Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Magadha, trên núi Nam Sơn, tại làng Bà-la-môn tên Ekanàlà.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ là thời gian gieo mạ, và Bà-la-môn Kasi Bharadvāja sắp đặt sẵn sàng khoảng năm trăm lưỡi cày.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến nông trường của Bà-la-môn Kasi Bharadvāja.
Vi-n 4 Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasi Bharadvāja đang phân phát đồ ăn.
Vi-n 5 Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, rồi đứng một bên.
Vi-n 6 Bà-la-môn Kasi Bharadvāja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, thấy vậy, bèn nói với Thế Tôn:
—Này Sa-môn, tôi cày và tôi gieo mạ; sau khi cày và gieo mạ, tôi ăn. Này Sa-môn, Ông có cày và gieo mạ không; sau khi cày và gieo mạ, Ông ăn?
Vi-n 7 —Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn.
Vi-n 8 —Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, cái cày, cái lưỡi cày, cái gậy đâm, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama. Tuy vậy Tôn giả Gotama lại nói như sau: “Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn”.
Vi-n 9 Rồi Bà-la-môn Kasi Bharadvāja nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ông nói là nông phu,
Ta không thấy Ông cày,
Người nông phu được hỏi,
Hãy lên tiếng trả lời,
Sao chúng tôi biết được,
Ông thật sự có cày?
Vi-n 10 (Thế Tôn):
Lòng tin là hạt giống,
Khổ hạnh là mưa móc,
Trí tuệ đối với Ta,
Là cày và ách mang,
Tàm quý là cán cày,
Ý căn là dây cột,
Chánh niệm đối với Ta,
Là lưỡi cày, gậy đâm.
Thân hành được hộ trì,
Khẩu hành được hộ trì
Ðối với các món ăn,
Bụng Ta dùng vừa phải,
Ta nhổ lên tà vạy,
Với chơn lý sự thật,
Hoan hỷ trong Niết-bàn
Là giải thoát của Ta.
Tinh tấn đối với Ta,
Là khả năng mang ách,
Ðưa Ta tiến dần đến,
An ổn khỏi ách nạn,
Ði đến, không trở lui,
Chỗ Ta đi, không sầu.
Như vậy, cày ruộng này,
Ðưa đến quả bất tử,
Sau khi cày cày này,
Mọi đau khổ được thoát.
Vi-n 11 —Hãy ăn Tôn giả Gotama, Tôn giả Gotama thật là người nông phu. Tôn giả Gotama cày, sự cày đưa đến quả bất tử.
Vi-n 12 (Thế Tôn):
Ta không có hưởng thọ,
Vì tụng hát kệ chú,
Thường pháp không phải vậy,
Ðối vị có tri kiến.
Chư Phật đã loại bỏ,
Tụng hát các kệ chú,
Chơn thật đối với Pháp,
Sở hành là như vậy.
Bậc Ðại Sĩ vẹn toàn,
Cúng dường phải khác biệt,
Ðoạn tận các lậu hoặc,
Trạo hối được lắng dịu,
Với những bậc như vậy,
Cơm nước phải cúng dường.
Thật chính là phước điền,
Cho những ai cầu phước.
Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Kasi Bharadvāja bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho người có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā magadhesu viharati dakkhiṇāgirismiṁ ekanāḷāyaṁ brāhmaṇagāme.
Tena kho pana samayena kasibhāradvājassa brāhmaṇassa pañcamattāni naṅgalasatāni payuttāni honti vappakāle.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena kasibhāradvājassa brāhmaṇassa kammanto tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena kasibhāradvājassa brāhmaṇassa parivesanā vattati.
Atha kho bhagavā yena parivesanā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Addasā kho kasibhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ piṇḍāya ṭhitaṁ.
Disvā bhagavantaṁ etadavoca:
“ahaṁ kho, samaṇa, kasāmi ca vapāmi ca, kasitvā ca vapitvā ca bhuñjāmi.
Tvampi, samaṇa, kasassu ca vapassu ca, kasitvā ca vapitvā ca bhuñjassū”ti.
“Ahampi kho, brāhmaṇa, kasāmi ca vapāmi ca, kasitvā ca vapitvā ca bhuñjāmī”ti.
“Na kho mayaṁ passāma bhoto gotamassa yugaṁ vā naṅgalaṁ vā phālaṁ vā pācanaṁ vā balībadde vā, atha ca pana bhavaṁ gotamo evamāha:
‘ahampi kho, brāhmaṇa, kasāmi ca vapāmi ca, kasitvā ca vapitvā ca bhuñjāmī’”ti.
Atha kho kasibhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Kassako paṭijānāsi,
na ca passāmi te kasiṁ;
Kassako pucchito brūhi,
kathaṁ jānemu taṁ kasin”ti.
