Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Ðông Viên, Lộc Mẫu giảng đường, cùng với đại chúng Tỷ-kheo.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày lễ Bố-tát, ngày rằm, đêm trăng tròn, giữa trời, có chúng Tỷ-kheo đoanh vây.
Vi-n 3 Rồi có Tỷ-kheo, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề, nếu Thế Tôn cho phép, và trả lời câu hỏi của con.
—Này Tỷ-kheo, hãy ngồi tại chỗ và hỏi theo ý Ông muốn.
Vi-n 4 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, ngồi tại chỗ ngồi của mình và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này: tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn?
—Này Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn … thức thủ uẩn.
Vi-n 5 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, rồi hỏi thêm Thế Tôn một câu khác:
—Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này lấy gì làm căn bản?
—Này Tỷ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn bản.
Vi-n 6 —Lành thay, bạch Thế Tôn …
—Bạch Thế Tôn, chấp thủ ấy là năm thủ uẩn ấy hay chấp thủ ngoài năm thủ uẩn?
—Này Tỷ-kheo, chấp thủ ấy không tức là năm thủ uẩn ấy và chấp thủ cũng không phải ngoài năm thủ uẩn. Nhưng chỗ nào có tham và dục, chỗ ấy có chấp thủ.
Vi-n 7 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác:
—Có thể chăng, bạch Thế Tôn, trong năm thủ uẩn, có sự sai khác về dục và tham?
Thế Tôn đáp:
—Có thể có, này Tỷ-kheo.
Ở đây, này Tỷ-kheo, có người nghĩ như sau: “Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có sắc như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thọ như vậy! Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có tưởng như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có các hành như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thức như vậy!” Như vậy, này Tỷ-kheo, có thể có sự sai khác về dục và tham trong năm thủ uẩn.
Vi-n 8 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm câu hỏi nữa:
—Dưới hình thức nào, bạch Thế Tôn, có định nghĩa về uẩn của các uẩn?
—Phàm sắc gì, này Tỷ-kheo, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn. Phàm thọ gì … Phàm tưởng gì … Phàm các hành gì … Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là thức uẩn. Dưới hình thức như vậy, này Tỷ-kheo, có định nghĩa về uẩn của các uẩn.
Vi-n 9 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm câu hỏi nữa:
—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, được gọi là sắc uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là thọ uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là tưởng uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là hành uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là thức uẩn?
—Do nhân bốn đại, này Tỷ-kheo, do duyên bốn đại, được gọi là sắc uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là thọ uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là tưởng uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là hành uẩn. Do nhân danh sắc, do duyên danh sắc, được gọi là thức uẩn.
Vi-n 10 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm câu khác:
—Như thế nào, bạch Thế Tôn, là có thân kiến?
—Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có sắc, hay quán sắc ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong sắc … thọ … tưởng. Hành … quán thức như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có thức, hay quán thức ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là có thân kiến.
Vi-n 11 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm câu nữa:
—Như thế nào, bạch Thế Tôn, là không có thân kiến?
—Ở đây, này Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, khéo thuần thục pháp các bậc Thánh, khéo tu tập pháp các bậc Thánh; thấy rõ các bậc Chân nhân, khéo thuần thục pháp các bậc Chân nhân, khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc, không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là không có thân kiến.
Vi-n 12 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm một câu nữa:
—Bạch Thế Tôn, cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của sắc? … của thọ … của tưởng … của các hành? Cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của thức?
—Này Tỷ-kheo, do duyên sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đó là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc, đó là sự xuất ly của sắc. Do duyên thọ … Do duyên tưởng … Do duyên các hành … Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của thức. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thức, đó là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với thức, đó là sự xuất ly của thức.
Vi-n 13 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn thêm câu nữa:
—Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, do thấy như thế nào, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên?
—Này Tỷ-kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc, Tỷ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi”. Phàm thọ gì … Phàm tưởng gì … Phàm các hành gì … Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức, Tỷ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi!” Này Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên.
Vi-n 14 Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo khác khởi lên suy nghĩ sau đây: “Nếu Ngài nói sắc là vô ngã, thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã tạo ra, thời ngã nào lãnh thọ?”
