Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Tôn giả Ānanda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Ānanda thấy Bà-la-môn Jànusoni đi xe ra khỏi Sāvatthi, cỗ xe toàn ngựa trắng kéo. Trắng là những con ngựa kéo xe. Trắng là những đồ trang sức. Trắng là cỗ xe. Trắng là những bộ phận tùy thuộc (parivàro). Trắng là những sợi dây cương. Trắng là cây gậy thúc ngựa. Trắng là cái lọng. Trắng là cái khăn đội. Trắng là những quần áo. Trắng là giày mang. Và được quạt với cái quạt trắng. Quần chúng thấy vậy, liền nói: “Thật là cỗ xe thù thắng. Thật là cỗ xe thù thắng về dung sắc!”
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Ānanda đi khất thực ở Sāvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, con đắp y, cầm y bát và đi vào Sāvatthi để khất thực. Bạch Thế Tôn, con thấy Bà-la-môn Jànusoni đi xe ra khỏi Sāvatthi, cỗ xe toàn ngựa trắng kéo. Trắng là những con ngựa kéo xe … Thật là cỗ xe thù thắng về dung sắc! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể nói lên cỗ xe thù thắng trong Pháp và Luật này?
Thế Tôn nói:
—Có thể được, này Ānanda. Thánh đạo Tám ngành này, này Ānanda, là đồng nghĩa với cỗ xe thù thắng, cỗ xe pháp này. Vô thượng là sự chinh phục trong chiến trận.
Vi-n 5 Chánh tri kiến, này Ānanda, được tu tập, được làm cho viên mãn, cuối cùng đưa đến nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si. Chánh tư duy, này Ānanda, cuối cùng đưa đến nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si. Chánh ngữ … Chánh nghiệp … Chánh mạng … Chánh tinh tấn … Chánh niệm … Chánh định, này Ānanda, được tu tập, được làm cho viên mãn, cuối cùng đưa đến nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si.
Này Ānanda, chính với pháp môn này, các Ông cần phải hiểu như thế này: “Cỗ xe thù thắng, cỗ xe pháp, vô thượng là sự chinh phục trong chiến trận, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành này”.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Ai được tín, trí tuệ,
Thường xuyên liên kết lại,
Lấy hổ thẹn làm cán,
Lấy ý làm ách xe.
Niệm là người đánh xe,
Biết hộ trì, phòng hộ,
Cỗ xe lấy giới luật
Làm vật dụng cho xe.
Thiền là trục bánh xe,
Tinh tấn là bánh xe,
Xả là định thường hằng,
Vô dục là nệm xe.
Vô sân và vô hại,
Viễn ly là binh khí,
Nhẫn nhục là áo giáp,
An ổn khỏi khổ ách,
Làm mục đích đạt đến,
Cỗ xe được chuyển vận.
Pháp này tự ngã làm,
Trở thành thuộc tự ngã.
Là cỗ xe thù thắng,
Vô thượng, không sánh bằng.
Ngồi trên cỗ xe ấy,
Bậc Trí thoát ly đời,
Chắc chắn, không sai chạy,
Họ đạt được chiến thắng.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
Addasā kho āyasmā ānando jāṇussoṇiṁ brāhmaṇaṁ sabbasetena vaḷavābhirathena sāvatthiyā niyyāyantaṁ.
Setā sudaṁ assā yuttā honti setālaṅkārā, seto ratho, setaparivāro, setā rasmiyo, setā patodalaṭṭhi, setaṁ chattaṁ, setaṁ uṇhīsaṁ, setāni vatthāni, setā upāhanā, setāya sudaṁ vālabījaniyā bījīyati.
Tamenaṁ jano disvā evamāha:
“brahmaṁ vata, bho, yānaṁ.
Brahmayānarūpaṁ vata, bho”ti.
Atha kho āyasmā ānando sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisiṁ.
Addasaṁ khvāhaṁ, bhante, jāṇussoṇiṁ brāhmaṇaṁ sabbasetena vaḷavābhirathena sāvatthiyā niyyāyantaṁ.
