Vi-n 1 Một thời Tôn giả Ānanda và Tôn giả Udāyi trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Udāyi, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến nói lên với Tôn giả Ānanda những lời chào đón hỏi thăm … rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Udāyi thưa với Tôn giả Ānanda:
—Thưa Hiền giả Ānanda, như Thế Tôn dùng nhiều phương tiện đã nói lên, đã khai mở, đã nêu rõ thân này là vô ngã. Có thể chăng, cũng như vậy tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị rằng thức này cũng vô ngã?
—Này Hiền giả Udāyi, như Thế Tôn dùng nhiều pháp môn đã nói lên, đã khai mở, đã nêu rõ thân này là vô ngã. Cũng như vậy, có thể tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị rằng thức này cũng vô ngã.
Vi-n 4-8. Này Hiền giả, có phải do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức?
—Thưa phải, Hiền giả.
—Này Hiền giả, do nhân nào, do duyên nào khởi lên nhãn thức, nếu nhân ấy, nếu duyên ấy một cách toàn diện, dưới mọi hình thức, được đoạn diệt hoàn toàn, không có dư tàn, thời nhãn thức có thể nêu rõ được không?
—Thưa không, Hiền giả.
—Với pháp môn này, Thế Tôn đã tuyên thuyết, đã khai mở, đã nêu rõ thức này là vô ngã … Có phải do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức? … Có phải do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức? … Có phải do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức? … Có phải do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức? …
Vi-n 9 Này Hiền giả, có phải do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức?
—Thưa phải, Hiền giả.
—Này Hiền giả, do nhân nào, do duyên nào khởi lên ý thức, nếu nhân ấy, nếu duyên ấy một cách toàn diện, dưới mọi hình thức, được đoạn diệt hoàn toàn, không có dư tàn, thời ý thức có thể nêu rõ được không?
—Thưa không, Hiền giả.
—Với pháp môn này, thưa Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên thuyết, đã khai mở, đã nêu rõ thức này là vô ngã.
Vi-n 10 Ví như, này Hiền giả, một người cần dùng lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cây búa sắc bén đi vào trong rừng. Ở đấy, người này thấy một thân cây chuối lớn, thẳng, mới lớn và cao. Người ấy chặt đứt rễ cây, chặt đứt xong, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ ngoài ra. Người ấy ở đây không tìm được giác cây, còn nói gì lõi cây.
Vi-n 11 Cũng vậy, này Hiền giả, Tỷ-kheo trong sáu xúc xứ, không quán thấy có tự ngã và thuộc ngã. Do thấy như vậy, vị ấy không chấp thủ một cái gì ở trong đời. Do không chấp thủ, vị ấy không tham luyến. Do không tham luyến, vị ấy tự mình hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca ānando āyasmā ca udāyī kosambiyaṁ viharanti ghositārāme.
Atha kho āyasmā udāyī sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā udāyī āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“Yatheva nu kho, āvuso ānanda, ayaṁ kāyo bhagavatā anekapariyāyena akkhāto vivaṭo pakāsito:
‘itipāyaṁ kāyo anattā’ti, sakkā evameva viññāṇaṁ pidaṁ ācikkhituṁ desetuṁ paññapetuṁ paṭṭhapetuṁ vivarituṁ vibhajituṁ uttānīkātuṁ: ‘itipidaṁ viññāṇaṁ anattā’”ti?
“Yatheva kho, āvuso udāyī, ayaṁ kāyo bhagavatā anekapariyāyena akkhāto vivaṭo pakāsito:
‘itipāyaṁ kāyo anattā’ti, sakkā evameva viññāṇaṁ pidaṁ ācikkhituṁ desetuṁ paññapetuṁ paṭṭhapetuṁ vivarituṁ vibhajituṁ uttānīkātuṁ: ‘itipidaṁ viññāṇaṁ anattā’”ti.
“Cakkhuñca, āvuso, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇan”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Yo cāvuso, hetu, yo ca paccayo cakkhuviññāṇassa uppādāya, so ca hetu, so ca paccayo sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ aparisesaṁ nirujjheyya. Api nu kho cakkhuviññāṇaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena bhagavatā akkhātaṁ vivaṭaṁ pakāsitaṁ: ‘itipidaṁ viññāṇaṁ anattā’”ti …pe….
“Jivhañcāvuso, paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇan”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Yo cāvuso, hetu yo ca paccayo jivhāviññāṇassa uppādāya, so ca hetu, so ca paccayo sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ aparisesaṁ nirujjheyya, api nu kho jivhāviññāṇaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena bhagavatā akkhātaṁ vivaṭaṁ pakāsitaṁ: ‘itipidaṁ viññāṇaṁ anattā’”ti …pe….