“Saddhā bījaṁ tapo vuṭṭhi,
paññā me yuganaṅgalaṁ;
Hirī īsā mano yottaṁ,
sati me phālapācanaṁ.
Kāyagutto vacīgutto,
āhāre udare yato;
Saccaṁ karomi niddānaṁ,
soraccaṁ me pamocanaṁ.
Vīriyaṁ me dhuradhorayhaṁ,
yogakkhemādhivāhanaṁ;
Gacchati anivattantaṁ,
yattha gantvā na socati.
Evamesā kasī kaṭṭhā,
sā hoti amatapphalā;
Etaṁ kasiṁ kasitvāna,
sabbadukkhā pamuccatī”ti.
“Bhuñjatu bhavaṁ gotamo.
Kassako bhavaṁ.
Yañhi bhavaṁ gotamo amatapphalampi kasiṁ kasatī”ti.
“Gāthābhigītaṁ me abhojaneyyaṁ,
Sampassataṁ brāhmaṇa nesa dhammo;
Gāthābhigītaṁ panudanti buddhā,
Dhamme sati brāhmaṇa vuttiresā.
Aññena ca kevalinaṁ mahesiṁ,
Khīṇāsavaṁ kukkuccavūpasantaṁ;
Annena pānena upaṭṭhahassu,
Khettañhi taṁ puññapekkhassa hotī”ti.
Evaṁ vutte, kasibhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying in the land of the Magadhans in the Southern Hills near the brahmin village of Ekanāḷa.
Now at that time the brahmin Bhāradvāja the Farmer had harnessed around five hundred plows, it being the season for sowing.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to where Bhāradvāja the Farmer was working.
Now at that time Bhāradvāja the Farmer was distributing food.
Then the Buddha went to where the distribution was taking place and stood to one side.
Bhāradvāja the Farmer saw him standing for alms
and said to him,
“I plough and sow, ascetic, and then I eat.
You too should plough and sow, then you may eat.”
“I too plough and sow, brahmin, and then I eat.”
“I don’t see the worthy Gotama with a yoke or plow or plowshare or goad or oxen, yet he says:
‘I too plough and sow, brahmin, and then I eat.’”
Then Bhāradvāja the Farmer addressed the Buddha in verse:
“You claim to be a farmer,
but I don’t see you farming.
Tell me how you’re a farmer when asked:
how am I to recognize your farming?”
“Faith is my seed, fervor my rain,
and wisdom is my yoke and plough.
Conscience is my draft-pole, mind my strap,
mindfulness my plowshare and goad.
Guarded in body and speech,
I restrict my intake of food.
I use truth as my scythe,
and gentleness is my release.
Energy is my harnessed beast,
transporting me to sanctuary from the yoke.
It goes without turning back
to where there is no sorrow.
That’s how to do the farming
that has freedom from death as its fruit.
When you finish this farming
you’re released from all suffering.”
“May the worthy Gotama eat!
The worthy one is a farmer.
For the worthy Gotama does the farming that has freedom from death as its fruit.”
“Food enchanted by a verse isn’t fit for me to eat.
That’s not the principle of those who see, brahmin.
The Buddhas cast aside things enchanted with verses.
Since there is such a principle, brahmin, that’s how they live.
Serve with other food and drink
the consummate one, the great seer,
with defilements ended and remorse stilled.
For he is the field for the seeker of merit.”
When he had spoken, the brahmin Bhāradvāja the Farmer said to the Buddha,
“Excellent, worthy Gotama …
From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Magadha, trên núi Nam Sơn, tại làng Bà-la-môn tên Ekanàlà.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ là thời gian gieo mạ, và Bà-la-môn Kasi Bharadvāja sắp đặt sẵn sàng khoảng năm trăm lưỡi cày.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến nông trường của Bà-la-môn Kasi Bharadvāja.
Vi-n 4 Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasi Bharadvāja đang phân phát đồ ăn.
Vi-n 5 Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, rồi đứng một bên.
Vi-n 6 Bà-la-môn Kasi Bharadvāja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, thấy vậy, bèn nói với Thế Tôn:
—Này Sa-môn, tôi cày và tôi gieo mạ; sau khi cày và gieo mạ, tôi ăn. Này Sa-môn, Ông có cày và gieo mạ không; sau khi cày và gieo mạ, Ông ăn?
Vi-n 7 —Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn.
Vi-n 8 —Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, cái cày, cái lưỡi cày, cái gậy đâm, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama. Tuy vậy Tôn giả Gotama lại nói như sau: “Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn”.
Vi-n 9 Rồi Bà-la-môn Kasi Bharadvāja nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ông nói là nông phu,
Ta không thấy Ông cày,
Người nông phu được hỏi,
Hãy lên tiếng trả lời,
Sao chúng tôi biết được,
Ông thật sự có cày?
