Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
I
Vi-n 2 Rồi Tỷ-kheo Kaḷāra Khattiya (dòng Sát-đế-lỵ) đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kaḷāra Khattiya nói với Tôn giả Sāriputta:
—Này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo Moḷiyaphagguṇa đã từ bỏ học tập và hoàn tục.
—Vậy vị Tôn giả ấy, không tìm được sự an ủi trong Pháp và Luật này?
Vi-n 4 —Vậy Tôn giả Sāriputta đã đạt được sự an ủi trong Pháp và Luật này?
—Này Hiền giả, tôi không có nghi ngờ gì!
Vi-n 5 —Này Hiền giả, còn đối với tương lai?
—Tôi không có băn khoăn, này Hiền giả.
Vi-n 6 Rồi Tỷ-kheo Kaḷāra Khattiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 7 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kaḷāra Khattiya bạch Thế Tôn:
—Con được biết, bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta tuyên bố được chánh trí như sau: “Sanh đã tận; Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm; không còn trở lại trạng thái này nữa”.
Vi-n 8 Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
—Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, gọi Sāriputta: “Hiền giả Sāriputta, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.
Vi-n 9 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói với Tôn giả Sāriputta: “Bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả”.
Vi-n 10 —Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Sāriputta vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
II
Vi-n 11 Thế Tôn nói với Tôn giả Sāriputta đang ngồi một bên:
—Này Sāriputta, có đúng sự thật chăng là ông có tuyên bố đã chứng được chánh trí: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”?
—Bạch Thế Tôn, không phải với những câu ấy, với những chữ ấy, ý nghĩa ấy được con nói đến như vậy.
Vi-n 12 —Vậy với pháp môn nào, này Sāriputta, Thiện nam tử nói đến sự chứng đắc trí, lời tuyên bố cần phải được xem đúng như lời tuyên bố.
Vi-n 13 —Bạch Thế Tôn, chính con đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, không phải với những câu ấy, với những chữ ấy, ý nghĩa ấy được con nói đến như vậy”.
Vi-n 14 —Nếu họ có hỏi ông, này Sāriputta: “ông biết như thế nào, này Sāriputta, ông thấy như thế nào mà ông tuyên bố trí đã được chứng đắc: 'Ta biết sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui lại trạng thái này nữa?'” Ðược hỏi vậy, này Sāriputta, ông trả lời như thế nào?
Vi-n 15 —Nếu họ có hỏi con, bạch Thế Tôn: “Hiền giả biết như thế nào, này Hiền giả Sāriputta, Hiền giả thấy như thế nào mà tuyên bố trí đã được chứng đắc: 'Ta đã biết, sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa?'” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:
Vi-n 16 “Vì rằng này Hiền giả, trong (danh từ) tận diệt, ta hiểu được là sự tận diệt của nhân, chính do nhân ấy sanh sanh khởi. Sau khi hiểu được nghĩa tận diệt trong (danh từ) tận diệt, ta mới biết: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'”
Ðược hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 17 —Này Sāriputta, nếu ông được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, sanh lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi như vậy, này Sāriputta, ông trả lời như thế nào?
Vi-n 18 —Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, sanh lấy gì làm nhân… (như trên)… lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau: “Sanh lấy hữu làm nhân, lấy hữu tập khởi, lấy hữu tác sanh, lấy hữu làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 19 —Này Sāriputta, nếu ông được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, hữu lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy này Sāriputta, ông trả lời như thế nào?
Vi-n 20 —Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, hữu lấy gì làm nhân… lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau: “Hữu lấy thủ làm nhân, lấy thủ tập khởi, lấy thủ tác sanh, lấy thủ làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 21 —Này Sāriputta, nếu ông được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, thủ lấy gì làm nhân… (như trên)…”
Vi-n 22-23 —Và này Sāriputta, nếu ông được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, ái lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, này Sāriputta, ông trả lời như thế nào?
Vi-n 24 —Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, ái lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì hiện hữu?”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: “Này Hiền giả, ái lấy thọ làm nhân, lấy thọ tập khởi, lấy thọ tác sanh, lấy thọ làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 25 —Này Sāriputta, nếu ông được hỏi: “Làm sao, này Hiền giả Sāriputta, Hiền giả biết như thế nào, Hiền giả thấy như thế nào, cảm thọ diệu lạc ấy không tồn tại?” Ðược hỏi vậy, này Sāriputta, ông trả lời như thế nào?
Vi-n 26 —Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, Hiền giả biết như thế nào, Hiền giả thấy như thế nào, cảm thọ diệu lạc không tồn tại?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:
Vi-n 27 “Này Hiền giả, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ. Này Hiền giả, ba cảm thọ này vô thường, khi biết được cái gì vô thường là khổ, thời cảm thọ diệu lạc ấy không tồn tại”.
Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 28 —Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Pháp môn (phương tiện) này, này Sāriputta, có thể trả lời tóm tắt như sau: Cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ.
Vi-n 29 —Này Sāriputta, nếu ông được hỏi: “Hiền giả được giải thoát như thế nào, này Hiền giả Sāriputta, mà Hiền giả tuyên bố trí đã được chứng đắc: 'Ta biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'?” Ðược hỏi vậy, này Sāriputta, ông trả lời như thế nào?
Vi-n 30 —Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Hiền giả được giải thoát như thế nào, này Hiền giả Sāriputta, mà Hiền giả tuyên bố trí đã được chứng đắc: 'Ta biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:
Vi-n 31 “Do tự giải thoát, chư Hiền giả, do đoạn diệt tất cả chấp thủ, ta sống an trú chánh niệm như vậy. Nhờ sống an trú chánh niệm như vậy, các lậu hoặc không còn tiếp tục rỉ chảy, và ta không chấp nhận tự ngã”.
Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 32 —Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Pháp môn (phương tiện) này, này Sāriputta, có thể trả lời tóm tắt như sau: Những cái gì được vị Sa-môn gọi là lậu hoặc, ta không còn nghi ngờ gì nữa, chúng đã được ta diệt tận. Ta không còn phân vân gì nữa.
Vi-n 33 Nói vậy xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.
III
Vi-n 34 Rồi Tôn giả Sāriputta, sau khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, liền bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 35 —Này chư Hiền giả, Thế Tôn hỏi ta câu hỏi thứ nhất mà ta chưa được biết trước, lúc ấy trí ta còn chậm chạp. Nhưng này chư Hiền giả, khi Thế Tôn tùy hỷ trả lời câu hỏi thứ nhất của ta, ta suy nghĩ như sau:
Vi-n 36 “Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác.
Vi-n 37 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn đêm với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn đêm với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác.
Vi-n 38 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn đêm và trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn đêm và trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác.
Vi-n 39 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn hai đêm hai ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn hai đêm hai ngày.
Vi-n 40 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn ba đêm ba ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn ba đêm ba ngày.
Vi-n 41 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn bốn đêm bốn ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn bốn đêm bốn ngày.
Vi-n 42 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn năm đêm năm ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn năm đêm năm ngày.
Vi-n 43 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn sáu đêm sáu ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn sáu đêm sáu ngày.
Vi-n 44 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác”.
IV
Vi-n 45 Rồi Tỷ-kheo Kaḷāra Khattiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 46 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kaḷāra Khattiya bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta đã rống lên tiếng rống con sư tử như sau: Này chư Hiền giả, Thế Tôn hỏi ta câu hỏi thứ nhất, mà ta chưa được biết trước, lúc ấy trí ta còn chậm chạp. Nhưng này chư Hiền giả, khi Thế Tôn tùy hỷ trả lời câu hỏi thứ nhất của ta, ta suy nghĩ như sau: “Nếu Thế Tôn hỏi ta về ý nghĩa này trọn ngày với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác. Nếu Thế Tôn hỏi ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm… cho đến trọn đêm và trọn ngày… cho đến trọn ba… trọn bốn…, cho đến trọn năm… trọn sáu… trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác”.
Vi-n 47 —Này các Tỷ-kheo, pháp giới ấy (Dhammadhātu) được Sāriputta khéo thành đạt. Do khéo thành đạt pháp giới ấy, nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này trọn ngày với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, thời Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn ngày, với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, thời Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm và trọn ngày, Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm và trọn ngày. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn cả hai đêm và hai ngày, Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn cả hai đêm hai ngày. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn cả ba đêm ba ngày, Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến cả ba đêm ba ngày. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn bốn đêm bốn ngày, Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến bốn đêm bốn ngày. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn năm đêm năm ngày, Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn năm đêm năm ngày. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn sáu đêm sáu ngày, Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn sáu đêm sáu ngày. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác, Sāriputta có thể trả lời cho Ta về ý nghĩa ấy cho đến trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác.
Sāvatthiyaṁ viharati.
Atha kho kaḷārakhattiyo bhikkhu yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kaḷārakhattiyo bhikkhu āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“moḷiyaphagguno, āvuso sāriputta, bhikkhu sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvatto”ti.
“Na hi nūna so āyasmā imasmiṁ dhammavinaye assāsamalatthā”ti.
“Tena hāyasmā sāriputto imasmiṁ dhammavinaye assāsaṁ patto”ti?
“Na khvāhaṁ, āvuso, kaṅkhāmī”ti.
“Āyatiṁ, panāvuso”ti?
“Na khvāhaṁ, āvuso, vicikicchāmī”ti.