Vi-n 15 Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết rõ suy nghĩ của Tỷ-kheo ấy, liền nói với các Tỷ-kheo:
—Sự kiện này xảy ra, này các Tỷ-kheo, là có kẻ ngu si, vô trí, chìm đắm trong vô minh, tâm bị khát ái chi phối, nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy bậc Ðạo Sư, nghĩ rằng: “Nếu Ngài dạy rằng sắc là vô ngã, thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã làm, các nghiệp ấy do ngã nào lãnh thọ?” Này các Tỷ-kheo, các câu vấn nạn đã được Ta khéo dạy cho các Ông, chỗ này, chỗ kia trong các pháp ấy.
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 17-19. —Thọ … tưởng … các hành …
Vi-n 20 Thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Do vậy … thấy vậy … vị ấy biết: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ.
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā bhikkhusaṅghaparivuto ajjhokāse nisinno hoti.
Atha kho aññataro bhikkhu uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“puccheyyāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ kiñcideva desaṁ, sace me bhagavā okāsaṁ karoti pañhassa veyyākaraṇāyā”ti?
“Tena hi tvaṁ, bhikkhu, sake āsane nisīditvā puccha yadākaṅkhasī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā sake āsane nisīditvā bhagavantaṁ etadavoca:
“ime nu kho, bhante, pañcupādānakkhandhā, seyyathidaṁ—
rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho”ti.
“Ime kho, bhikkhu, pañcupādānakkhandhā;
Seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho …pe… viññāṇupādānakkhandho”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“Ime kho pana, bhante, pañcupādānakkhandhā kiṁmūlakā”ti?
“Ime kho, bhikkhu, pañcupādānakkhandhā chandamūlakā”ti …pe…
taññeva nu kho, bhante, upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā udāhu aññatra pañcahi upādānakkhandhehi upādānan”ti?
“Na kho, bhikkhu, taññeva upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā nāpi aññatra pañcahi upādānakkhandhehi upādānaṁ, api ca yo tattha chandarāgo taṁ tattha upādānan”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“Siyā pana, bhante, pañcupādānakkhandhesu chandarāgavemattatā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti bhagavā avoca:
“idha, bhikkhu, ekaccassa evaṁ hoti:
‘evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁvedano siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsañño siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsaṅkhāro siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti.
Evaṁ kho, bhikkhu, siyā pañcupādānakkhandhesu chandarāgavemattatā”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“Kittāvatā nu kho, bhante, khandhānaṁ khandhādhivacanan”ti?
“Yaṁ kiñci, bhikkhu, rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, ayaṁ vuccati rūpakkhandho.
Yā kāci vedanā …
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, ayaṁ vuccati viññāṇakkhandho.
Ettāvatā kho, bhikkhu, khandhānaṁ khandhādhivacanan”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… apucchi:
“Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo rūpakkhandhassa paññāpanāya;
ko hetu ko paccayo vedanākkhandhassa paññāpanāya;
ko hetu ko paccayo saññākkhandhassa paññāpanāya;
ko hetu ko paccayo saṅkhārakkhandhassa paññāpanāya;
ko hetu ko paccayo viññāṇakkhandhassa paññāpanāyā”ti?
“Cattāro kho, bhikkhu, mahābhūtā hetu, cattāro mahābhūtā paccayo rūpakkhandhassa paññāpanāya.
Phasso hetu phasso paccayo vedanākkhandhassa paññāpanāya.
Phasso hetu phasso paccayo saññākkhandhassa paññāpanāya.
Phasso hetu, phasso paccayo saṅkhārakkhandhassa paññāpanāya.
Nāmarūpaṁ hetu, nāmarūpaṁ paccayo viññāṇakkhandhassa paññāpanāyā”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… apucchi:
“Kathaṁ nu kho, bhante, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti?
“Idha, bhikkhu, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhu, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… apucchi:
“Kathaṁ pana, bhante, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti?
“Idha, bhikkhu, sutavā ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto
na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ; na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ;
na vedanaṁ …
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhu, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… apucchi:
“Ko nu kho, bhante, rūpassa assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇaṁ;
ko vedanāya …
ko saññāya …
ko saṅkhārānaṁ …
ko viññāṇassa assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇan”ti?
