends, is one uncorrupted? Here, having seen a form with the eye, a bhikkhu is not intent upon a pleasing form and not repelled by a displeasing form. He dwells having set up mindfulness of the body, with a measureless mind, and he understands as it really is that liberation of mind, liberation by wisdom, wherein those evil unwholesome states cease without remainder. Having heard a sound with the ear … Having cognized a mental phenomenon with the mind, he is not intent upon a pleasing mental phenomenon and not repelled by a displeasing mental phenomenon. He dwells having set up mindfulness of the body, with a measureless mind, and he understands as it really is that liberation of mind, liberation by wisdom, wherein those evil unwholesome states cease without remainder.
SC 18“This is called, friends, a bhikkhu who is uncorrupted amidst forms cognizable by the eye, uncorrupted amidst sounds cognizable by the ear, uncorrupted amidst odours cognizable by the nose, uncorrupted amidst tastes cognizable by the tongue, uncorrupted amidst tactile objects cognizable by the body, uncorrupted amidst mental phenomena cognizable by the mind. When a bhikkhu dwells thus, if Mara approaches him through the eye, Mara fails to gain access to him, Mara fails to get a hold on him. If Mara approaches him through the ear … through the mind, Mara fails to gain access to him, Mara fails to get a hold on him.
SC 19“Suppose, friends, there is a peaked house or a hall sn.iv.187 built of thickly packed clay and freshly plastered. If a man approaches it from the east with a blazing grass torch, or from the west, from the north, from the south, from below, or from above, whichever way he approaches it the fire fails to gain access to it, the fire fails to get a hold on it. So too, friends, when a bhikkhu dwells thus, if Mara approaches him through the eye … through the mind, Mara fails to gain access to him, Mara fails to get a hold on him.
SC 20“When a bhikkhu dwells thus, he overwhelms forms; forms do not overwhelm him. He overwhelms sounds; sounds do not overwhelm him. He overwhelms odours; odours do not overwhelm him. He overwhelms tastes; tastes do not overwhelm him. He overwhelms tactile objects; tactile objects do not overwhelm him. He overwhelms mental phenomena; mental phenomena do not overwhelm him. This is called, friends, a bhikkhu who overwhelms forms, who overwhelms sounds, who overwhelms odours, who overwhelms tastes, who overwhelms tactile objects, who overwhelms mental phenomena—one who overwhelms and who is not overwhelmed. He has overwhelmed those evil unwholesome states that defile, that lead to renewed existence, that bring trouble, that result in suffering, and that lead to future birth, aging, and death.
SC 21“It is in this way, friends, that one is uncorrupted.”
SC 22Then the Blessed One got up and addressed the Venerable Mahamoggallana thus: “Good, good, Moggallana! You have spoken well to the bhikkhus the exposition on the corrupted and the uncorrupted.”
SC 23This is what the Venerable Mahamoggallana said. sn.iv.188 The Teacher approved. Elated, those bhikkhus delighted in the Venerable Mahamoggallana’s statement.
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), trong vườn Nigrodha.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ có một hội đường mới của những người Sakka ở Kapilavatthu được làm không bao lâu, chưa được một Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay một người nào đến ở.
Vi-n 3 Rồi một số người Sakka ở Kapilavatthu đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi xuống một bên, các người Sakka ở Kapilavatthu bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, có hội đường mới của những người Sakka ở Kapilavatthu được làm không bao lâu, chưa được một Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay một người nào đến ở. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy sử dụng ngôi nhà ấy đầu tiên, rồi sau các người Sakka ở Kapilavatthu sẽ sử dụng. Như vậy, sẽ đưa đến hạnh phúc và an lạc lâu dài cho những người Sakka ở Kapilivatthu.
Thế Tôn im lặng nhận lời.
Vi-n 5 Những người Sakka ở Kapilavatthu sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi đi đến hội đường mới ấy. Sau khi đến, họ cho trải toàn bộ hội đường với những tấm đệm, cho bày biện các chỗ ngồi, cho sắp đặt ghè nước, cho treo đèn dầu, rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, toàn bộ hội đường đã được trải đệm. Các chỗ ngồi đã được bày biện. Một ghè nước đã được đặt sẵn. Ngọn đèn dầu đã được treo lên. Nay Thế Tôn hãy làm gì Ngài nghĩ là phải thời.
Vi-n 6 Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến hội đường mới; sau khi đến, rửa chân, đi vào hội đường và ngồi dựa vào cây cột ở giữa, mặt hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo, sau khi rửa chân, bước vào hội đường, và ngồi dựa vào bức tường phía Tây, mặt hướng về phía Ðông, với Thế Tôn trước mặt. Các người Sakka ở Kapilavatthu, sau khi rửa chân, bước vào hội đường, ngồi dựa vào bức tường phía Ðông, hướng mặt về phía Tây, với Thế Tôn phía trước mặt.