Atha kho kaḷārakhattiyo bhikkhu uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kaḷārakhattiyo bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“āyasmatā, bhante, sāriputtena aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena sāriputtaṁ āmantehi:
‘satthā taṁ, āvuso sāriputta, āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“satthā taṁ, āvuso sāriputta, āmantetī”ti.
“Evaṁ, āvuso”ti kho āyasmā sāriputto tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ sāriputtaṁ bhagavā etadavoca:
“saccaṁ kira tayā, sāriputta, aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti?
“Na kho, bhante, etehi padehi etehi byañjanehi attho vutto”ti.
“Yena kenacipi, sāriputta, pariyāyena kulaputto aññaṁ byākaroti, atha kho byākataṁ byākatato daṭṭhabban”ti.
“Nanu ahampi, bhante, evaṁ vadāmi:
‘na kho, bhante, etehi padehi etehi byañjanehi attho vutto’”ti.
“Sace taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘kathaṁ jānatā pana tayā, āvuso sāriputta, kathaṁ passatā aññā byākatā—
khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, sāriputta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘kathaṁ jānatā pana tayā, āvuso sāriputta, kathaṁ passatā aññā byākatā—
khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti;
evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘yaṁnidānā, āvuso, jāti, tassa nidānassa khayā khīṇasmiṁ khīṇāmhīti viditaṁ.
Khīṇāmhīti viditvā—
khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sace pana taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘jāti panāvuso sāriputta, kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā’ti?
Evaṁ puṭṭho taṁ, sāriputta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘jāti panāvuso sāriputta, kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā’ti?
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘jāti kho, āvuso, bhavanidānā bhavasamudayā bhavajātikā bhavappabhavā’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sace pana taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘bhavo panāvuso sāriputta, kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo’ti?
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, sāriputta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘bhavo panāvuso sāriputta, kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo’ti?
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘bhavo kho, āvuso, upādānanidāno upādānasamudayo upādānajātiko upādānappabhavo’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sace pana taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘upādānaṁ panāvuso …pe…
sace pana taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ—
taṇhā panāvuso sāriputta, kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā’ti?
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, sāriputta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘taṇhā panāvuso sāriputta, kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā’ti?
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘taṇhā kho, āvuso, vedanānidānā vedanāsamudayā vedanājātikā vedanāpabhavā’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sace pana taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘kathaṁ jānato pana te, āvuso sāriputta, kathaṁ passato yā vedanāsu nandī sā na upaṭṭhāsī’ti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, sāriputta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘kathaṁ jānato pana te, āvuso sāriputta, kathaṁ passato yā vedanāsu nandī sā na upaṭṭhāsī’ti evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘tisso kho imā, āvuso, vedanā.
Katamā tisso?
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Imā kho, āvuso, tisso vedanā aniccā.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhanti
viditaṁ, yā vedanāsu nandī sā na upaṭṭhāsī’ti.
Evaṁ, puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Ayampi kho, sāriputta, pariyāyo, etasseva atthassa saṅkhittena veyyākaraṇāya:
‘yaṁ kiñci vedayitaṁ taṁ dukkhasmin’”ti.
“Sace pana taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘kathaṁ vimokkhā pana tayā, āvuso sāriputta, aññā byākatā—
khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti?
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, sāriputta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘kathaṁ vimokkhā pana tayā, āvuso sāriputta, aññā byākatā—
khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘ajjhattaṁ vimokkhā khvāhaṁ, āvuso, sabbupādānakkhayā tathā sato viharāmi yathā sataṁ viharantaṁ āsavā nānussavanti, attānañca nāvajānāmī’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Ayampi kho sāriputta, pariyāyo etasseva atthassa saṅkhittena veyyākaraṇāya—
ye āsavā samaṇena vuttā tesvāhaṁ na kaṅkhāmi, te me pahīnāti na vicikicchāmī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvā sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Tatra kho āyasmā sāriputto acirapakkantassa bhagavato bhikkhū āmantesi:
“pubbe appaṭisaṁviditaṁ maṁ, āvuso, bhagavā paṭhamaṁ pañhaṁ apucchi, tassa me ahosi dandhāyitattaṁ.
Yato ca kho me, āvuso, bhagavā paṭhamaṁ pañhaṁ anumodi, tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi—
divasañcepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, divasampāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi.
Rattiñcepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, rattimpāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi.
Rattindivaṁ cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, rattindivampāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi.
Dve rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya …pe…
dve rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ …pe…
tīṇi rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya …pe…
tīṇi rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ …pe…
cattāri rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya …pe…
cattāri rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ …pe…
pañca rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya …pe…
pañca rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ …pe…
cha rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya …pe…
cha rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ …pe…
satta rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, satta rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehī”ti.
