Vi-n 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Sāvatthī (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Vi-n 2 Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo tư lường, phải tư lường như thế nào để chơn chánh diệt khổ một cách trọn vẹn?
—Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm điểm tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
Vi-n 4 —Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 5 —Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đang tư lường, tư lường như sau: “Sự đau khổ nhiều loại và đa dạng này khởi lên trên đời như già và chết; sự đau khổ này lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu? Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”
Vi-n 6 Tư lường như vậy, vị ấy biết như sau: “Sự đau khổ nhiều loại và đa dạng này khởi lên trên đời như già và chết, sự đau khổ này lấy sanh làm nhân, lấy sanh làm tập khởi, lấy sanh làm tác sanh, lấy sanh làm hiện hữu. Do sanh có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh không có mặt, già chết không hiện hữu”.
Vi-n 7 Và vị ấy biết già chết, biết già chết tập khởi, biết già chết đoạn diệt, và vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy trở thành vị Tùy pháp hành.
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị Tỷ-kheo đã thực hành một cách trọn vẹn để chơn chánh đoạn tận khổ đau và đoạn diệt già chết.
Vi-n 9 Tư lường thêm nữa, vị ấy tư lường như sau: “Còn hữu này, do cái gì làm nhân? Còn thủ này, do cái gì làm nhân? Còn ái này, do cái gì làm nhân? Còn thọ này, do cái gì làm nhân? Còn xúc này… Còn sáu xứ này… Còn danh sắc này… Còn thức này… Còn các hành này, do cái gì làm nhân, cái gì tập khởi, cái gì tác sanh, cái gì làm hiện hữu? Do cái gì có mặt, các hành hiện hữu? Do cái gì không có mặt các hành không hiện hữu?”
Vi-n 10 Tư lường như vậy, vị ấy biết như sau: “Các hành lấy vô minh làm nhân, lấy vô minh làm tập khởi, lấy vô minh làm tác sanh, lấy vô minh làm hiện hữu. Do vô minh có mặt, các hành hiện hữu. Do vô minh không có mặt, các hành không hiện hữu”.
Vi-n 11 Và vị ấy biết các hành, biết các hành tập khởi, biết các hành đoạn diệt, và vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến các hành đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy trở thành vị Tùy pháp hành. Này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị Tỷ-kheo đã thực hành một cách trọn vẹn để chơn chánh đoạn tận khổ đau và đoạn diệt các hành.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, nếu người nào bị vô minh chi phối, dự tính làm phước hành, thức (của người ấy) đi đến phước. Nếu người ấy dự tính làm phi phước hành, thức (của người ấy) đi đến phi phước. Nếu người ấy dự tính làm bất động hành, thức (của người ấy) đi đến bất động.
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đoạn tận vô minh, minh được sanh khởi. Vị ấy do vô minh đoạn tận, minh sanh khởi, không dự tính làm phước hành, không dự tính làm phi phước hành, không dự tính làm bất động hành.
Vi-n 14 Không có dự tính, không có dụng ý, vị ấy không chấp thủ một sự gì ở đời. Không chấp thủ, vị ấy không sợ hãi. Không sợ hãi, vị ấy hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 15 Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy biết lạc thọ ấy vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy biết khổ thọ vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy biết thọ ấy vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ.
Vi-n 16 Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly (visaññutto).
Vi-n 17 Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên”.
Vi-n 18 Này các Tỷ-kheo, ví như một người từ trong lò nung của người thợ gốm lấy ra một cái ghè nóng và đặt trên một khoảng đất bằng phẳng để sức nóng ở đấy được nguội dần, và các miếng sành vụn được gạt bỏ một bên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên”.
