Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Pubbārāma, trong lâu đài của mẹ Migāra.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư đứng dậy, ngồi sưởi ấm lưng trong ánh nắng phương Tây.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, với tay xoa bóp chân tay cho Thế Tôn, thưa rằng:
—Thật kinh hoàng thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ dị thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, màu da Thế Tôn nay không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời (sithilàni), nhăn nheo, thân được thấy còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.
Vi-n 4 —Sự thể là vậy, này Ānanda, tánh già nằm trong tuổi trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống. Như vậy, màu da không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời, nhăn nheo, thân còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.
Vi-n 5 Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
—Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống! Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da. Hình bóng trước khả ý, nay già đã phá tan! Ai sống được trăm tuổi, cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả bị phá sập.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Tena kho pana samayena bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito pacchātape nisinno hoti piṭṭhiṁ otāpayamāno.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā bhagavato gattāni pāṇinā anomajjanto bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Na cevaṁ dāni, bhante, bhagavato tāva parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto, sithilāni ca gattāni sabbāni valiyajātāni, purato pabbhāro ca kāyo, dissati ca indriyānaṁ aññathattaṁ—
cakkhundriyassa sotindriyassa ghānindriyassa jivhindriyassa kāyindriyassā”ti.
“Evañhetaṁ, ānanda, hoti—
jarādhammo yobbaññe, byādhidhammo ārogye, maraṇadhammo jīvite.
Na ceva tāva parisuddho hoti chavivaṇṇo pariyodāto, sithilāni ca honti gattāni sabbāni valiyajātāni, purato pabbhāro ca kāyo, dissati ca indriyānaṁ aññathattaṁ—
cakkhundriyassa sotindriyassa ghānindriyassa jivhindriyassa kāyindriyassā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvā ca sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Dhī taṁ jammi jare atthu,
dubbaṇṇakaraṇī jare;
Tāva manoramaṁ bimbaṁ,
jarāya abhimadditaṁ.
Yopi vassasataṁ jīve,
sopi maccuparāyaṇo;
Na kiñci parivajjeti,
sabbamevābhimaddatī”ti.
Paṭhamaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and sat warming his back in the last rays of the sun.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, and while massaging the Buddha’s limbs he said:
“It’s incredible, sir, it’s amazing,
how the complexion of your skin is no longer pure and bright. Your limbs are flaccid and wrinkled, and your body is stooped. And it’s apparent that there has been a deterioration in your faculties
of eye, ear, nose, tongue, and body.”
“That’s how it is, Ānanda.
When young you’re liable to grow old; when healthy you’re liable to get sick; and when alive you’re liable to die.
The complexion of the skin is no longer pure and bright. The limbs are flaccid and wrinkled, and the body is stooped. And it’s apparent that there has been a deterioration in the faculties
of eye, ear, nose, tongue, and body.”
That is what the Buddha said.
Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“Curse this wretched old age,
which makes you so ugly.
That’s how much this delightful puppet
is ground down by old age.
Even if you live for a hundred years,
you’ll still end up dying.
Death spares no-one,
but crushes all underfoot.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Pubbārāma, trong lâu đài của mẹ Migāra.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư đứng dậy, ngồi sưởi ấm lưng trong ánh nắng phương Tây.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, với tay xoa bóp chân tay cho Thế Tôn, thưa rằng:
—Thật kinh hoàng thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ dị thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, màu da Thế Tôn nay không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời (sithilàni), nhăn nheo, thân được thấy còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.
Vi-n 4 —Sự thể là vậy, này Ānanda, tánh già nằm trong tuổi trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống. Như vậy, màu da không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời, nhăn nheo, thân còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.
Vi-n 5 Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
—Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống! Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da. Hình bóng trước khả ý, nay già đã phá tan! Ai sống được trăm tuổi, cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả bị phá sập.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Tena kho pana samayena bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito pacchātape nisinno hoti piṭṭhiṁ otāpayamāno.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā bhagavato gattāni pāṇinā anomajjanto bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Na cevaṁ dāni, bhante, bhagavato tāva parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto, sithilāni ca gattāni sabbāni valiyajātāni, purato pabbhāro ca kāyo, dissati ca indriyānaṁ aññathattaṁ—
cakkhundriyassa sotindriyassa ghānindriyassa jivhindriyassa kāyindriyassā”ti.
“Evañhetaṁ, ānanda, hoti—
jarādhammo yobbaññe, byādhidhammo ārogye, maraṇadhammo jīvite.
Na ceva tāva parisuddho hoti chavivaṇṇo pariyodāto, sithilāni ca honti gattāni sabbāni valiyajātāni, purato pabbhāro ca kāyo, dissati ca indriyānaṁ aññathattaṁ—
cakkhundriyassa sotindriyassa ghānindriyassa jivhindriyassa kāyindriyassā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvā ca sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Dhī taṁ jammi jare atthu,
dubbaṇṇakaraṇī jare;
Tāva manoramaṁ bimbaṁ,
jarāya abhimadditaṁ.
Yopi vassasataṁ jīve,
sopi maccuparāyaṇo;
Na kiñci parivajjeti,
sabbamevābhimaddatī”ti.
Paṭhamaṁ.