Vi-n 10 (Thế Tôn):
Lòng tin là hạt giống,
Khổ hạnh là mưa móc,
Trí tuệ đối với Ta,
Là cày và ách mang,
Tàm quý là cán cày,
Ý căn là dây cột,
Chánh niệm đối với Ta,
Là lưỡi cày, gậy đâm.
Thân hành được hộ trì,
Khẩu hành được hộ trì
Ðối với các món ăn,
Bụng Ta dùng vừa phải,
Ta nhổ lên tà vạy,
Với chơn lý sự thật,
Hoan hỷ trong Niết-bàn
Là giải thoát của Ta.
Tinh tấn đối với Ta,
Là khả năng mang ách,
Ðưa Ta tiến dần đến,
An ổn khỏi ách nạn,
Ði đến, không trở lui,
Chỗ Ta đi, không sầu.
Như vậy, cày ruộng này,
Ðưa đến quả bất tử,
Sau khi cày cày này,
Mọi đau khổ được thoát.
Vi-n 11 —Hãy ăn Tôn giả Gotama, Tôn giả Gotama thật là người nông phu. Tôn giả Gotama cày, sự cày đưa đến quả bất tử.
Vi-n 12 (Thế Tôn):
Ta không có hưởng thọ,
Vì tụng hát kệ chú,
Thường pháp không phải vậy,
Ðối vị có tri kiến.
Chư Phật đã loại bỏ,
Tụng hát các kệ chú,
Chơn thật đối với Pháp,
Sở hành là như vậy.
Bậc Ðại Sĩ vẹn toàn,
Cúng dường phải khác biệt,
Ðoạn tận các lậu hoặc,
Trạo hối được lắng dịu,
Với những bậc như vậy,
Cơm nước phải cúng dường.
Thật chính là phước điền,
Cho những ai cầu phước.
Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Kasi Bharadvāja bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho người có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā magadhesu viharati dakkhiṇāgirismiṁ ekanāḷāyaṁ brāhmaṇagāme.
Tena kho pana samayena kasibhāradvājassa brāhmaṇassa pañcamattāni naṅgalasatāni payuttāni honti vappakāle.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena kasibhāradvājassa brāhmaṇassa kammanto tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena kasibhāradvājassa brāhmaṇassa parivesanā vattati.
Atha kho bhagavā yena parivesanā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Addasā kho kasibhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ piṇḍāya ṭhitaṁ.
Disvā bhagavantaṁ etadavoca:
“ahaṁ kho, samaṇa, kasāmi ca vapāmi ca, kasitvā ca vapitvā ca bhuñjāmi.
Tvampi, samaṇa, kasassu ca vapassu ca, kasitvā ca vapitvā ca bhuñjassū”ti.
“Ahampi kho, brāhmaṇa, kasāmi ca vapāmi ca, kasitvā ca vapitvā ca bhuñjāmī”ti.
“Na kho mayaṁ passāma bhoto gotamassa yugaṁ vā naṅgalaṁ vā phālaṁ vā pācanaṁ vā balībadde vā, atha ca pana bhavaṁ gotamo evamāha:
‘ahampi kho, brāhmaṇa, kasāmi ca vapāmi ca, kasitvā ca vapitvā ca bhuñjāmī’”ti.
Atha kho kasibhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Kassako paṭijānāsi,
na ca passāmi te kasiṁ;
Kassako pucchito brūhi,
kathaṁ jānemu taṁ kasin”ti.
“Saddhā bījaṁ tapo vuṭṭhi,
paññā me yuganaṅgalaṁ;
Hirī īsā mano yottaṁ,
sati me phālapācanaṁ.
Kāyagutto vacīgutto,
āhāre udare yato;
Saccaṁ karomi niddānaṁ,
soraccaṁ me pamocanaṁ.
Vīriyaṁ me dhuradhorayhaṁ,
yogakkhemādhivāhanaṁ;
Gacchati anivattantaṁ,
yattha gantvā na socati.
Evamesā kasī kaṭṭhā,
sā hoti amatapphalā;
Etaṁ kasiṁ kasitvāna,
sabbadukkhā pamuccatī”ti.
“Bhuñjatu bhavaṁ gotamo.
Kassako bhavaṁ.
Yañhi bhavaṁ gotamo amatapphalampi kasiṁ kasatī”ti.
“Gāthābhigītaṁ me abhojaneyyaṁ,
Sampassataṁ brāhmaṇa nesa dhammo;
Gāthābhigītaṁ panudanti buddhā,
Dhamme sati brāhmaṇa vuttiresā.
Aññena ca kevalinaṁ mahesiṁ,
Khīṇāsavaṁ kukkuccavūpasantaṁ;
Annena pānena upaṭṭhahassu,
Khettañhi taṁ puññapekkhassa hotī”ti.
Evaṁ vutte, kasibhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.