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, có dự tính làm các phước hành, hay có dự tính làm các phi phước hành, hay có dự tính làm các bất động hành?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 20 —Hay nếu các hành không có mặt một cách trọn vẹn, do các hành đoạn diệt, thời thức có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 21 —Hay nếu thức không có mặt một cách trọn vẹn, do thức đoạn diệt, thời danh sắc có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 22 —Hay nếu danh sắc không có mặt một cách trọn vẹn, do danh sắc đoạn diệt, thời sáu xứ có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 23 —Hay nếu sáu xứ không có mặt một cách trọn vẹn, do sáu xứ đoạn diệt, thời xúc có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 24 —Hay nếu xúc không có mặt một cách trọn vẹn, do xúc đoạn diệt, thời thọ có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 25 —Hay nếu thọ không có mặt một cách trọn vẹn, do thọ đoạn diệt, thời ái có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 26 —Hay nếu ái không có mặt một cách trọn vẹn, do ái đoạn diệt, thời thủ có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 27 —Hay nếu thủ không có mặt một cách trọn vẹn, do thủ đoạn diệt, thời hữu có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 28 —Hay nếu hữu không có mặt một cách trọn vẹn, do hữu đoạn diệt, thời sanh có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 29 —Hay nếu sanh không có mặt một cách trọn vẹn, do sanh đoạn diệt, thời già chết có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 30 —Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Phải là như vậy, này các Tỷ-kheo! Không thể khác vậy. Hãy tin ở Ta, này các Tỷ-kheo! Hãy quyết định, chớ có nghi ngờ, chớ có phân vân! Ðây là khổ được đoạn tận.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Kittāvatā nu kho, bhikkhave, bhikkhu parivīmaṁsamāno parivīmaṁseyya sabbaso sammā dukkhakkhayāyā”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Idha, bhikkhave, bhikkhu parivīmaṁsamāno parivīmaṁsati:
‘yaṁ kho idaṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ dukkhaṁ loke uppajjati jarāmaraṇaṁ;
idaṁ nu kho dukkhaṁ kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ?
Kismiṁ sati jarāmaraṇaṁ hoti, kismiṁ asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti?
So parivīmaṁsamāno evaṁ pajānāti:
‘yaṁ kho idaṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ dukkhaṁ loke uppajjati jarāmaraṇaṁ, idaṁ kho dukkhaṁ jātinidānaṁ jātisamudayaṁ jātijātikaṁ jātippabhavaṁ.
Jātiyā sati jarāmaraṇaṁ hoti, jātiyā asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti.
So jarāmaraṇañca pajānāti, jarāmaraṇasamudayañca pajānāti, jarāmaraṇanirodhañca pajānāti, yā ca jarāmaraṇanirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti, tathā paṭipanno ca hoti anudhammacārī;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno jarāmaraṇanirodhāya.
Athāparaṁ parivīmaṁsamāno parivīmaṁsati:
‘jāti panāyaṁ kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā, kismiṁ sati jāti hoti, kismiṁ asati jāti na hotī’ti?
So parivīmaṁsamāno evaṁ pajānāti:
‘jāti bhavanidānā bhavasamudayā bhavajātikā bhavappabhavā;
bhave sati jāti hoti, bhave asati jāti na hotī’ti.
So jātiñca pajānāti, jātisamudayañca pajānāti, jātinirodhañca pajānāti, yā ca jātinirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti, tathā paṭipanno ca hoti anudhammacārī;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno jātinirodhāya.
Athāparaṁ parivīmaṁsamāno parivīmaṁsati:
‘bhavo panāyaṁ kiṁnidāno …pe…
upādānaṁ panidaṁ kiṁnidānaṁ …
taṇhā panāyaṁ kiṁnidānā …
vedanā …
phasso …
saḷāyatanaṁ panidaṁ kiṁnidānaṁ …
nāmarūpaṁ panidaṁ …
viññāṇaṁ panidaṁ …
saṅkhārā panime kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā;
kismiṁ sati saṅkhārā honti, kismiṁ asati saṅkhārā na hontī’ti?
So parivīmaṁsamāno evaṁ pajānāti:
‘saṅkhārā avijjānidānā avijjāsamudayā avijjājātikā avijjāpabhavā;
avijjāya sati saṅkhārā honti, avijjāya asati saṅkhārā na hontī’ti.
So saṅkhāre ca pajānāti, saṅkhārasamudayañca pajānāti, saṅkhāranirodhañca pajānāti, yā ca saṅkhāranirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti, tathā paṭipanno ca hoti anudhammacārī;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno saṅkhāranirodhāya.
Avijjāgato yaṁ, bhikkhave, purisapuggalo puññañce saṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, puññūpagaṁ hoti viññāṇaṁ.
Apuññañce saṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, apuññūpagaṁ hoti viññāṇaṁ.
Āneñjañce saṅkhāraṁ abhisaṅkharoti āneñjūpagaṁ hoti viññāṇaṁ.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno avijjā pahīnā hoti vijjā uppannā, so avijjāvirāgā vijjuppādā neva puññābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti na apuññābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti na āneñjābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti.
Anabhisaṅkharonto anabhisañcetayanto na kiñci loke upādiyati;
anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti.
Dukkhañce vedanaṁ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti.
Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati.
Dukkhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati.
Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati.
So kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmīti pajānāti, jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmīti pajānāti.
Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissanti, sarīrāni avasissantīti pajānāti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso kumbhakārapākā uṇhaṁ kumbhaṁ uddharitvā same bhūmibhāge paṭisisseyya.
Tatra yāyaṁ usmā sā tattheva vūpasameyya, kapallāni avasisseyyuṁ.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmīti pajānāti, jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmīti pajānāti.
Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissanti, sarīrāni avasissantīti pajānāti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu kho khīṇāsavo bhikkhu puññābhisaṅkhāraṁ vā abhisaṅkhareyya apuññābhisaṅkhāraṁ vā abhisaṅkhareyya āneñjābhisaṅkhāraṁ vā abhisaṅkhareyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana saṅkhāresu asati, saṅkhāranirodhā api nu kho viññāṇaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana viññāṇe asati, viññāṇanirodhā api nu kho nāmarūpaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana nāmarūpe asati, nāmarūpanirodhā api nu kho saḷāyatanaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana saḷāyatane asati, saḷāyatananirodhā api nu kho phasso paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana phasse asati, phassanirodhā api nu kho vedanā paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana vedanāya asati, vedanānirodhā api nu kho taṇhā paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana taṇhāya asati, taṇhānirodhā api nu kho upādānaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana upādāne asati, upādānanirodhā api nu kho bhavo paññāyethā”ti.
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana bhave asati, bhavanirodhā api nu kho jāti paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana jātiyā asati, jātinirodhā api nu kho jarāmaraṇaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, bhikkhave, evametaṁ, bhikkhave, netaṁ aññathā.
Saddahatha me taṁ, bhikkhave, adhimuccatha, nikkaṅkhā ettha hotha nibbicikicchā.
Esevanto dukkhassā”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Savatthī in Jeta’s Grove, Anathapiṇḍika’s Park. There the Blessed One addressed the bhikkhus thus: “Bhikkhus!”
SC 2“Venerable sir!” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 3“Bhikkhus, when a bhikkhu is making a thorough investigation, in what way should he thoroughly investigate for the utterly complete destruction of suffering?”
SC 4“Venerable sir, our teachings are rooted in the Blessed One, guided by the Blessed One, sn.ii.81 take recourse in the Blessed One. It would be good if the Blessed One would clear up the meaning of this statement. Having heard it from him, the bhikkhus will remember it.”
SC 5“Then listen and attend closely, bhikkhus, I will speak.”
SC 6“Yes, venerable sir,” the bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 7“Here, bhikkhus, when he makes a thorough investigation, a bhikkhu thoroughly investigates thus: ‘The many diverse kinds of suffering that arise in the world headed by aging-and-death: what is the source of this suffering, what is its origin, from what is it born and produced? When what exists does aging-and-death come to be? When what does not exist does aging-and-death not come to be?’
SC 8“As he thoroughly investigates he understands thus: ‘The many diverse kinds of suffering that arise in the world headed by aging-and-death: this suffering has birth as its source, birth as its origin; it is born and produced from birth. When there is birth, aging-and-death comes to be; when there is no birth, aging-and-death does not come to be.’
SC 9“He understands aging-and-death, its origin, its cessation, and the way leading on that is in conformity with its cessation. He practises that way and conducts himself accordingly. This is called a bhikkhu who is practising for the utterly complete destruction of suffering, for the cessation of aging-and-death.
SC 10“Then, investigating further, he thoroughly investigates thus: ‘What is the source of this birth, what is its origin, from what is it born and produced?… What is the source of this existence?… this clinging?… this craving?… this feeling?… this contact?… these six sense bases?… this name-and-form?… this consciousness? … What is the source of these volitional formations, what is their origin, from what are they born and produced? When what exists do volitional formations come to be? When what does not exist do volitional formations not come to be?’
SC 11“As he thoroughly investigates he understands thus: ‘Volitional formations have ignorance as their source, ignorance as their origin; they are born and produced from ignorance. sn.ii.82 When there is ignorance, volitional formations come to be; when there is no ignorance, volitional formations do not come to be.’
SC 12“He understands volitional formations, their origin, their cessation, and the way leading on that is in conformity with their cessation. He practises that way and conducts himself accordingly. This is called a bhikkhu who is practising for the utterly complete destruction of suffering, for the cessation of volitional formations.
