Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, ví như các con sông lớn này, cùng nhau đồng chảy, cùng nhau hợp dòng, như sông Gangà (sông Hằng), sông Yamunà, sông Aciravatii, sông Sarabhuu, sông Mahii. Từ chỗ các hợp dòng ấy, một người lấy lên hai hay ba giọt nước. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, hai hay ba giọt nước được lấy lên, hay là nước ở chỗ hợp dòng?
Vi-n 3 —Chính cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là nước ở chỗ hợp dòng; ít hơn là hai ba giọt nước được lấy lên; không phải một trăm lần, không phải một ngàn lần, không phải một trăm ngàn lần, có thể sánh bằng khi so sánh nước ở chỗ hợp dòng với hai hay ba giọt nước được lấy lên.
Vi-n 4 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo … (như trên) …
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Seyyathāpi, bhikkhave, yatthimā mahānadiyo saṁsandanti samenti, seyyathidaṁ—
gaṅgā yamunā aciravatī sarabhū mahī, tato puriso dve vā tīṇi vā udakaphusitāni uddhareyya.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
katamaṁ nu kho bahutaraṁ, yāni vā dve vā tīṇi vā udakaphusitāni ubbhatāni yaṁ vā sambhejjaudakan”ti?
“Etadeva, bhante, bahutaraṁ yadidaṁ sambhejjaudakaṁ;
appamattakāni dve vā tīṇi vā udakaphusitāni ubbhatāni.
Neva satimaṁ kalaṁ upenti na sahassimaṁ kalaṁ upenti na satasahassimaṁ kalaṁ upenti sambhejjaudakaṁ upanidhāya dve vā tīṇi vā udakaphusitāni ubbhatānī”ti.
“Evameva kho, bhikkhave …pe…
dhammacakkhupaṭilābho”ti.
Tatiyaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, there are places where the great rivers—the Ganges, Yamuna, Aciravatī, Sarabhū, and Mahī—join together and converge.
Suppose a person was to draw two or three drops of water from such a place.
What do you think, mendicants?
Which is more: the two or three drops drawn out or the water in the confluence?”
“Sir, the water in the confluence is certainly more.
The two or three drops drawn out are tiny.
Compared to the water in the confluence, it’s not nearly a hundredth, a thousandth, or a hundred thousandth part.”
“In the same way, for a noble disciple, the suffering that’s over and done with is more …”
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, ví như các con sông lớn này, cùng nhau đồng chảy, cùng nhau hợp dòng, như sông Gangà (sông Hằng), sông Yamunà, sông Aciravatii, sông Sarabhuu, sông Mahii. Từ chỗ các hợp dòng ấy, một người lấy lên hai hay ba giọt nước. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, hai hay ba giọt nước được lấy lên, hay là nước ở chỗ hợp dòng?
Vi-n 3 —Chính cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là nước ở chỗ hợp dòng; ít hơn là hai ba giọt nước được lấy lên; không phải một trăm lần, không phải một ngàn lần, không phải một trăm ngàn lần, có thể sánh bằng khi so sánh nước ở chỗ hợp dòng với hai hay ba giọt nước được lấy lên.
Vi-n 4 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo … (như trên) …
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Seyyathāpi, bhikkhave, yatthimā mahānadiyo saṁsandanti samenti, seyyathidaṁ—
gaṅgā yamunā aciravatī sarabhū mahī, tato puriso dve vā tīṇi vā udakaphusitāni uddhareyya.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
katamaṁ nu kho bahutaraṁ, yāni vā dve vā tīṇi vā udakaphusitāni ubbhatāni yaṁ vā sambhejjaudakan”ti?
“Etadeva, bhante, bahutaraṁ yadidaṁ sambhejjaudakaṁ;
appamattakāni dve vā tīṇi vā udakaphusitāni ubbhatāni.
Neva satimaṁ kalaṁ upenti na sahassimaṁ kalaṁ upenti na satasahassimaṁ kalaṁ upenti sambhejjaudakaṁ upanidhāya dve vā tīṇi vā udakaphusitāni ubbhatānī”ti.
“Evameva kho, bhikkhave …pe…
dhammacakkhupaṭilābho”ti.
Tatiyaṁ.