Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi một Bà-la-môn đại phú, dáng bộ tiều tụy, đắp y thô xấu, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Thế Tôn nói với vị Bà-la-môn đại phú đang ngồi xuống một bên:
—Này Bà-la-môn, sao dáng bộ ông tiều tụy? Sao ông đắp y thô xấu?
Vi-n 4 —Thưa Tôn giả Gotama, ở đây bốn đứa con trai của con, chúng âm mưu với vợ của chúng, trục xuất con ra khỏi nhà.
Vi-n 5 —Vậy này Bà-la-môn, hãy đọc thuộc bài kệ này, và khi nào quần chúng hội họp trong thính đường và cả các người con cùng ngồi họp, hãy đọc lên bài kệ:
Khi chúng sanh, tôi mừng
Tôi muốn chúng sinh thành.
Cùng vợ, chúng âm mưu,
Chống tôi và đuổi tôi,
Chẳng khác gì con chó,
Xua đuổi bầy heo lợn,
Ác độc và lỗ mãng,
Chúng gọi tôi: “Cha thân”.
Chúng thật quỷ Dạ-xoa,
Ðội lốt là con tôi,
Và chúng trục xuất tôi,
Khi tôi đến tuổi già,
Như ngựa già suy nhược,
Bị tẩn xuất chuồng ăn.
Nay cha già bọn trẻ,
Phải ăn xin nhà người,
Thà cho tôi cái gậy,
Hơn lũ con bất hiếu.
Với gậy, chận bò dữ,
Chận được loại chó dữ,
Chỗ tối dò an toàn,
Chỗ sâu, tìm chân đứng,
Với sức mạnh chiếc gậy,
Vấp ngã đứng dậy được.
Vi-n 6 Bà-la-môn đại phú ấy học thuộc lòng bài kệ này từ Thế Tôn. Khi quần chúng tụ hội tại thính đường và giữa các người con đang ngồi họp, vị ấy đọc lên bài kệ:
Khi chúng sanh, tôi mừng,
Tôi muốn chúng sinh thành.
Cùng vợ, chúng âm mưu,
Chống tôi và đuổi tôi,
Chẳng khác gì con chó,
Xua đuổi bầy heo lợn.
Ác độc và lỗ mãng,
Chúng gọi tôi: “Cha thân”.
Chúng thật quỷ Dạ-xoa,
Ðội lốt là con tôi,
Và chúng trục xuất tôi,
Khi tôi đến tuổi già,
Như ngựa già, suy nhược,
Bị tẩn xuất chuồng ăn.
Nay cha già bọn trẻ,
Phải ăn xin nhà người.
Thà cho tôi cái gậy,
Hơn lũ con bất hiếu.
Với gậy, chận bò dữ,
Chận được loài chó dữ.
Chỗ tối, dò an toàn,
Chỗ sâu, tìm chân đứng,
Với sức mạnh chiếc gậy,
Vấp ngã, đứng dậy được.
Vi-n 8 Rồi những người con Bà-la-môn đại phú ấy, dắt người cha về nhà, tắm rửa và mỗi người đắp cho cha một bộ áo.
Vi-n 9 Rồi Bà-la-môn đại phú ấy cầm một bộ áo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 10 Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, chúng con Bà-la-môn, có dâng cúng sở phí cho bậc Ðạo Sư. Mong Tôn giả Gotama chấp nhận sở phí cho bậc Ðạo Sư của con.
Vi-n 11 Và Thế Tôn vì lòng từ chấp nhận.
Vi-n 12 Rồi Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho aññataro brāhmaṇamahāsālo lūkho lūkhapāvuraṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ brāhmaṇamahāsālaṁ bhagavā etadavoca:
“kiṁ nu tvaṁ, brāhmaṇa, lūkho lūkhapāvuraṇo”ti?
“Idha me, bho gotama, cattāro puttā.
Te maṁ dārehi sampuccha gharā nikkhāmentī”ti.
“Tena hi tvaṁ, brāhmaṇa, imā gāthāyo pariyāpuṇitvā sabhāyaṁ mahājanakāye sannipatite puttesu ca sannisinnesu bhāsassu:
‘Yehi jātehi nandissaṁ,
yesañca bhavamicchisaṁ;
Te maṁ dārehi sampuccha,
sāva vārenti sūkaraṁ.
Asantā kira maṁ jammā,
tāta tātāti bhāsare;
Rakkhasā puttarūpena,
te jahanti vayogataṁ.
Assova jiṇṇo nibbhogo,
khādanā apanīyati;
Bālakānaṁ pitā thero,
parāgāresu bhikkhati.
Daṇḍova kira me seyyo,
yañce puttā anassavā;
Caṇḍampi goṇaṁ vāreti,
atho caṇḍampi kukkuraṁ.
Andhakāre pure hoti,
gambhīre gādhamedhati;
Daṇḍassa ānubhāvena,
khalitvā patitiṭṭhatī’”ti.