Vi-n 7 Rồi Thế Tôn, phần lớn của đêm, với pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các người Sakka ở Kapilavatthu. Rồi Thế Tôn giải tán họ với câu:
—Này các Sakka, đêm đã quá khuya, nay các Ông hãy làm những gì các Ông nghĩ là hợp thời.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các người Sakka ở Kapilavatthu vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Vi-n 8 Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Này Moggallāna, chúng Tỷ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggallāna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỷ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Mahà Moggallāna vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 9 Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy.
Vi-n 10 Ở đây, Tôn giả Mahà Moggallāna gọi các Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền.
—Thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallāna. Tôn giả Mahà Moggallāna nói như sau:
—Này chư Hiền, tôi sẽ giảng cho chư Hiền về pháp môn nhiễm dục lậu, và pháp môn không nhiễm dục lậu. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Tôi sẽ giảng.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallāna. Tôn giả Mahà Moggallāna nói như sau:
Vi-n 11 —Và này chư Hiền, thế nào là nhiễm dục lậu? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp sắc khả ái, ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được trừ diệt không có dư tàn … Khi lưỡi nếm vị … Khi ý biết các pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được trừ diệt không có dư tàn.
Vi-n 12 Này chư Hiền, đây gọi là Tỷ-kheo bị nhiễm dục lậu đối với các sắc do mắt nhận thức … đối với các vị do lưỡi nhận thức … đối với các pháp do ý nhận thức. Tỷ-kheo sống như vậy, này chư Hiền, nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua ý, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng.
Vi-n 13 Cũng vậy, này chư Hiền, như một cái nhà lợp bằng cây lau hay cỏ, héo khô, không có nhựa, xưa đến ba bốn năm. Nếu từ phương Ðông có người đến, với bó đuốc cháy đỏ, ngọn lửa sẽ nắm được cơ hội, sẽ nắm được đối tượng. Nếu một người từ phương Tây đến … Nếu một người từ phương Bắc đến … Nếu một người từ phương Nam đến … Nếu một người từ phương dưới đến … Nếu một người từ phương trên đến, hay một người bất cứ từ ở đâu đến, với bó đuốc cháy đỏ, ngọn lửa nắm được cơ hội, ngọn lửa nắm được đối tượng. Cũng vậy, này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống như vậy. Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua ý, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng.
Vi-n 14 Này chư Hiền, sống như vậy, các sắc chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các sắc. Các tiếng chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các tiếng. Các hương chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các hương. Các vị chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các vị. Các xúc chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các xúc. Các pháp chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các pháp. Này chư Hiền, đây được gọi là Tỷ-kheo bị sắc chinh phục, bị tiếng chinh phục, bị hương chinh phục, bị vị chinh phục, bị xúc chinh phục, bị pháp chinh phục, không phải không bị chinh phục. Chinh phục vị ấy là các ác bất thiện pháp bị nhiễm ô, đưa đến tái sanh, đầy sợ hãi (sadarà), đưa đến quả khổ dị thục, tương lai là già chết. Như vậy, này chư Hiền, là nhiễm dục lậu.
Vi-n 15 Và này chư Hiền, thế nào là không nhiễm dục lậu? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp sắc khả ái, không ghét bỏ sắc không khả ái, sống an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn … Khi lưỡi nếm vị … Khi ý biết các pháp, vị ấy không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn. Này chư Hiền, đây gọi là vị Tỷ-kheo không bị nhiễm dục lậu đối với các sắc do mắt nhận thức … đối với các vị do lưỡi nhận thức … đối với các pháp do ý nhận thức … Tỷ-kheo sống như vậy, này chư Hiền, nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Māra không nắm được cơ hội, Māra không nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi, Māra không nắm được cơ hội, Māra không nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua ý, Māra không nắm được cơ hội, Māra không nắm được đối tượng.
Vi-n 16 Ví như, này chư Hiền, một cái nhà có nóc nhọn hay một giảng đường có nóc nhọn xây bằng đất dày, vừa mới xoa trét, nếu có người từ phương Ðông lại với ngọn đuốc cháy đỏ, ngọn lửa không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng … từ phương Tây đến … từ phương Bắc đến … từ phương Nam đến … từ phương dưới đến … từ phương trên đến hay từ bất cứ phương nào đến, với ngọn đuốc cháy đỏ, ngọn lửa không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng.