“Manañcāvuso, paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇan”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Yo cāvuso, hetu, yo ca paccayo manoviññāṇassa uppādāya, so ca hetu, so ca paccayo sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ aparisesaṁ nirujjheyya, api nu kho manoviññāṇaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena bhagavatā akkhātaṁ vivaṭaṁ pakāsitaṁ: ‘itipidaṁ viññāṇaṁ anattā’ti.
Seyyathāpi, āvuso, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya. So tattha passeyya mahantaṁ kadalikkhandhaṁ ujuṁ navaṁ akukkukajātaṁ. Tamenaṁ mūle chindeyya; mūle chetvā agge chindeyya; agge chetvā pattavaṭṭiṁ vinibbhujeyya. So tattha pheggumpi nādhigaccheyya, kuto sāraṁ.
Evameva kho, āvuso, bhikkhu chasu phassāyatanesu nevattānaṁ na attaniyaṁ samanupassati.
So evaṁ asamanupassanto na kiñci loke upādiyati.
Anupādiyaṁ na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Sattamaṁ.
SC 1On one occasion the Venerable Ānanda and the Venerable Udayī were dwelling at Kosambī in Ghosita’s Park. Then, in the evening, the Venerable Udayī emerged from seclusion and approached the Venerable Ānanda. He exchanged greetings with the Venerable Ānanda and, when they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to him:
SC 2“Friend Ānanda, in many ways the nature of this body has been declared, disclosed, and revealed by the Blessed One thus: ‘For such a reason this body is nonself.’ Is it possible to explain the nature of this consciousness in a similar way—to teach, proclaim, establish, disclose, analyse, and elucidate it thus: ‘For such a reason this consciousness is nonself’?”
SC 3“It is possible, friend Udayī. Doesn’t eye-consciousness arise in dependence on the eye and forms?” sn.iv.167
“Yes, friend.”
SC 4“If the cause and condition for the arising of eye-consciousness would cease completely and totally without remainder, could eye-consciousness be discerned?”
“No, friend.”
SC 5“In this way, friend, this has been declared, disclosed, and revealed by the Blessed One thus: ‘For such a reason this consciousness is nonself.’
SC 6“Doesn’t ear-consciousness arise in dependence on the ear and sounds?… Doesn’t mind-consciousness arise in dependence on the mind and mental phenomena?”
“Yes, friend.”
SC 7“If the cause and condition for the arising of mind-consciousness would cease completely and totally without remainder, could mind-consciousness be discerned?”
“No, friend.”
SC 8“In this way too, friend, this has been declared, disclosed, and revealed by the Blessed One thus: ‘For such a reason this consciousness is nonself.’
SC 9“Suppose, friend, a man needing heartwood, seeking heartwood, wandering in search of heartwood, would take a sharp axe and enter a forest. There he would see the trunk of a large plantain tree, straight, fresh, without a fruit-bud core. sn.iv.168 He would cut it down at the root, cut off the crown, and unroll the coil. As he unrolls the coil, he would not find even softwood, let alone heartwood.
SC 10“So too, a bhikkhu does not recognize either a self or anything belonging to a self in these six bases for contact. Since he does not recognize anything thus, he does not cling to anything in the world. Not clinging, he is not agitated. Being unagitated, he personally attains Nibbāna. He understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’”
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Ānanda và Tôn giả Udāyi trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Udāyi, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến nói lên với Tôn giả Ānanda những lời chào đón hỏi thăm … rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Udāyi thưa với Tôn giả Ānanda:
—Thưa Hiền giả Ānanda, như Thế Tôn dùng nhiều phương tiện đã nói lên, đã khai mở, đã nêu rõ thân này là vô ngã. Có thể chăng, cũng như vậy tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị rằng thức này cũng vô ngã?
—Này Hiền giả Udāyi, như Thế Tôn dùng nhiều pháp môn đã nói lên, đã khai mở, đã nêu rõ thân này là vô ngã. Cũng như vậy, có thể tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị rằng thức này cũng vô ngã.
Vi-n 4-8. Này Hiền giả, có phải do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức?
—Thưa phải, Hiền giả.
—Này Hiền giả, do nhân nào, do duyên nào khởi lên nhãn thức, nếu nhân ấy, nếu duyên ấy một cách toàn diện, dưới mọi hình thức, được đoạn diệt hoàn toàn, không có dư tàn, thời nhãn thức có thể nêu rõ được không?
—Thưa không, Hiền giả.