Setā sudaṁ assā yuttā honti setālaṅkārā, seto ratho, setaparivāro, setā rasmiyo, setā patodalaṭṭhi, setaṁ chattaṁ, setaṁ uṇhīsaṁ, setāni vatthāni, setā upāhanā, setāya sudaṁ vālabījaniyā bījīyati.
Tamenaṁ jano disvā evamāha:
‘brahmaṁ vata, bho, yānaṁ.
Brahmayānarūpaṁ vata, bho’ti.
Sakkā nu kho, bhante, imasmiṁ dhammavinaye brahmayānaṁ paññāpetun”ti?
“Sakkā, ānandā”ti bhagavā avoca:
“imasseva kho etaṁ, ānanda, ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṁ:
‘brahmayānaṁ’ itipi, ‘dhammayānaṁ’ itipi, ‘anuttaro saṅgāmavijayo’ itipīti.
Sammādiṭṭhi, ānanda, bhāvitā bahulīkatā rāgavinayapariyosānā hoti, dosavinayapariyosānā hoti, mohavinayapariyosānā hoti.
Sammāsaṅkappo, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosavinayapariyosāno hoti, mohavinayapariyosāno hoti.
Sammāvācā, ānanda, bhāvitā bahulīkatā rāgavinayapariyosānā hoti, dosa …pe… mohavinayapariyosānā hoti.
Sammākammanto, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosa …pe… mohavinayapariyosāno hoti.
Sammāājīvo, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosa …pe… mohavinayapariyosāno hoti.
Sammāvāyāmo, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosa …pe… mohavinayapariyosāno hoti.
Sammāsati, ānanda, bhāvitā bahulīkatā rāgavinayapariyosānā hoti, dosa …pe… mohavinayapariyosānā hoti.
Sammāsamādhi, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosa …pe… mohavinayapariyosāno hoti.
Iminā kho etaṁ, ānanda, pariyāyena veditabbaṁ yathā imassevetaṁ ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṁ:
‘brahmayānaṁ’ itipi, ‘dhammayānaṁ’ itipi, ‘anuttaro saṅgāmavijayo’ itipī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Yassa saddhā ca paññā ca,
Dhammā yuttā sadā dhuraṁ;
Hirī īsā mano yottaṁ,
Sati ārakkhasārathi.
Ratho sīlaparikkhāro,
jhānakkho cakkavīriyo;
Upekkhā dhurasamādhi,
anicchā parivāraṇaṁ.
Abyāpādo avihiṁsā,
viveko yassa āvudhaṁ;
Titikkhā cammasannāho,
yogakkhemāya vattati.
Etadattani sambhūtaṁ,
brahmayānaṁ anuttaraṁ;
Niyyanti dhīrā lokamhā,
aññadatthu jayaṁ jayan”ti.
Catutthaṁ.
SC 1At Savatthī. Then, in the morning, the Venerable Ānanda dressed and, taking bowl and robe, entered Savatthī for alms. The Venerable Ānanda saw the brahmin Jaṇussoṇi departing from Savatthī in an all-white chariot drawn by mares. The horses yoked to it were white, its ornaments were white, the chariot was white, its upholstery was white, the reins, goad, and canopy were white, his turban, clothes, and sandals were white, and he was being fanned by a white chowry. People, having seen this, said: “Divine indeed, sir, is the vehicle! It appears to be a divine vehicle indeed, sir!”
SC 2Then, when the Venerable Ānanda had walked for alms in Savatthī and returned from his alms round, after his meal he approached the Blessed One, sn.v.5 paid homage to him, sat down to one side, and said to him:
SC 3“Here, venerable sir, in the morning I dressed and, taking bowl and robe, entered Savatthī for alms. I saw the brahmin Jaṇussoṇi departing from Savatthī in an all-white chariot drawn by mares…. People, having seen this, said: ‘Divine indeed, sir, is the vehicle! It appears to be a divine vehicle indeed, sir!’ Is it possible, venerable sir, to point out a divine vehicle in this Dhamma and Discipline?”