“Yaṁ kho, bhikkhu, rūpaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—ayaṁ rūpassa assādo.
Yaṁ rūpaṁ aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ—ayaṁ rūpassa ādīnavo.
Yo rūpasmiṁ chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ—idaṁ rūpassa nissaraṇaṁ.
Yaṁ vedanaṁ paṭicca …
yaṁ saññaṁ paṭicca …
ye saṅkhāre paṭicca …
yaṁ viññāṇaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—ayaṁ viññāṇassa assādo.
Yaṁ viññāṇaṁ aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ—ayaṁ viññāṇassa ādīnavo.
Yo viññāṇasmiṁ chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ—idaṁ viññāṇassa nissaraṇan”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“Kathaṁ nu kho, bhante, jānato, kathaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na hontī”ti?
“Yaṁ kiñci, bhikkhu, rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Yā kāci vedanā …
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Evaṁ kho, bhikkhu, jānato evaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na hontī”ti.
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“iti kira bho rūpaṁ anattā, vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ anattā;
anattakatāni kammāni kathamattānaṁ phusissantī”ti.
Atha kho bhagavā tassa bhikkhuno cetasā ceto parivitakkamaññāya bhikkhū āmantesi:
“Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco moghapuriso avidvā avijjāgato taṇhādhipateyyena cetasā satthusāsanaṁ atidhāvitabbaṁ maññeyya.
‘Iti kira, bho, rūpaṁ anattā, vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ anattā.
Anattakatāni kammāni kathamattānaṁ phusissantī’ti?
Paṭipucchāvinītā kho me tumhe, bhikkhave, tatra tatra tesu tesu dhammesu.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
Tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
“Dve khandhā taññeva siyaṁ,
adhivacanañca hetunā;
Sakkāyena duve vuttā,
assādaviññāṇakena ca;
Ete dasavidhā vuttā,
hoti bhikkhu pucchāyā”ti.
Dasamaṁ.
Khajjanīyavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Assādo dve samudayā,
arahantehi apare dve;
Sīho khajjanī piṇḍolyaṁ,
pālileyyena puṇṇamāti.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Savatthi in the Eastern Park, in the Mansion of Migara’s Mother, together with a great Saṅgha of bhikkhus. Now on that occasion—the Uposatha day of the fifteenth, a full-moon night—the Blessed One was sitting out in the open surrounded by the Saṅgha of bhikkhus.
SC 2Then a certain bhikkhu rose from his seat, arranged his upper robe over one shoulder, raised his joined hands in reverential salutation towards the Blessed One, and said to him: “Venerable sir, I would ask the Blessed One about a certain point, if the Blessed One would grant me the favour of answering my question.”
SC 3“Well then, bhikkhu, sit down in your own seat and ask whatever you wish.”
SC 4“Yes, venerable sir,” that bhikkhu replied. Then he sat down in his own seat and said to the Blessed One:
SC 5“Aren’t these the five aggregates subject to clinging, venerable sir: that is, the form aggregate subject to clinging, the feeling aggregate subject to clinging, the perception aggregate subject to clinging, the volitional formations aggregate subject to clinging, the consciousness aggregate subject to clinging?”
SC 6“Those are the five aggregates subject to clinging, bhikkhu: that is, the form aggregate subject to clinging, the feeling aggregate subject to clinging, the perception aggregate subject to clinging, the volitional formations aggregate subject to clinging, the consciousness aggregate subject to clinging.”
SC 7Saying, “Good, venerable sir,” that bhikkhu delighted and rejoiced in the Blessed One’s statement. Then he asked the Blessed One a further question:
SC 8“But, venerable sir, in what are these five aggregates subject to clinging rooted?”
SC 9“These five aggregates subject to clinging, bhikkhu, are rooted in desire.”
SC 10“Venerable sir, is that clinging the same as these five aggregates subject to clinging, or is the clinging something apart from the five aggregates subject to clinging?”
SC 11“Bhikkhus, that clinging is neither the same as these five aggregates subject to clinging, sn.iii.101 nor is the clinging something apart from the five aggregates subject to clinging. But rather, the desire and lust for them, that is the clinging there.”