SC 13“Bhikkhus, if a person immersed in ignorance generates a meritorious volitional formation, consciousness fares on to the meritorious; if he generates a demeritorious volitional formation, consciousness fares on to the demeritorious; if he generates an imperturbable volitional formation, consciousness fares on to the imperturbable. But when a bhikkhu has abandoned ignorance and aroused true knowledge, then, with the fading away of ignorance and the arising of true knowledge, he does not generate a meritorious volitional formation, or a demeritorious volitional formation, or an imperturbable volitional formation. Since he does not generate or fashion volitional formations, he does not cling to anything in the world. Not clinging, he is not agitated. Not being agitated, he personally attains Nibbāna. He understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’
SC 14“If he feels a pleasant feeling, he understands: ‘It is impermanent’; he understands: ‘It is not held to’; he understands: ‘It is not delighted in.’ If he feels a painful feeling, he understands: ‘It is impermanent’; he understands: ‘It is not held to’; he understands: ‘It is not delighted in.’ If he feels a neither-painful-nor-pleasant feeling, he understands: ‘It is impermanent’; he understands: ‘It is not held to’; he understands: ‘It is not delighted in.’
SC 15“If he feels a pleasant feeling, he feels it detached; if he feels a painful feeling, he feels it detached; if he feels a neither-painful-nor-pleasant feeling, he feels it detached. sn.ii.83
SC 16“When he feels a feeling terminating with the body, he understands: ‘I feel a feeling terminating with the body.’ When he feels a feeling terminating with life, he understands: ‘I feel a feeling terminating with life.’ He understands: ‘With the breakup of the body, following the exhaustion of life, all that is felt, not being delighted in, will become cool right here; mere bodily remains will be left.’
SC 17“Suppose, bhikkhus, a man would remove a hot clay pot from a potter’s kiln and set it on smooth ground: its heat would be dissipated right there and potsherds would be left. So too, when he feels a feeling terminating with the body … terminating with life…. He understands: ‘With the breakup of the body, following the exhaustion of life, all that is felt, not being delighted in, will become cool right here; mere bodily remains will be left.’ “What do you think, bhikkhus, can a bhikkhu whose taints are destroyed generate a meritorious volitional formation, or a demeritorious volitional formation, or an imperturbable volitional formation?”
“No, venerable sir.”
SC 18“When there are utterly no volitional formations, with the cessation of volitional formations, would consciousness be discerned?” “No, venerable sir.”
SC 19“When there is utterly no consciousness, with the cessation of consciousness, would name-and-form be discerned?”
“No, venerable sir.”
SC 20“When there is utterly no name-and-form … no six sense bases … sn.ii.84 … no contact … no feeling … no craving … no clinging … no existence … no birth, with the cessation of birth, would aging-and-death be discerned?”
“No, venerable sir.”
SC 21“Good, good, bhikkhus! It is exactly so and not otherwise! Place faith in me about this, bhikkhus, resolve on this. Be free from perplexity and doubt about this. Just this is the end of suffering.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Sāvatthī (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Vi-n 2 Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo tư lường, phải tư lường như thế nào để chơn chánh diệt khổ một cách trọn vẹn?
—Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm điểm tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
Vi-n 4 —Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 5 —Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đang tư lường, tư lường như sau: “Sự đau khổ nhiều loại và đa dạng này khởi lên trên đời như già và chết; sự đau khổ này lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu? Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”
Vi-n 6 Tư lường như vậy, vị ấy biết như sau: “Sự đau khổ nhiều loại và đa dạng này khởi lên trên đời như già và chết, sự đau khổ này lấy sanh làm nhân, lấy sanh làm tập khởi, lấy sanh làm tác sanh, lấy sanh làm hiện hữu. Do sanh có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh không có mặt, già chết không hiện hữu”.
Vi-n 7 Và vị ấy biết già chết, biết già chết tập khởi, biết già chết đoạn diệt, và vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy trở thành vị Tùy pháp hành.
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị Tỷ-kheo đã thực hành một cách trọn vẹn để chơn chánh đoạn tận khổ đau và đoạn diệt già chết.
Vi-n 9 Tư lường thêm nữa, vị ấy tư lường như sau: “Còn hữu này, do cái gì làm nhân? Còn thủ này, do cái gì làm nhân? Còn ái này, do cái gì làm nhân? Còn thọ này, do cái gì làm nhân? Còn xúc này… Còn sáu xứ này… Còn danh sắc này… Còn thức này… Còn các hành này, do cái gì làm nhân, cái gì tập khởi, cái gì tác sanh, cái gì làm hiện hữu? Do cái gì có mặt, các hành hiện hữu? Do cái gì không có mặt các hành không hiện hữu?”