Vi-n 17 Sống như vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo chinh phục các sắc, không phải các sắc chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các tiếng, không phải các tiếng chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các hương, không phải các hương chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các vị, không phải các vị chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các xúc, không phải các xúc chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các pháp, không phải các pháp chinh phục Tỷ-kheo. Này chư Hiền, đây gọi là Tỷ-kheo chinh phục các sắc, chinh phục các tiếng, chinh phục các hương, chinh phục các vị, chinh phục các xúc, chinh phục các pháp, không phải bị chinh phục. Chính vị ấy chinh phục các ác bất thiện pháp bị nhiễm ô, đưa đến tái sanh, đầy sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục tương lai là già chết. Như vậy, này chư Hiền, là không nhiễm dục lậu.
Vi-n 18 Rồi Thế Tôn ngồi dậy và gọi Tôn giả Màha Moggallāna:
—Lành thay, lành thay, này Moggallāna! Lành thay, này Moggallāna! Ông đã thuyết cho các Tỷ-kheo về pháp môn nhiễm dục lậu và pháp môn không nhiễm dục lậu.
Vi-n 19 Tôn giả Mahà Moggallāna thuyết như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Mahà Moggallāna thuyết.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Tena kho pana samayena kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ navaṁ santhāgāraṁ acirakāritaṁ hoti anajjhāvuṭṭhaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena.
Atha kho kāpilavatthavā sakyā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho kāpilavatthavā sakyā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ navaṁ santhāgāraṁ acirakāritaṁ anajjhāvuṭṭhaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena.
Taṁ, bhante, bhagavā paṭhamaṁ paribhuñjatu.
Bhagavatā paṭhamaṁ paribhuttaṁ pacchā kāpilavatthavā sakyā paribhuñjissanti.
Tadassa kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho kāpilavatthavā sakyā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena navaṁ santhāgāraṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sabbasanthariṁ santhāgāraṁ santharitvā āsanāni paññāpetvā udakamaṇikaṁ patiṭṭhāpetvā telappadīpaṁ āropetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“sabbasantharisanthataṁ, bhante, santhāgāraṁ, āsanāni paññattāni, udakamaṇiko patiṭṭhāpito, telappadīpo āropito.
Yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho bhagavā nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena navaṁ santhāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā pāde pakkhāletvā santhāgāraṁ pavisitvā majjhimaṁ thambhaṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi.
Bhikkhusaṅghopi kho pāde pakkhāletvā santhāgāraṁ pavisitvā pacchimaṁ bhittiṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi bhagavantaṁyeva purakkhatvā.
Kāpilavatthavā sakyā pāde pakkhāletvā santhāgāraṁ pavisitvā puratthimaṁ bhittiṁ nissāya pacchimābhimukhā nisīdiṁsu bhagavantaṁyeva purakkhatvā.
Atha kho bhagavā kāpilavatthave sakye bahudeva rattiṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uyyojesi:
“abhikkantā kho, gotamā, ratti.
Yassadāni kālaṁ maññathā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho kāpilavatthavā sakyā bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Atha kho bhagavā acirapakkantesu kāpilavatthavesu sakyesu āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ āmantesi:
“vigatathinamiddho kho, moggallāna, bhikkhusaṅgho.
Paṭibhātu taṁ, moggallāna, bhikkhūnaṁ dhammī kathā.
Piṭṭhi me āgilāyati;
tamahaṁ āyamissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā mahāmoggallāno bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapetvā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi, pāde pādaṁ accādhāya, sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā.
Tatra kho āyasmā mahāmoggallāno bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahāmoggallānassa paccassosuṁ.
Āyasmā mahāmoggallāno etadavoca:
“avassutapariyāyañca vo, āvuso, desessāmi, anavassutapariyāyañca.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahāmoggallānassa paccassosuṁ.
Āyasmā mahāmoggallāno etadavoca:
“Kathaṁ, āvuso, avassuto hoti?
Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe adhimuccati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassatī viharati parittacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme adhimuccati, appiyarūpe dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassatī ca viharati parittacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Ayaṁ vuccati, āvuso, bhikkhu avassuto cakkhuviññeyyesu rūpesu …pe…
avassuto jivhāviññeyyesu rasesu …pe…
avassuto manoviññeyyesu dhammesu.
Evaṁvihāriñcāvuso, bhikkhuṁ cakkhuto cepi naṁ māro upasaṅkamati labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ …pe…
jivhāto cepi naṁ māro upasaṅkamati, labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ …pe…
manato cepi naṁ māro upasaṅkamati, labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ.
Seyyathāpi, āvuso, naḷāgāraṁ vā tiṇāgāraṁ vā sukkhaṁ kolāpaṁ terovassikaṁ.