SC 12Saying, “Good, venerable sir,” that bhikkhu … asked the Blessed One a further question:
SC 13“But, venerable sir, can there be diversity in the desire and lust for the five aggregates subject to clinging?”
SC 14“There can be, bhikkhu,” the Blessed One said. “Here, bhikkhu, it occurs to someone: ‘May I have such form in the future! May I have such feeling in the future! May I have such perception in the future! May I have such volitional formations in the future! May I have such consciousness in the future!’ Thus, bhikkhu, there can be diversity in the desire and lust for the five aggregates subject to clinging.”
SC 15Saying, “Good, venerable sir,” that bhikkhu … asked the Blessed One a further question:
SC 16“In what way, venerable sir, does the designation ‘aggregates’ apply to the aggregates?”
SC 17“Whatever kind of form there is, bhikkhu, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near: this is called the form aggregate. Whatever kind of feeling there is, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near: this is called the feeling aggregate. Whatever kind of perception there is, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near: this is called the perception aggregate. Whatever kind of volitional formations there are, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near: this is called the volitional formations aggregate. Whatever kind of consciousness there is, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near: this is called the consciousness aggregate. It is in this way, bhikkhu, that the designation ‘aggregates’ applies to the aggregates.”
SC 18Saying, “Good, venerable sir,” that bhikkhu … asked the Blessed One a further question:
SC 19“What is the cause and condition, venerable sir, for the manifestation of the form aggregate? What is the cause and condition for the manifestation of the feeling aggregate?… for the manifestation of the perception aggregate?… for the manifestation of the volitional formations aggregate?… for the manifestation of the consciousness aggregate?”
SC 20“The four great elements, bhikkhu, are the cause and condition for the manifestation of the form aggregate. Contact is the cause and condition for the manifestation of the feeling aggregate. Contact is the cause and condition for the manifestation of the perception aggregate. sn.iii.102 Contact is the cause and condition for the manifestation of the volitional formations aggregate. Name-and-form is the cause and condition for the manifestation of the consciousness aggregate.”
SC 21“Venerable sir, how does identity view come to be?”
SC 22“Here, bhikkhu, the uninstructed worldling, who is not a seer of the noble ones and is unskilled and undisciplined in their Dhamma, who is not a seer of superior persons and is unskilled and undisciplined in their Dhamma, regards form as self, or self as possessing form, or form as in self, or self as in form. He regards feeling as self … perception as self … volitional formations as self … consciousness as self, or self as possessing consciousness, or consciousness as in self, or self as in consciousness. That is how identity view comes to be.”
SC 23“But, venerable sir, how does identity view not come to be?”
SC 24“Here, bhikkhu, the instructed noble disciple, who is a seer of the noble ones and is skilled and disciplined in their Dhamma, who is a seer of superior persons and is skilled and disciplined in their Dhamma, does not regard form as self, or self as possessing form, or form as in self, or self as in form. He does not regard feeling as self … perception as self … volitional formations as self … consciousness as self, or self as possessing consciousness, or consciousness as in self, or self as in consciousness. That is how identity view does not come to be.”
SC 25“What, venerable sir, is the gratification, the danger, and the escape in the case of form? What is the gratification, the danger, and the escape in the case of feeling?… in the case of perception? … in the case of volitional formations?… in the case of consciousness?”
SC 26“The pleasure and joy, bhikkhu, that arise in dependence on form: this is the gratification in form. That form is impermanent, suffering, and subject to change: this is the danger in form. The removal and abandonment of desire and lust for form: this is the escape from form. The pleasure and joy that arise in dependence on feeling … sn.iii.103 in dependence on perception … in dependence on volitional formations … in dependence on consciousness: this is the gratification in consciousness. That consciousness is impermanent, suffering, and subject to change: this is the danger in consciousness. The removal and abandonment of desire and lust for consciousness: this is the escape from consciousness.”
SC 27Saying, “Good, venerable sir,” that bhikkhu delighted and rejoiced in the Blessed One’s statement. Then he asked the Blessed One a further question:
SC 28“Venerable sir, how should one know, how should one see so that, in regard to this body with consciousness and in regard to all external signs, I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit no longer occur within?”