Atha kho so brāhmaṇamahāsālo bhagavato santike imā gāthāyo pariyāpuṇitvā sabhāyaṁ mahājanakāye sannipatite puttesu ca sannisinnesu abhāsi:
“Yehi jātehi nandissaṁ,
yesañca bhavamicchisaṁ;
Te maṁ dārehi sampuccha,
sāva vārenti sūkaraṁ.
Asantā kira maṁ jammā,
tāta tātāti bhāsare;
Rakkhasā puttarūpena,
te jahanti vayogataṁ.
Assova jiṇṇo nibbhogo,
khādanā apanīyati;
Bālakānaṁ pitā thero,
parāgāresu bhikkhati.
Daṇḍova kira me seyyo,
yañce puttā anassavā;
Caṇḍampi goṇaṁ vāreti,
atho caṇḍampi kukkuraṁ.
Andhakāre pure hoti,
gambhīre gādhamedhati;
Daṇḍassa ānubhāvena,
khalitvā patitiṭṭhatī”ti.
Atha kho naṁ brāhmaṇamahāsālaṁ puttā gharaṁ netvā nhāpetvā paccekaṁ dussayugena acchādesuṁ.
Atha kho so brāhmaṇamahāsālo ekaṁ dussayugaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho brāhmaṇamahāsālo bhagavantaṁ etadavoca:
“mayaṁ, bho gotama, brāhmaṇā nāma ācariyassa ācariyadhanaṁ pariyesāma.
Paṭiggaṇhatu me bhavaṁ gotamo ācariyadhanan”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
Atha kho so brāhmaṇamahāsālo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
At Sāvatthī.
Then a certain well-to-do brahmin, shabby, wearing a shabby cloak, went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. The Buddha said to him,
“Brahmin, why are you so shabby, wearing a shabby cloak?”
“Worthy Gotama, I have four sons.
At their wives’ bidding they expelled me from my house.”
“Well then, brahmin, memorize these verses and recite them to your sons when you are all seated in the council hall with a large crowd.
‘I was overjoyed when they were born,
and wished prosperity for them.
But at their wives’ bidding they chased me out,
like hounds after hogs.
It turns out they’re wicked, those nasty men,
though they called me their dear old Dad.
They’re monsters in the shape of sons,
throwing me out as I’ve grown old.
Like an old, useless horse
led away from its fodder,
the elderly father of those kids
begs for alms at others’ homes.
Even my staff is better
than those disobedient sons,
for it wards off a wild bull,
and even a wild dog.
It goes before me in the dark;
in deep waters it finds a footing.
By the wonderful power of this staff,
when I stumble, I stand firm again.’”
Having memorized those verses in the Buddha’s presence, the brahmin recited them to his sons when they were all seated in the council hall with a large crowd. …
Then the brahmin’s sons led him back home, bathed him, and each clothed him with a fine pair of garments.
Then the brahmin, taking one pair of garments, went to the Buddha and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, we brahmins seek a fee for our tutor.
May the worthy Gotama please accept my tutor’s fee!”
So the Buddha accepted it out of sympathy.
Then the well-to-do brahmin said to the Buddha,
“Excellent, worthy Gotama …
From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi một Bà-la-môn đại phú, dáng bộ tiều tụy, đắp y thô xấu, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Thế Tôn nói với vị Bà-la-môn đại phú đang ngồi xuống một bên:
—Này Bà-la-môn, sao dáng bộ ông tiều tụy? Sao ông đắp y thô xấu?
Vi-n 4 —Thưa Tôn giả Gotama, ở đây bốn đứa con trai của con, chúng âm mưu với vợ của chúng, trục xuất con ra khỏi nhà.
Vi-n 5 —Vậy này Bà-la-môn, hãy đọc thuộc bài kệ này, và khi nào quần chúng hội họp trong thính đường và cả các người con cùng ngồi họp, hãy đọc lên bài kệ:
Khi chúng sanh, tôi mừng
Tôi muốn chúng sinh thành.
Cùng vợ, chúng âm mưu,
Chống tôi và đuổi tôi,
Chẳng khác gì con chó,
Xua đuổi bầy heo lợn,
Ác độc và lỗ mãng,
Chúng gọi tôi: “Cha thân”.
Chúng thật quỷ Dạ-xoa,
Ðội lốt là con tôi,
Và chúng trục xuất tôi,
Khi tôi đến tuổi già,
Như ngựa già suy nhược,
Bị tẩn xuất chuồng ăn.
Nay cha già bọn trẻ,
Phải ăn xin nhà người,
Thà cho tôi cái gậy,
Hơn lũ con bất hiếu.
Với gậy, chận bò dữ,
Chận được loại chó dữ,
Chỗ tối dò an toàn,
Chỗ sâu, tìm chân đứng,
Với sức mạnh chiếc gậy,
Vấp ngã đứng dậy được.