Vi-n 10 Tư lường như vậy, vị ấy biết như sau: “Các hành lấy vô minh làm nhân, lấy vô minh làm tập khởi, lấy vô minh làm tác sanh, lấy vô minh làm hiện hữu. Do vô minh có mặt, các hành hiện hữu. Do vô minh không có mặt, các hành không hiện hữu”.
Vi-n 11 Và vị ấy biết các hành, biết các hành tập khởi, biết các hành đoạn diệt, và vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến các hành đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy trở thành vị Tùy pháp hành. Này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị Tỷ-kheo đã thực hành một cách trọn vẹn để chơn chánh đoạn tận khổ đau và đoạn diệt các hành.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, nếu người nào bị vô minh chi phối, dự tính làm phước hành, thức (của người ấy) đi đến phước. Nếu người ấy dự tính làm phi phước hành, thức (của người ấy) đi đến phi phước. Nếu người ấy dự tính làm bất động hành, thức (của người ấy) đi đến bất động.
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đoạn tận vô minh, minh được sanh khởi. Vị ấy do vô minh đoạn tận, minh sanh khởi, không dự tính làm phước hành, không dự tính làm phi phước hành, không dự tính làm bất động hành.
Vi-n 14 Không có dự tính, không có dụng ý, vị ấy không chấp thủ một sự gì ở đời. Không chấp thủ, vị ấy không sợ hãi. Không sợ hãi, vị ấy hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 15 Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy biết lạc thọ ấy vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy biết khổ thọ vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy biết thọ ấy vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ.
Vi-n 16 Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly (visaññutto).
Vi-n 17 Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên”.
Vi-n 18 Này các Tỷ-kheo, ví như một người từ trong lò nung của người thợ gốm lấy ra một cái ghè nóng và đặt trên một khoảng đất bằng phẳng để sức nóng ở đấy được nguội dần, và các miếng sành vụn được gạt bỏ một bên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên”.
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, có dự tính làm các phước hành, hay có dự tính làm các phi phước hành, hay có dự tính làm các bất động hành?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 20 —Hay nếu các hành không có mặt một cách trọn vẹn, do các hành đoạn diệt, thời thức có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 21 —Hay nếu thức không có mặt một cách trọn vẹn, do thức đoạn diệt, thời danh sắc có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 22 —Hay nếu danh sắc không có mặt một cách trọn vẹn, do danh sắc đoạn diệt, thời sáu xứ có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 23 —Hay nếu sáu xứ không có mặt một cách trọn vẹn, do sáu xứ đoạn diệt, thời xúc có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 24 —Hay nếu xúc không có mặt một cách trọn vẹn, do xúc đoạn diệt, thời thọ có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 25 —Hay nếu thọ không có mặt một cách trọn vẹn, do thọ đoạn diệt, thời ái có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 26 —Hay nếu ái không có mặt một cách trọn vẹn, do ái đoạn diệt, thời thủ có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 27 —Hay nếu thủ không có mặt một cách trọn vẹn, do thủ đoạn diệt, thời hữu có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 28 —Hay nếu hữu không có mặt một cách trọn vẹn, do hữu đoạn diệt, thời sanh có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 29 —Hay nếu sanh không có mặt một cách trọn vẹn, do sanh đoạn diệt, thời già chết có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 30 —Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Phải là như vậy, này các Tỷ-kheo! Không thể khác vậy. Hãy tin ở Ta, này các Tỷ-kheo! Hãy quyết định, chớ có nghi ngờ, chớ có phân vân! Ðây là khổ được đoạn tận.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Kittāvatā nu kho, bhikkhave, bhikkhu parivīmaṁsamāno parivīmaṁseyya sabbaso sammā dukkhakkhayāyā”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Idha, bhikkhave, bhikkhu parivīmaṁsamāno parivīmaṁsati:
‘yaṁ kho idaṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ dukkhaṁ loke uppajjati jarāmaraṇaṁ;
idaṁ nu kho dukkhaṁ kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ?
Kismiṁ sati jarāmaraṇaṁ hoti, kismiṁ asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti?
So parivīmaṁsamāno evaṁ pajānāti:
‘yaṁ kho idaṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ dukkhaṁ loke uppajjati jarāmaraṇaṁ, idaṁ kho dukkhaṁ jātinidānaṁ jātisamudayaṁ jātijātikaṁ jātippabhavaṁ.
Jātiyā sati jarāmaraṇaṁ hoti, jātiyā asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti.