SC 29“Any kind of form whatsoever, bhikkhu, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near—one sees all form as it really is with correct wisdom thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’
SC 30“Any kind of feeling whatsoever … Any kind of perception whatsoever … Any kind of volitional formations whatsoever … Any kind of consciousness whatsoever, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near—one sees all consciousness as it really is with correct wisdom thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’
SC 31“When one knows and sees thus, bhikkhu, then in regard to this body with consciousness and in regard to all external signs, I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit no longer occur within.”
SC 32Now on that occasion the following reflection arose in the mind of a certain bhikkhu: “So it seems that form is nonself, feeling is nonself, perception is nonself, volitional formations are nonself, consciousness is nonself. What self, then, will deeds done by what is nonself affect?”
SC 33Then the Blessed One, knowing with his own mind the reflection in the mind of that bhikkhu, addressed the bhikkhus thus: “It is possible, bhikkhus, that some senseless man here, obtuse and ignorant, with his mind dominated by craving, might think that he can outstrip the Teacher’s Teaching thus: ‘So it seems that form is nonself … consciousness is nonself. sn.iii.104 What self, then, will deeds done by what is nonself affect?’ Now, bhikkhus, you have been trained by me through interrogation here and there in regard to diverse teachings.
SC 34“What do you think, bhikkhu, is form permanent or impermanent?”—“Impermanent, venerable sir.”…—“Is feeling permanent or impermanent?… Is perception permanent or impermanent? … Are volitional formations permanent or impermanent?… Is consciousness permanent or impermanent?”—“Impermanent, venerable sir.”—“Is what is impermanent suffering or happiness?”—“Suffering, venerable sir.”—“Is what is impermanent, suffering, and subject to change fit to be regarded thus: ‘This is mine, this I am, this is my self’?”—“No, venerable sir.”
SC 35“Therefore … Seeing thus … He understands: ‘… there is no more for this state of being.’”
SC 36These are the ten questions
The bhikkhu came to ask:
Two about the aggregates,
Whether the same, can there be,
Designation and the cause,
Two about identity,
One each on gratification
And this body with consciousness.
sn.iii.105
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Ðông Viên, Lộc Mẫu giảng đường, cùng với đại chúng Tỷ-kheo.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày lễ Bố-tát, ngày rằm, đêm trăng tròn, giữa trời, có chúng Tỷ-kheo đoanh vây.
Vi-n 3 Rồi có Tỷ-kheo, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề, nếu Thế Tôn cho phép, và trả lời câu hỏi của con.
—Này Tỷ-kheo, hãy ngồi tại chỗ và hỏi theo ý Ông muốn.
Vi-n 4 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, ngồi tại chỗ ngồi của mình và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này: tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn?
—Này Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn … thức thủ uẩn.
Vi-n 5 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, rồi hỏi thêm Thế Tôn một câu khác:
—Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này lấy gì làm căn bản?
—Này Tỷ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn bản.
Vi-n 6 —Lành thay, bạch Thế Tôn …
—Bạch Thế Tôn, chấp thủ ấy là năm thủ uẩn ấy hay chấp thủ ngoài năm thủ uẩn?
—Này Tỷ-kheo, chấp thủ ấy không tức là năm thủ uẩn ấy và chấp thủ cũng không phải ngoài năm thủ uẩn. Nhưng chỗ nào có tham và dục, chỗ ấy có chấp thủ.
Vi-n 7 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác:
—Có thể chăng, bạch Thế Tôn, trong năm thủ uẩn, có sự sai khác về dục và tham?
Thế Tôn đáp:
—Có thể có, này Tỷ-kheo.
Ở đây, này Tỷ-kheo, có người nghĩ như sau: “Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có sắc như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thọ như vậy! Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có tưởng như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có các hành như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thức như vậy!” Như vậy, này Tỷ-kheo, có thể có sự sai khác về dục và tham trong năm thủ uẩn.
Vi-n 8 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm câu hỏi nữa:
—Dưới hình thức nào, bạch Thế Tôn, có định nghĩa về uẩn của các uẩn?