SC 4“It is possible, Ānanda,” the Blessed One said. “This is a designation for this Noble Eightfold Path: ‘the divine vehicle’ and ‘the vehicle of Dhamma’ and ‘the unsurpassed victory in battle.’
SC 5“Right view, Ānanda, when developed and cultivated, has as its final goal the removal of lust, the removal of hatred, the removal of delusion. Right intention … Right concentration, when developed and cultivated, sn.v.6 has as its final goal the removal of lust, the removal of hatred, the removal of delusion.
SC 6“In this way, Ānanda, it may be understood how this is a designation for this Noble Eightfold Path: ‘the divine vehicle’ and ‘the vehicle of Dhamma’ and ‘the unsurpassed victory in battle.’”
SC 7This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this:
SC 8“Its qualities of faith and wisdom
Are always yoked evenly together.
Shame is its pole, mind its yoke-tie,
Mindfulness the watchful charioteer.
SC 9“The chariot’s ornament is virtue,
Its axle jhana, energy its wheels;
Equanimity keeps the burden balanced,
Desirelessness serves as upholstery.
SC 10“Good will, harmlessness, and seclusion:
These are the chariot’s weaponry,
Forbearance its armour and shield,
As it rolls towards security from bondage.
SC 11“This divine vehicle unsurpassed
Originates from within oneself.
The wise depart from the world in it,
Inevitably winning the victory.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Tôn giả Ānanda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Ānanda thấy Bà-la-môn Jànusoni đi xe ra khỏi Sāvatthi, cỗ xe toàn ngựa trắng kéo. Trắng là những con ngựa kéo xe. Trắng là những đồ trang sức. Trắng là cỗ xe. Trắng là những bộ phận tùy thuộc (parivàro). Trắng là những sợi dây cương. Trắng là cây gậy thúc ngựa. Trắng là cái lọng. Trắng là cái khăn đội. Trắng là những quần áo. Trắng là giày mang. Và được quạt với cái quạt trắng. Quần chúng thấy vậy, liền nói: “Thật là cỗ xe thù thắng. Thật là cỗ xe thù thắng về dung sắc!”
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Ānanda đi khất thực ở Sāvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, con đắp y, cầm y bát và đi vào Sāvatthi để khất thực. Bạch Thế Tôn, con thấy Bà-la-môn Jànusoni đi xe ra khỏi Sāvatthi, cỗ xe toàn ngựa trắng kéo. Trắng là những con ngựa kéo xe … Thật là cỗ xe thù thắng về dung sắc! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể nói lên cỗ xe thù thắng trong Pháp và Luật này?
Thế Tôn nói:
—Có thể được, này Ānanda. Thánh đạo Tám ngành này, này Ānanda, là đồng nghĩa với cỗ xe thù thắng, cỗ xe pháp này. Vô thượng là sự chinh phục trong chiến trận.
Vi-n 5 Chánh tri kiến, này Ānanda, được tu tập, được làm cho viên mãn, cuối cùng đưa đến nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si. Chánh tư duy, này Ānanda, cuối cùng đưa đến nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si. Chánh ngữ … Chánh nghiệp … Chánh mạng … Chánh tinh tấn … Chánh niệm … Chánh định, này Ānanda, được tu tập, được làm cho viên mãn, cuối cùng đưa đến nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si.
Này Ānanda, chính với pháp môn này, các Ông cần phải hiểu như thế này: “Cỗ xe thù thắng, cỗ xe pháp, vô thượng là sự chinh phục trong chiến trận, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành này”.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Ai được tín, trí tuệ,
Thường xuyên liên kết lại,
Lấy hổ thẹn làm cán,
Lấy ý làm ách xe.
Niệm là người đánh xe,
Biết hộ trì, phòng hộ,
Cỗ xe lấy giới luật
Làm vật dụng cho xe.
Thiền là trục bánh xe,
Tinh tấn là bánh xe,
Xả là định thường hằng,
Vô dục là nệm xe.
Vô sân và vô hại,
Viễn ly là binh khí,
Nhẫn nhục là áo giáp,
An ổn khỏi khổ ách,
Làm mục đích đạt đến,
Cỗ xe được chuyển vận.