So jarāmaraṇañca pajānāti, jarāmaraṇasamudayañca pajānāti, jarāmaraṇanirodhañca pajānāti, yā ca jarāmaraṇanirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti, tathā paṭipanno ca hoti anudhammacārī;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno jarāmaraṇanirodhāya.
Athāparaṁ parivīmaṁsamāno parivīmaṁsati:
‘jāti panāyaṁ kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā, kismiṁ sati jāti hoti, kismiṁ asati jāti na hotī’ti?
So parivīmaṁsamāno evaṁ pajānāti:
‘jāti bhavanidānā bhavasamudayā bhavajātikā bhavappabhavā;
bhave sati jāti hoti, bhave asati jāti na hotī’ti.
So jātiñca pajānāti, jātisamudayañca pajānāti, jātinirodhañca pajānāti, yā ca jātinirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti, tathā paṭipanno ca hoti anudhammacārī;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno jātinirodhāya.
Athāparaṁ parivīmaṁsamāno parivīmaṁsati:
‘bhavo panāyaṁ kiṁnidāno …pe…
upādānaṁ panidaṁ kiṁnidānaṁ …
taṇhā panāyaṁ kiṁnidānā …
vedanā …
phasso …
saḷāyatanaṁ panidaṁ kiṁnidānaṁ …
nāmarūpaṁ panidaṁ …
viññāṇaṁ panidaṁ …
saṅkhārā panime kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā;
kismiṁ sati saṅkhārā honti, kismiṁ asati saṅkhārā na hontī’ti?
So parivīmaṁsamāno evaṁ pajānāti:
‘saṅkhārā avijjānidānā avijjāsamudayā avijjājātikā avijjāpabhavā;
avijjāya sati saṅkhārā honti, avijjāya asati saṅkhārā na hontī’ti.
So saṅkhāre ca pajānāti, saṅkhārasamudayañca pajānāti, saṅkhāranirodhañca pajānāti, yā ca saṅkhāranirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti, tathā paṭipanno ca hoti anudhammacārī;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno saṅkhāranirodhāya.
Avijjāgato yaṁ, bhikkhave, purisapuggalo puññañce saṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, puññūpagaṁ hoti viññāṇaṁ.
Apuññañce saṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, apuññūpagaṁ hoti viññāṇaṁ.
Āneñjañce saṅkhāraṁ abhisaṅkharoti āneñjūpagaṁ hoti viññāṇaṁ.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno avijjā pahīnā hoti vijjā uppannā, so avijjāvirāgā vijjuppādā neva puññābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti na apuññābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti na āneñjābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti.
Anabhisaṅkharonto anabhisañcetayanto na kiñci loke upādiyati;
anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti.
Dukkhañce vedanaṁ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti.
Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati.
Dukkhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati.
Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati.
So kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmīti pajānāti, jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmīti pajānāti.
Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissanti, sarīrāni avasissantīti pajānāti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso kumbhakārapākā uṇhaṁ kumbhaṁ uddharitvā same bhūmibhāge paṭisisseyya.
Tatra yāyaṁ usmā sā tattheva vūpasameyya, kapallāni avasisseyyuṁ.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmīti pajānāti, jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmīti pajānāti.
Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissanti, sarīrāni avasissantīti pajānāti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu kho khīṇāsavo bhikkhu puññābhisaṅkhāraṁ vā abhisaṅkhareyya apuññābhisaṅkhāraṁ vā abhisaṅkhareyya āneñjābhisaṅkhāraṁ vā abhisaṅkhareyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana saṅkhāresu asati, saṅkhāranirodhā api nu kho viññāṇaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana viññāṇe asati, viññāṇanirodhā api nu kho nāmarūpaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana nāmarūpe asati, nāmarūpanirodhā api nu kho saḷāyatanaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana saḷāyatane asati, saḷāyatananirodhā api nu kho phasso paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana phasse asati, phassanirodhā api nu kho vedanā paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana vedanāya asati, vedanānirodhā api nu kho taṇhā paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana taṇhāya asati, taṇhānirodhā api nu kho upādānaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana upādāne asati, upādānanirodhā api nu kho bhavo paññāyethā”ti.
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana bhave asati, bhavanirodhā api nu kho jāti paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana jātiyā asati, jātinirodhā api nu kho jarāmaraṇaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, bhikkhave, evametaṁ, bhikkhave, netaṁ aññathā.
Saddahatha me taṁ, bhikkhave, adhimuccatha, nikkaṅkhā ettha hotha nibbicikicchā.
Esevanto dukkhassā”ti.
Paṭhamaṁ.