Puratthimāya cepi naṁ disāya puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, labhetheva aggi otāraṁ, labhetha aggi ārammaṇaṁ;
pacchimāya cepi naṁ disāya puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya …pe…
uttarāya cepi naṁ disāya …pe…
dakkhiṇāya cepi naṁ disāya …pe…
heṭṭhimato cepi naṁ …pe…
uparimato cepi naṁ …
yato kutoci cepi naṁ puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, labhetheva aggi otāraṁ labhetha aggi ārammaṇaṁ.
Evameva kho, āvuso, evaṁvihāriṁ bhikkhuṁ cakkhuto cepi naṁ māro upasaṅkamati, labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ …pe…
jivhāto cepi naṁ māro upasaṅkamati …pe…
manato cepi naṁ māro upasaṅkamati, labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ.
Evaṁvihāriñcāvuso, bhikkhuṁ rūpā adhibhaṁsu, na bhikkhu rūpe adhibhosi;
saddā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu sadde adhibhosi;
gandhā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu gandhe adhibhosi;
rasā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu rase adhibhosi;
phoṭṭhabbā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu phoṭṭhabbe adhibhosi;
dhammā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu dhamme adhibhosi.
Ayaṁ vuccatāvuso, bhikkhu rūpādhibhūto, saddādhibhūto, gandhādhibhūto, rasādhibhūto, phoṭṭhabbādhibhūto, dhammādhibhūto, adhibhūto, anadhibhū, adhibhaṁsu naṁ pāpakā akusalā dhammā saṅkilesikā ponobhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā.
Evaṁ kho, āvuso, avassuto hoti.
Kathañcāvuso, anavassuto hoti?
Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe nādhimuccati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme nādhimuccati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Ayaṁ vuccatāvuso, bhikkhu anavassuto cakkhuviññeyyesu rūpesu …pe…
anavassuto manoviññeyyesu dhammesu.
Evaṁvihāriñcāvuso, bhikkhuṁ cakkhuto cepi naṁ māro upasaṅkamati, neva labhati māro otāraṁ, na labhati māro ārammaṇaṁ …pe…
jivhāto cepi naṁ māro upasaṅkamati …pe…
manato cepi naṁ māro upasaṅkamati, neva labhati māro otāraṁ, na labhati māro ārammaṇaṁ.
Seyyathāpi, āvuso, kūṭāgāraṁ vā sālā vā bahalamattikā addāvalepanā.
Puratthimāya cepi naṁ disāya puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, neva labhetha aggi otāraṁ, na labhetha aggi ārammaṇaṁ …pe…
pacchimāya cepi naṁ …
uttarāya cepi naṁ …
dakkhiṇāya cepi naṁ …
heṭṭhimato cepi naṁ …
uparimato cepi naṁ …
yato kutoci cepi naṁ puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, neva labhetha aggi otāraṁ, na labhetha aggi ārammaṇaṁ.
Evameva kho, āvuso, evaṁvihāriṁ bhikkhuṁ cakkhuto cepi naṁ māro upasaṅkamati, neva labhati māro otāraṁ, na labhati māro ārammaṇaṁ …pe…
manato cepi naṁ māro upasaṅkamati, neva labhati māro otāraṁ, na labhati māro ārammaṇaṁ.
Evaṁvihārī cāvuso, bhikkhu rūpe adhibhosi, na rūpā bhikkhuṁ adhibhaṁsu;
sadde bhikkhu adhibhosi, na saddā bhikkhuṁ adhibhaṁsu;
gandhe bhikkhu adhibhosi, na gandhā bhikkhuṁ adhibhaṁsu;
rase bhikkhu adhibhosi, na rasā bhikkhuṁ adhibhaṁsu;
phoṭṭhabbe bhikkhu adhibhosi, na phoṭṭhabbā bhikkhuṁ adhibhaṁsu;
dhamme bhikkhu adhibhosi, na dhammā bhikkhuṁ adhibhaṁsu.
Ayaṁ vuccatāvuso, bhikkhu rūpādhibhū, saddādhibhū, gandhādhibhū, rasādhibhū, phoṭṭhabbādhibhū, dhammādhibhū, adhibhū, anadhibhūto, adhibhosi te pāpake akusale dhamme saṅkilesike ponobhavike sadare dukkhavipāke āyatiṁ jātijarāmaraṇiye.
Evaṁ kho, āvuso, anavassuto hotī”ti.
Atha kho bhagavā uṭṭhahitvā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ āmantesi:
“sādhu sādhu, moggallāna.
Sādhu kho tvaṁ, moggallāna, bhikkhūnaṁ avassutapariyāyañca anavassutapariyāyañca abhāsī”ti.
Idamavoca āyasmā mahāmoggallāno.
Samanuñño satthā ahosi.
Attamanā te bhikkhū āyasmato mahāmoggallānassa bhāsitaṁ abhinandunti.
Chaṭṭhaṁ.