Atha kho kaḷārakhattiyo bhikkhu uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kaḷārakhattiyo bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“āyasmatā, bhante, sāriputtena sīhanādo nadito—
pubbe appaṭisaṁviditaṁ maṁ, āvuso, bhagavā paṭhamaṁ pañhaṁ apucchi, tassa me ahosi dandhāyitattaṁ.
Yato ca kho me, āvuso, bhagavā paṭhamaṁ pañhaṁ anumodi, tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi—
divasañcepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, divasampāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi;
rattiñcepi …pe…
rattindivañcepi maṁ bhagavā …pe…
dve rattindivāni cepi maṁ bhagavā …pe…
tīṇi …
cattāri …
pañca …
cha …
satta rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, satta rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehī”ti.
“Sā hi, bhikkhu, sāriputtassa dhammadhātu suppaṭividdhā, yassā dhammadhātuyā suppaṭividdhattā divasaṁ cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, divasampi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi.
Rattiṁ cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, rattimpi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …pe…
rattindivaṁ cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ, rattindivampi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …
dve rattindivāni cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ, dve rattindivānipi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …
tīṇi rattindivāni cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ, tīṇi rattindivānipi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …
cattāri rattindivāni cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ, cattāri rattindivānipi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …
pañca rattindivāni cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ, pañca rattindivānipi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …
cha rattindivāni cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ, cha rattindivānipi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …
satta rattindivāni cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, satta rattindivānipi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehī”ti.
Dutiyaṁ.
At Savatthī.
i
SC 1Then the bhikkhu Kaḷara the Khattiya approached the Venerable Sāriputta and exchanged greetings with him. When they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to the Venerable Sāriputta: “Friend Sāriputta, the bhikkhu Moḷiyaphagguna has abandoned the training and returned to the lower life.”
SC 2“Then surely that venerable did not find solace in this Dhamma and Discipline.”
SC 3“Well then, has the Venerable Sāriputta attained solace in this Dhamma and Discipline?”
“I have no perplexity, friend.”
“But as to the future, friend?”
“I have no doubt, friend.”
SC 4Then the bhikkhu Kaḷara the Khattiya rose from his seat and approached the Blessed One. Having approached, he paid homage to the Blessed One, sat down to one side, sn.ii.51 and said to him: “Venerable sir, the Venerable Sāriputta has declared final knowledge thus: ‘I understand: Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’”
SC 5Then the Blessed One addressed a certain bhikkhu thus: “Come, bhikkhu, tell Sāriputta in my name that the Teacher calls him.”
SC 6“Yes, venerable sir,” that bhikkhu replied, and he went to the Venerable Sāriputta and told him: “The Teacher calls you, friend Sāriputta.”
SC 7“Yes, friend,” the Venerable Sāriputta replied, and he approached the Blessed One, paid homage to him, and sat down to one side. The Blessed One then said to him: “Is it true, Sāriputta, that you have declared final knowledge thus: ‘I understand: Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being’?”
SC 8“Venerable sir, I did not state the matter in those terms and phrases.”
SC 9“In whatever way, Sāriputta, a clansman declares final knowledge, what he has declared should be understood as such.”
SC 10“Venerable sir, didn’t I too speak thus: ‘Venerable sir, I did not state the matter in those terms and phrases’?”
SC 11“If, Sāriputta, they were to ask you: ‘Friend Sāriputta, how have you known, how have you seen, that you have declared final knowledge thus: ‘I understand: Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being’—being asked thus, how would you answer?”
SC 12“If they were to ask me this, venerable sir, sn.ii.52 I would answer thus: ‘With the destruction of the source from which birth originates, I have understood: “When the cause is destroyed, the effect is destroyed.” Having understood this, I understand: Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’ Being asked thus, venerable sir, I would answer in such a way.”
SC 13“But, Sāriputta, if they were to ask you: ‘But, friend Sāriputta, what is the source of birth, what is its origin, from what is it born and produced?’—being asked thus, how would you answer?”
SC 14“If they were to ask me this, venerable sir, I would answer thus: ‘Birth, friends, has existence has its source, existence as its origin; it is born and produced from existence.’ Being asked thus, venerable sir, I would answer in such a way.”
SC 15“But, Sāriputta, if they were to ask you: ‘But, friend Sāriputta, what is the source of existence…?’—being asked thus, how would you answer?”
SC 16“If they were to ask me this, venerable sir, I would answer thus: ‘Existence, friends, has clinging as its source….’”
SC 17“But, Sāriputta, if they were to ask you: ‘But, friend Sāriputta, what is the source of clinging…? What is the source of craving, what is its origin, from what is it born and produced?’—being asked thus, how would you answer?” sn.ii.53
SC 18“If they were to ask me this, venerable sir, I would answer thus: ‘Craving, friends, has feeling as its source, feeling as its origin; it is born and produced from feeling.’ Being asked thus, venerable sir, I would answer in such a way.”