—Phàm sắc gì, này Tỷ-kheo, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn. Phàm thọ gì … Phàm tưởng gì … Phàm các hành gì … Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là thức uẩn. Dưới hình thức như vậy, này Tỷ-kheo, có định nghĩa về uẩn của các uẩn.
Vi-n 9 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm câu hỏi nữa:
—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, được gọi là sắc uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là thọ uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là tưởng uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là hành uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là thức uẩn?
—Do nhân bốn đại, này Tỷ-kheo, do duyên bốn đại, được gọi là sắc uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là thọ uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là tưởng uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là hành uẩn. Do nhân danh sắc, do duyên danh sắc, được gọi là thức uẩn.
Vi-n 10 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm câu khác:
—Như thế nào, bạch Thế Tôn, là có thân kiến?
—Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có sắc, hay quán sắc ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong sắc … thọ … tưởng. Hành … quán thức như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có thức, hay quán thức ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là có thân kiến.
Vi-n 11 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm câu nữa:
—Như thế nào, bạch Thế Tôn, là không có thân kiến?
—Ở đây, này Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, khéo thuần thục pháp các bậc Thánh, khéo tu tập pháp các bậc Thánh; thấy rõ các bậc Chân nhân, khéo thuần thục pháp các bậc Chân nhân, khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc, không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là không có thân kiến.
Vi-n 12 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm một câu nữa:
—Bạch Thế Tôn, cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của sắc? … của thọ … của tưởng … của các hành? Cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của thức?
—Này Tỷ-kheo, do duyên sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đó là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc, đó là sự xuất ly của sắc. Do duyên thọ … Do duyên tưởng … Do duyên các hành … Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của thức. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thức, đó là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với thức, đó là sự xuất ly của thức.
Vi-n 13 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn thêm câu nữa:
—Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, do thấy như thế nào, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên?
—Này Tỷ-kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc, Tỷ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi”. Phàm thọ gì … Phàm tưởng gì … Phàm các hành gì … Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức, Tỷ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi!” Này Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên.
Vi-n 14 Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo khác khởi lên suy nghĩ sau đây: “Nếu Ngài nói sắc là vô ngã, thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã tạo ra, thời ngã nào lãnh thọ?”
Vi-n 15 Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết rõ suy nghĩ của Tỷ-kheo ấy, liền nói với các Tỷ-kheo:
—Sự kiện này xảy ra, này các Tỷ-kheo, là có kẻ ngu si, vô trí, chìm đắm trong vô minh, tâm bị khát ái chi phối, nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy bậc Ðạo Sư, nghĩ rằng: “Nếu Ngài dạy rằng sắc là vô ngã, thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã làm, các nghiệp ấy do ngã nào lãnh thọ?” Này các Tỷ-kheo, các câu vấn nạn đã được Ta khéo dạy cho các Ông, chỗ này, chỗ kia trong các pháp ấy.
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 17-19. —Thọ … tưởng … các hành …
Vi-n 20 Thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Do vậy … thấy vậy … vị ấy biết: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ.
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā bhikkhusaṅghaparivuto ajjhokāse nisinno hoti.
Atha kho aññataro bhikkhu uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“puccheyyāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ kiñcideva desaṁ, sace me bhagavā okāsaṁ karoti pañhassa veyyākaraṇāyā”ti?
“Tena hi tvaṁ, bhikkhu, sake āsane nisīditvā puccha yadākaṅkhasī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā sake āsane nisīditvā bhagavantaṁ etadavoca:
“ime nu kho, bhante, pañcupādānakkhandhā, seyyathidaṁ—
rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho”ti.
“Ime kho, bhikkhu, pañcupādānakkhandhā;
Seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho …pe… viññāṇupādānakkhandho”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“Ime kho pana, bhante, pañcupādānakkhandhā kiṁmūlakā”ti?
“Ime kho, bhikkhu, pañcupādānakkhandhā chandamūlakā”ti …pe…
taññeva nu kho, bhante, upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā udāhu aññatra pañcahi upādānakkhandhehi upādānan”ti?
“Na kho, bhikkhu, taññeva upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā nāpi aññatra pañcahi upādānakkhandhehi upādānaṁ, api ca yo tattha chandarāgo taṁ tattha upādānan”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“Siyā pana, bhante, pañcupādānakkhandhesu chandarāgavemattatā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti bhagavā avoca:
“idha, bhikkhu, ekaccassa evaṁ hoti:
‘evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁvedano siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsañño siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsaṅkhāro siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti.