—Với pháp môn này, Thế Tôn đã tuyên thuyết, đã khai mở, đã nêu rõ thức này là vô ngã … Có phải do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức? … Có phải do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức? … Có phải do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức? … Có phải do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức? …
Vi-n 9 Này Hiền giả, có phải do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức?
—Thưa phải, Hiền giả.
—Này Hiền giả, do nhân nào, do duyên nào khởi lên ý thức, nếu nhân ấy, nếu duyên ấy một cách toàn diện, dưới mọi hình thức, được đoạn diệt hoàn toàn, không có dư tàn, thời ý thức có thể nêu rõ được không?
—Thưa không, Hiền giả.
—Với pháp môn này, thưa Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên thuyết, đã khai mở, đã nêu rõ thức này là vô ngã.
Vi-n 10 Ví như, này Hiền giả, một người cần dùng lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cây búa sắc bén đi vào trong rừng. Ở đấy, người này thấy một thân cây chuối lớn, thẳng, mới lớn và cao. Người ấy chặt đứt rễ cây, chặt đứt xong, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ ngoài ra. Người ấy ở đây không tìm được giác cây, còn nói gì lõi cây.
Vi-n 11 Cũng vậy, này Hiền giả, Tỷ-kheo trong sáu xúc xứ, không quán thấy có tự ngã và thuộc ngã. Do thấy như vậy, vị ấy không chấp thủ một cái gì ở trong đời. Do không chấp thủ, vị ấy không tham luyến. Do không tham luyến, vị ấy tự mình hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca ānando āyasmā ca udāyī kosambiyaṁ viharanti ghositārāme.
Atha kho āyasmā udāyī sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā udāyī āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“Yatheva nu kho, āvuso ānanda, ayaṁ kāyo bhagavatā anekapariyāyena akkhāto vivaṭo pakāsito:
‘itipāyaṁ kāyo anattā’ti, sakkā evameva viññāṇaṁ pidaṁ ācikkhituṁ desetuṁ paññapetuṁ paṭṭhapetuṁ vivarituṁ vibhajituṁ uttānīkātuṁ: ‘itipidaṁ viññāṇaṁ anattā’”ti?
“Yatheva kho, āvuso udāyī, ayaṁ kāyo bhagavatā anekapariyāyena akkhāto vivaṭo pakāsito:
‘itipāyaṁ kāyo anattā’ti, sakkā evameva viññāṇaṁ pidaṁ ācikkhituṁ desetuṁ paññapetuṁ paṭṭhapetuṁ vivarituṁ vibhajituṁ uttānīkātuṁ: ‘itipidaṁ viññāṇaṁ anattā’”ti.
“Cakkhuñca, āvuso, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇan”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Yo cāvuso, hetu, yo ca paccayo cakkhuviññāṇassa uppādāya, so ca hetu, so ca paccayo sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ aparisesaṁ nirujjheyya. Api nu kho cakkhuviññāṇaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena bhagavatā akkhātaṁ vivaṭaṁ pakāsitaṁ: ‘itipidaṁ viññāṇaṁ anattā’”ti …pe….
“Jivhañcāvuso, paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇan”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Yo cāvuso, hetu yo ca paccayo jivhāviññāṇassa uppādāya, so ca hetu, so ca paccayo sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ aparisesaṁ nirujjheyya, api nu kho jivhāviññāṇaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena bhagavatā akkhātaṁ vivaṭaṁ pakāsitaṁ: ‘itipidaṁ viññāṇaṁ anattā’”ti …pe….
“Manañcāvuso, paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇan”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Yo cāvuso, hetu, yo ca paccayo manoviññāṇassa uppādāya, so ca hetu, so ca paccayo sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ aparisesaṁ nirujjheyya, api nu kho manoviññāṇaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena bhagavatā akkhātaṁ vivaṭaṁ pakāsitaṁ: ‘itipidaṁ viññāṇaṁ anattā’ti.
Seyyathāpi, āvuso, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya. So tattha passeyya mahantaṁ kadalikkhandhaṁ ujuṁ navaṁ akukkukajātaṁ. Tamenaṁ mūle chindeyya; mūle chetvā agge chindeyya; agge chetvā pattavaṭṭiṁ vinibbhujeyya. So tattha pheggumpi nādhigaccheyya, kuto sāraṁ.
Evameva kho, āvuso, bhikkhu chasu phassāyatanesu nevattānaṁ na attaniyaṁ samanupassati.
So evaṁ asamanupassanto na kiñci loke upādiyati.
Anupādiyaṁ na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Sattamaṁ.