SC 19“But, Sāriputta, if they were to ask you: ‘Friend Sāriputta, how have you known, how have you seen, that delight in feelings no longer remains present in you?’—being asked thus, how would you answer?”
SC 20“If they were to ask me this, venerable sir, I would answer thus: ‘Friends, there are these three feelings. What three? Pleasant feeling, painful feeling, neither-painful-nor-pleasant feeling. These three feelings, friends, are impermanent; whatever is impermanent is suffering. When this was understood, delight in feelings no longer remained present in me.’ Being asked thus, venerable sir, I would answer in such a way.”
SC 21“Good, good, Sāriputta! This is another method of explaining in brief that same point: ‘Whatever is felt is included within suffering. ’ But, Sāriputta, if they were to ask you: ‘Friend Sāriputta, through what kind of deliverance have you declared final knowledge thus: “I understand: Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being”?’—being asked thus, how would you answer?”
SC 22“If they were to ask me this, venerable sir, I would answer thus: sn.ii.54 ‘Friends, through an internal deliverance, through the destruction of all clinging, I dwell mindfully in such a way that the taints do not flow within me and I do not despise myself.’ Being asked thus, venerable sir, I would answer in such a way.”
SC 23“Good, good, Sāriputta! This is another method of explaining in brief that same point: ‘I have no perplexity in regard to the taints spoken of by the Ascetic; I do not doubt that they have been abandoned by me.’”
SC 24This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One rose from his seat and entered his dwelling.
ii
SC 25Then, soon after the Blessed One had departed, the Venerable Sāriputta addressed the bhikkhus thus:
SC 26“Friends, the first question that the Blessed One asked me had not been previously considered by me: thus I hesitated over it. But when the Blessed One approved of my answer, it occurred to me: ‘If the Blessed One were to question me about this matter with various terms and with various methods for a whole day, for a whole day I would be able to answer him with various terms and with various methods. If he were to question me about this matter with various terms and with various methods for a whole night, for a day and night, sn.ii.55 for two days and nights, for three, four, five, six, or seven days and nights—for seven days and nights I would be able to answer him with various terms and with various methods.’”
SC 27Then the bhikkhu Kaḷara the Khattiya rose from his seat and approached the Blessed One. Having approached, he paid homage to the Blessed One, sat down to one side, and said to him: “Venerable sir, the Venerable Sāriputta has roared his lion’s roar thus: ‘Friends, the first question that the Blessed One asked me had not been previously considered by me: thus I hesitated over it. But when the Blessed One approved of my answer, it occurred to me: “If the Blessed One were to question me about this matter for up to seven days and nights, sn.ii.56 for up to seven days and nights I would be able to answer him with various terms and with various methods.”’”
SC 28“Bhikkhu, the Venerable Sāriputta has thoroughly penetrated that element of the Dhamma by the thorough penetration of which, if I were to question him about that matter with various terms and with various methods for up to seven days and nights, for up to seven days and nights he would be able to answer me with various terms and with various methods.”
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
I
Vi-n 2 Rồi Tỷ-kheo Kaḷāra Khattiya (dòng Sát-đế-lỵ) đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kaḷāra Khattiya nói với Tôn giả Sāriputta:
—Này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo Moḷiyaphagguṇa đã từ bỏ học tập và hoàn tục.
—Vậy vị Tôn giả ấy, không tìm được sự an ủi trong Pháp và Luật này?
Vi-n 4 —Vậy Tôn giả Sāriputta đã đạt được sự an ủi trong Pháp và Luật này?
—Này Hiền giả, tôi không có nghi ngờ gì!
Vi-n 5 —Này Hiền giả, còn đối với tương lai?
—Tôi không có băn khoăn, này Hiền giả.
Vi-n 6 Rồi Tỷ-kheo Kaḷāra Khattiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 7 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kaḷāra Khattiya bạch Thế Tôn:
—Con được biết, bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta tuyên bố được chánh trí như sau: “Sanh đã tận; Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm; không còn trở lại trạng thái này nữa”.
Vi-n 8 Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
—Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, gọi Sāriputta: “Hiền giả Sāriputta, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.
Vi-n 9 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói với Tôn giả Sāriputta: “Bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả”.
Vi-n 10 —Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Sāriputta vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
II
Vi-n 11 Thế Tôn nói với Tôn giả Sāriputta đang ngồi một bên:
—Này Sāriputta, có đúng sự thật chăng là ông có tuyên bố đã chứng được chánh trí: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”?
—Bạch Thế Tôn, không phải với những câu ấy, với những chữ ấy, ý nghĩa ấy được con nói đến như vậy.
Vi-n 12 —Vậy với pháp môn nào, này Sāriputta, Thiện nam tử nói đến sự chứng đắc trí, lời tuyên bố cần phải được xem đúng như lời tuyên bố.