Vi-n 6 Bà-la-môn đại phú ấy học thuộc lòng bài kệ này từ Thế Tôn. Khi quần chúng tụ hội tại thính đường và giữa các người con đang ngồi họp, vị ấy đọc lên bài kệ:
Khi chúng sanh, tôi mừng,
Tôi muốn chúng sinh thành.
Cùng vợ, chúng âm mưu,
Chống tôi và đuổi tôi,
Chẳng khác gì con chó,
Xua đuổi bầy heo lợn.
Ác độc và lỗ mãng,
Chúng gọi tôi: “Cha thân”.
Chúng thật quỷ Dạ-xoa,
Ðội lốt là con tôi,
Và chúng trục xuất tôi,
Khi tôi đến tuổi già,
Như ngựa già, suy nhược,
Bị tẩn xuất chuồng ăn.
Nay cha già bọn trẻ,
Phải ăn xin nhà người.
Thà cho tôi cái gậy,
Hơn lũ con bất hiếu.
Với gậy, chận bò dữ,
Chận được loài chó dữ.
Chỗ tối, dò an toàn,
Chỗ sâu, tìm chân đứng,
Với sức mạnh chiếc gậy,
Vấp ngã, đứng dậy được.
Vi-n 8 Rồi những người con Bà-la-môn đại phú ấy, dắt người cha về nhà, tắm rửa và mỗi người đắp cho cha một bộ áo.
Vi-n 9 Rồi Bà-la-môn đại phú ấy cầm một bộ áo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 10 Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, chúng con Bà-la-môn, có dâng cúng sở phí cho bậc Ðạo Sư. Mong Tôn giả Gotama chấp nhận sở phí cho bậc Ðạo Sư của con.
Vi-n 11 Và Thế Tôn vì lòng từ chấp nhận.
Vi-n 12 Rồi Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho aññataro brāhmaṇamahāsālo lūkho lūkhapāvuraṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ brāhmaṇamahāsālaṁ bhagavā etadavoca:
“kiṁ nu tvaṁ, brāhmaṇa, lūkho lūkhapāvuraṇo”ti?
“Idha me, bho gotama, cattāro puttā.
Te maṁ dārehi sampuccha gharā nikkhāmentī”ti.
“Tena hi tvaṁ, brāhmaṇa, imā gāthāyo pariyāpuṇitvā sabhāyaṁ mahājanakāye sannipatite puttesu ca sannisinnesu bhāsassu:
‘Yehi jātehi nandissaṁ,
yesañca bhavamicchisaṁ;
Te maṁ dārehi sampuccha,
sāva vārenti sūkaraṁ.
Asantā kira maṁ jammā,
tāta tātāti bhāsare;
Rakkhasā puttarūpena,
te jahanti vayogataṁ.
Assova jiṇṇo nibbhogo,
khādanā apanīyati;
Bālakānaṁ pitā thero,
parāgāresu bhikkhati.
Daṇḍova kira me seyyo,
yañce puttā anassavā;
Caṇḍampi goṇaṁ vāreti,
atho caṇḍampi kukkuraṁ.
Andhakāre pure hoti,
gambhīre gādhamedhati;
Daṇḍassa ānubhāvena,
khalitvā patitiṭṭhatī’”ti.
Atha kho so brāhmaṇamahāsālo bhagavato santike imā gāthāyo pariyāpuṇitvā sabhāyaṁ mahājanakāye sannipatite puttesu ca sannisinnesu abhāsi:
“Yehi jātehi nandissaṁ,
yesañca bhavamicchisaṁ;
Te maṁ dārehi sampuccha,
sāva vārenti sūkaraṁ.
Asantā kira maṁ jammā,
tāta tātāti bhāsare;
Rakkhasā puttarūpena,
te jahanti vayogataṁ.
Assova jiṇṇo nibbhogo,
khādanā apanīyati;
Bālakānaṁ pitā thero,
parāgāresu bhikkhati.
Daṇḍova kira me seyyo,
yañce puttā anassavā;
Caṇḍampi goṇaṁ vāreti,
atho caṇḍampi kukkuraṁ.
Andhakāre pure hoti,
gambhīre gādhamedhati;
Daṇḍassa ānubhāvena,
khalitvā patitiṭṭhatī”ti.
Atha kho naṁ brāhmaṇamahāsālaṁ puttā gharaṁ netvā nhāpetvā paccekaṁ dussayugena acchādesuṁ.
Atha kho so brāhmaṇamahāsālo ekaṁ dussayugaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho brāhmaṇamahāsālo bhagavantaṁ etadavoca:
“mayaṁ, bho gotama, brāhmaṇā nāma ācariyassa ācariyadhanaṁ pariyesāma.
Paṭiggaṇhatu me bhavaṁ gotamo ācariyadhanan”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
Atha kho so brāhmaṇamahāsālo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.