Pháp này tự ngã làm,
Trở thành thuộc tự ngã.
Là cỗ xe thù thắng,
Vô thượng, không sánh bằng.
Ngồi trên cỗ xe ấy,
Bậc Trí thoát ly đời,
Chắc chắn, không sai chạy,
Họ đạt được chiến thắng.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
Addasā kho āyasmā ānando jāṇussoṇiṁ brāhmaṇaṁ sabbasetena vaḷavābhirathena sāvatthiyā niyyāyantaṁ.
Setā sudaṁ assā yuttā honti setālaṅkārā, seto ratho, setaparivāro, setā rasmiyo, setā patodalaṭṭhi, setaṁ chattaṁ, setaṁ uṇhīsaṁ, setāni vatthāni, setā upāhanā, setāya sudaṁ vālabījaniyā bījīyati.
Tamenaṁ jano disvā evamāha:
“brahmaṁ vata, bho, yānaṁ.
Brahmayānarūpaṁ vata, bho”ti.
Atha kho āyasmā ānando sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisiṁ.
Addasaṁ khvāhaṁ, bhante, jāṇussoṇiṁ brāhmaṇaṁ sabbasetena vaḷavābhirathena sāvatthiyā niyyāyantaṁ.
Setā sudaṁ assā yuttā honti setālaṅkārā, seto ratho, setaparivāro, setā rasmiyo, setā patodalaṭṭhi, setaṁ chattaṁ, setaṁ uṇhīsaṁ, setāni vatthāni, setā upāhanā, setāya sudaṁ vālabījaniyā bījīyati.
Tamenaṁ jano disvā evamāha:
‘brahmaṁ vata, bho, yānaṁ.
Brahmayānarūpaṁ vata, bho’ti.
Sakkā nu kho, bhante, imasmiṁ dhammavinaye brahmayānaṁ paññāpetun”ti?
“Sakkā, ānandā”ti bhagavā avoca:
“imasseva kho etaṁ, ānanda, ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṁ:
‘brahmayānaṁ’ itipi, ‘dhammayānaṁ’ itipi, ‘anuttaro saṅgāmavijayo’ itipīti.
Sammādiṭṭhi, ānanda, bhāvitā bahulīkatā rāgavinayapariyosānā hoti, dosavinayapariyosānā hoti, mohavinayapariyosānā hoti.
Sammāsaṅkappo, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosavinayapariyosāno hoti, mohavinayapariyosāno hoti.
Sammāvācā, ānanda, bhāvitā bahulīkatā rāgavinayapariyosānā hoti, dosa …pe… mohavinayapariyosānā hoti.
Sammākammanto, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosa …pe… mohavinayapariyosāno hoti.
Sammāājīvo, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosa …pe… mohavinayapariyosāno hoti.
Sammāvāyāmo, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosa …pe… mohavinayapariyosāno hoti.
Sammāsati, ānanda, bhāvitā bahulīkatā rāgavinayapariyosānā hoti, dosa …pe… mohavinayapariyosānā hoti.
Sammāsamādhi, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosa …pe… mohavinayapariyosāno hoti.
Iminā kho etaṁ, ānanda, pariyāyena veditabbaṁ yathā imassevetaṁ ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṁ:
‘brahmayānaṁ’ itipi, ‘dhammayānaṁ’ itipi, ‘anuttaro saṅgāmavijayo’ itipī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Yassa saddhā ca paññā ca,
Dhammā yuttā sadā dhuraṁ;
Hirī īsā mano yottaṁ,
Sati ārakkhasārathi.
Ratho sīlaparikkhāro,
jhānakkho cakkavīriyo;
Upekkhā dhurasamādhi,
anicchā parivāraṇaṁ.
Abyāpādo avihiṁsā,
viveko yassa āvudhaṁ;
Titikkhā cammasannāho,
yogakkhemāya vattati.
Etadattani sambhūtaṁ,
brahmayānaṁ anuttaraṁ;
Niyyanti dhīrā lokamhā,
aññadatthu jayaṁ jayan”ti.
Catutthaṁ.