Vi-n 13 —Bạch Thế Tôn, chính con đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, không phải với những câu ấy, với những chữ ấy, ý nghĩa ấy được con nói đến như vậy”.
Vi-n 14 —Nếu họ có hỏi ông, này Sāriputta: “ông biết như thế nào, này Sāriputta, ông thấy như thế nào mà ông tuyên bố trí đã được chứng đắc: 'Ta biết sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui lại trạng thái này nữa?'” Ðược hỏi vậy, này Sāriputta, ông trả lời như thế nào?
Vi-n 15 —Nếu họ có hỏi con, bạch Thế Tôn: “Hiền giả biết như thế nào, này Hiền giả Sāriputta, Hiền giả thấy như thế nào mà tuyên bố trí đã được chứng đắc: 'Ta đã biết, sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa?'” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:
Vi-n 16 “Vì rằng này Hiền giả, trong (danh từ) tận diệt, ta hiểu được là sự tận diệt của nhân, chính do nhân ấy sanh sanh khởi. Sau khi hiểu được nghĩa tận diệt trong (danh từ) tận diệt, ta mới biết: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'”
Ðược hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 17 —Này Sāriputta, nếu ông được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, sanh lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi như vậy, này Sāriputta, ông trả lời như thế nào?
Vi-n 18 —Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, sanh lấy gì làm nhân… (như trên)… lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau: “Sanh lấy hữu làm nhân, lấy hữu tập khởi, lấy hữu tác sanh, lấy hữu làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 19 —Này Sāriputta, nếu ông được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, hữu lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy này Sāriputta, ông trả lời như thế nào?
Vi-n 20 —Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, hữu lấy gì làm nhân… lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau: “Hữu lấy thủ làm nhân, lấy thủ tập khởi, lấy thủ tác sanh, lấy thủ làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 21 —Này Sāriputta, nếu ông được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, thủ lấy gì làm nhân… (như trên)…”
Vi-n 22-23 —Và này Sāriputta, nếu ông được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, ái lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, này Sāriputta, ông trả lời như thế nào?
Vi-n 24 —Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, ái lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì hiện hữu?”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: “Này Hiền giả, ái lấy thọ làm nhân, lấy thọ tập khởi, lấy thọ tác sanh, lấy thọ làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 25 —Này Sāriputta, nếu ông được hỏi: “Làm sao, này Hiền giả Sāriputta, Hiền giả biết như thế nào, Hiền giả thấy như thế nào, cảm thọ diệu lạc ấy không tồn tại?” Ðược hỏi vậy, này Sāriputta, ông trả lời như thế nào?
Vi-n 26 —Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sāriputta, Hiền giả biết như thế nào, Hiền giả thấy như thế nào, cảm thọ diệu lạc không tồn tại?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:
Vi-n 27 “Này Hiền giả, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ. Này Hiền giả, ba cảm thọ này vô thường, khi biết được cái gì vô thường là khổ, thời cảm thọ diệu lạc ấy không tồn tại”.
Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 28 —Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Pháp môn (phương tiện) này, này Sāriputta, có thể trả lời tóm tắt như sau: Cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ.
Vi-n 29 —Này Sāriputta, nếu ông được hỏi: “Hiền giả được giải thoát như thế nào, này Hiền giả Sāriputta, mà Hiền giả tuyên bố trí đã được chứng đắc: 'Ta biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'?” Ðược hỏi vậy, này Sāriputta, ông trả lời như thế nào?
Vi-n 30 —Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Hiền giả được giải thoát như thế nào, này Hiền giả Sāriputta, mà Hiền giả tuyên bố trí đã được chứng đắc: 'Ta biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:
Vi-n 31 “Do tự giải thoát, chư Hiền giả, do đoạn diệt tất cả chấp thủ, ta sống an trú chánh niệm như vậy. Nhờ sống an trú chánh niệm như vậy, các lậu hoặc không còn tiếp tục rỉ chảy, và ta không chấp nhận tự ngã”.
Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 32 —Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Pháp môn (phương tiện) này, này Sāriputta, có thể trả lời tóm tắt như sau: Những cái gì được vị Sa-môn gọi là lậu hoặc, ta không còn nghi ngờ gì nữa, chúng đã được ta diệt tận. Ta không còn phân vân gì nữa.
Vi-n 33 Nói vậy xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.
III
Vi-n 34 Rồi Tôn giả Sāriputta, sau khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, liền bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 35 —Này chư Hiền giả, Thế Tôn hỏi ta câu hỏi thứ nhất mà ta chưa được biết trước, lúc ấy trí ta còn chậm chạp. Nhưng này chư Hiền giả, khi Thế Tôn tùy hỷ trả lời câu hỏi thứ nhất của ta, ta suy nghĩ như sau:
Vi-n 36 “Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác.
Vi-n 37 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn đêm với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn đêm với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác.
Vi-n 38 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn đêm và trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn đêm và trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác.
Vi-n 39 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn hai đêm hai ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn hai đêm hai ngày.
Vi-n 40 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn ba đêm ba ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn ba đêm ba ngày.
Vi-n 41 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn bốn đêm bốn ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn bốn đêm bốn ngày.
Vi-n 42 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn năm đêm năm ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn năm đêm năm ngày.
Vi-n 43 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn sáu đêm sáu ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn sáu đêm sáu ngày.
Vi-n 44 Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác”.
IV
Vi-n 45 Rồi Tỷ-kheo Kaḷāra Khattiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 46 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kaḷāra Khattiya bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta đã rống lên tiếng rống con sư tử như sau: Này chư Hiền giả, Thế Tôn hỏi ta câu hỏi thứ nhất, mà ta chưa được biết trước, lúc ấy trí ta còn chậm chạp. Nhưng này chư Hiền giả, khi Thế Tôn tùy hỷ trả lời câu hỏi thứ nhất của ta, ta suy nghĩ như sau: “Nếu Thế Tôn hỏi ta về ý nghĩa này trọn ngày với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác. Nếu Thế Tôn hỏi ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm… cho đến trọn đêm và trọn ngày… cho đến trọn ba… trọn bốn…, cho đến trọn năm… trọn sáu… trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác”.
Vi-n 47 —Này các Tỷ-kheo, pháp giới ấy (Dhammadhātu) được Sāriputta khéo thành đạt. Do khéo thành đạt pháp giới ấy, nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này trọn ngày với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, thời Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn ngày, với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, thời Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm và trọn ngày, Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm và trọn ngày. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn cả hai đêm và hai ngày, Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn cả hai đêm hai ngày. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn cả ba đêm ba ngày, Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến cả ba đêm ba ngày. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn bốn đêm bốn ngày, Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến bốn đêm bốn ngày. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn năm đêm năm ngày, Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn năm đêm năm ngày. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này cho đến trọn sáu đêm sáu ngày, Sāriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn sáu đêm sáu ngày. Nếu Ta hỏi Sāriputta về ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác, Sāriputta có thể trả lời cho Ta về ý nghĩa ấy cho đến trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác.
Sāvatthiyaṁ viharati.
Atha kho kaḷārakhattiyo bhikkhu yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kaḷārakhattiyo bhikkhu āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“moḷiyaphagguno, āvuso sāriputta, bhikkhu sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvatto”ti.
“Na hi nūna so āyasmā imasmiṁ dhammavinaye assāsamalatthā”ti.
“Tena hāyasmā sāriputto imasmiṁ dhammavinaye assāsaṁ patto”ti?
“Na khvāhaṁ, āvuso, kaṅkhāmī”ti.
“Āyatiṁ, panāvuso”ti?
“Na khvāhaṁ, āvuso, vicikicchāmī”ti.
Atha kho kaḷārakhattiyo bhikkhu uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kaḷārakhattiyo bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“āyasmatā, bhante, sāriputtena aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena sāriputtaṁ āmantehi:
‘satthā taṁ, āvuso sāriputta, āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“satthā taṁ, āvuso sāriputta, āmantetī”ti.
“Evaṁ, āvuso”ti kho āyasmā sāriputto tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ sāriputtaṁ bhagavā etadavoca:
“saccaṁ kira tayā, sāriputta, aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti?
“Na kho, bhante, etehi padehi etehi byañjanehi attho vutto”ti.
“Yena kenacipi, sāriputta, pariyāyena kulaputto aññaṁ byākaroti, atha kho byākataṁ byākatato daṭṭhabban”ti.
“Nanu ahampi, bhante, evaṁ vadāmi:
‘na kho, bhante, etehi padehi etehi byañjanehi attho vutto’”ti.
“Sace taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘kathaṁ jānatā pana tayā, āvuso sāriputta, kathaṁ passatā aññā byākatā—
khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, sāriputta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘kathaṁ jānatā pana tayā, āvuso sāriputta, kathaṁ passatā aññā byākatā—
khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti;
evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘yaṁnidānā, āvuso, jāti, tassa nidānassa khayā khīṇasmiṁ khīṇāmhīti viditaṁ.
Khīṇāmhīti viditvā—
khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sace pana taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘jāti panāvuso sāriputta, kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā’ti?
Evaṁ puṭṭho taṁ, sāriputta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘jāti panāvuso sāriputta, kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā’ti?
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘jāti kho, āvuso, bhavanidānā bhavasamudayā bhavajātikā bhavappabhavā’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sace pana taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘bhavo panāvuso sāriputta, kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo’ti?
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, sāriputta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘bhavo panāvuso sāriputta, kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo’ti?
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘bhavo kho, āvuso, upādānanidāno upādānasamudayo upādānajātiko upādānappabhavo’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sace pana taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘upādānaṁ panāvuso …pe…
sace pana taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ—
taṇhā panāvuso sāriputta, kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā’ti?
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, sāriputta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘taṇhā panāvuso sāriputta, kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā’ti?
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘taṇhā kho, āvuso, vedanānidānā vedanāsamudayā vedanājātikā vedanāpabhavā’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sace pana taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘kathaṁ jānato pana te, āvuso sāriputta, kathaṁ passato yā vedanāsu nandī sā na upaṭṭhāsī’ti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, sāriputta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘kathaṁ jānato pana te, āvuso sāriputta, kathaṁ passato yā vedanāsu nandī sā na upaṭṭhāsī’ti evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘tisso kho imā, āvuso, vedanā.
Katamā tisso?
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Imā kho, āvuso, tisso vedanā aniccā.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhanti
viditaṁ, yā vedanāsu nandī sā na upaṭṭhāsī’ti.
Evaṁ, puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Ayampi kho, sāriputta, pariyāyo, etasseva atthassa saṅkhittena veyyākaraṇāya:
‘yaṁ kiñci vedayitaṁ taṁ dukkhasmin’”ti.
“Sace pana taṁ, sāriputta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘kathaṁ vimokkhā pana tayā, āvuso sāriputta, aññā byākatā—
khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti?
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, sāriputta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘kathaṁ vimokkhā pana tayā, āvuso sāriputta, aññā byākatā—
khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘ajjhattaṁ vimokkhā khvāhaṁ, āvuso, sabbupādānakkhayā tathā sato viharāmi yathā sataṁ viharantaṁ āsavā nānussavanti, attānañca nāvajānāmī’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Ayampi kho sāriputta, pariyāyo etasseva atthassa saṅkhittena veyyākaraṇāya—
ye āsavā samaṇena vuttā tesvāhaṁ na kaṅkhāmi, te me pahīnāti na vicikicchāmī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvā sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Tatra kho āyasmā sāriputto acirapakkantassa bhagavato bhikkhū āmantesi:
“pubbe appaṭisaṁviditaṁ maṁ, āvuso, bhagavā paṭhamaṁ pañhaṁ apucchi, tassa me ahosi dandhāyitattaṁ.
Yato ca kho me, āvuso, bhagavā paṭhamaṁ pañhaṁ anumodi, tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi—
divasañcepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, divasampāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi.
Rattiñcepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, rattimpāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi.
Rattindivaṁ cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, rattindivampāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi.
Dve rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya …pe…
dve rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ …pe…
tīṇi rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya …pe…
tīṇi rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ …pe…
cattāri rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya …pe…
cattāri rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ …pe…
pañca rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya …pe…
pañca rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ …pe…
cha rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya …pe…
cha rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ …pe…
satta rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, satta rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehī”ti.
Atha kho kaḷārakhattiyo bhikkhu uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kaḷārakhattiyo bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“āyasmatā, bhante, sāriputtena sīhanādo nadito—
pubbe appaṭisaṁviditaṁ maṁ, āvuso, bhagavā paṭhamaṁ pañhaṁ apucchi, tassa me ahosi dandhāyitattaṁ.
Yato ca kho me, āvuso, bhagavā paṭhamaṁ pañhaṁ anumodi, tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi—
divasañcepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, divasampāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi;
rattiñcepi …pe…
rattindivañcepi maṁ bhagavā …pe…
dve rattindivāni cepi maṁ bhagavā …pe…
tīṇi …
cattāri …
pañca …
cha …
satta rattindivāni cepi maṁ bhagavā etamatthaṁ puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, satta rattindivānipāhaṁ bhagavato etamatthaṁ byākareyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehī”ti.
“Sā hi, bhikkhu, sāriputtassa dhammadhātu suppaṭividdhā, yassā dhammadhātuyā suppaṭividdhattā divasaṁ cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, divasampi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi.
Rattiṁ cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, rattimpi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …pe…
rattindivaṁ cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ, rattindivampi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …
dve rattindivāni cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ, dve rattindivānipi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …
tīṇi rattindivāni cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ, tīṇi rattindivānipi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …
cattāri rattindivāni cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ, cattāri rattindivānipi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …
pañca rattindivāni cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ, pañca rattindivānipi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …
cha rattindivāni cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ, cha rattindivānipi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya …
satta rattindivāni cepāhaṁ sāriputtaṁ etamatthaṁ puccheyyaṁ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, satta rattindivānipi me sāriputto etamatthaṁ byākareyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehī”ti.
Dutiyaṁ.