Evaṁ kho, bhikkhu, siyā pañcupādānakkhandhesu chandarāgavemattatā”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“Kittāvatā nu kho, bhante, khandhānaṁ khandhādhivacanan”ti?
“Yaṁ kiñci, bhikkhu, rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, ayaṁ vuccati rūpakkhandho.
Yā kāci vedanā …
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, ayaṁ vuccati viññāṇakkhandho.
Ettāvatā kho, bhikkhu, khandhānaṁ khandhādhivacanan”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… apucchi:
“Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo rūpakkhandhassa paññāpanāya;
ko hetu ko paccayo vedanākkhandhassa paññāpanāya;
ko hetu ko paccayo saññākkhandhassa paññāpanāya;
ko hetu ko paccayo saṅkhārakkhandhassa paññāpanāya;
ko hetu ko paccayo viññāṇakkhandhassa paññāpanāyā”ti?
“Cattāro kho, bhikkhu, mahābhūtā hetu, cattāro mahābhūtā paccayo rūpakkhandhassa paññāpanāya.
Phasso hetu phasso paccayo vedanākkhandhassa paññāpanāya.
Phasso hetu phasso paccayo saññākkhandhassa paññāpanāya.
Phasso hetu, phasso paccayo saṅkhārakkhandhassa paññāpanāya.
Nāmarūpaṁ hetu, nāmarūpaṁ paccayo viññāṇakkhandhassa paññāpanāyā”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… apucchi:
“Kathaṁ nu kho, bhante, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti?
“Idha, bhikkhu, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhu, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… apucchi:
“Kathaṁ pana, bhante, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti?
“Idha, bhikkhu, sutavā ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto
na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ; na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ;
na vedanaṁ …
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhu, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… apucchi:
“Ko nu kho, bhante, rūpassa assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇaṁ;
ko vedanāya …
ko saññāya …
ko saṅkhārānaṁ …
ko viññāṇassa assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇan”ti?
“Yaṁ kho, bhikkhu, rūpaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—ayaṁ rūpassa assādo.
Yaṁ rūpaṁ aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ—ayaṁ rūpassa ādīnavo.
Yo rūpasmiṁ chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ—idaṁ rūpassa nissaraṇaṁ.
Yaṁ vedanaṁ paṭicca …
yaṁ saññaṁ paṭicca …
ye saṅkhāre paṭicca …
yaṁ viññāṇaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—ayaṁ viññāṇassa assādo.
Yaṁ viññāṇaṁ aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ—ayaṁ viññāṇassa ādīnavo.
Yo viññāṇasmiṁ chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ—idaṁ viññāṇassa nissaraṇan”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“Kathaṁ nu kho, bhante, jānato, kathaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na hontī”ti?
“Yaṁ kiñci, bhikkhu, rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Yā kāci vedanā …
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Evaṁ kho, bhikkhu, jānato evaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na hontī”ti.
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“iti kira bho rūpaṁ anattā, vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ anattā;
anattakatāni kammāni kathamattānaṁ phusissantī”ti.
Atha kho bhagavā tassa bhikkhuno cetasā ceto parivitakkamaññāya bhikkhū āmantesi:
“Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco moghapuriso avidvā avijjāgato taṇhādhipateyyena cetasā satthusāsanaṁ atidhāvitabbaṁ maññeyya.
‘Iti kira, bho, rūpaṁ anattā, vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ anattā.
Anattakatāni kammāni kathamattānaṁ phusissantī’ti?
Paṭipucchāvinītā kho me tumhe, bhikkhave, tatra tatra tesu tesu dhammesu.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
Tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
“Dve khandhā taññeva siyaṁ,
adhivacanañca hetunā;
Sakkāyena duve vuttā,
assādaviññāṇakena ca;
Ete dasavidhā vuttā,
hoti bhikkhu pucchāyā”ti.
Dasamaṁ.
Khajjanīyavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Assādo dve samudayā,
arahantehi apare dve;
Sīho khajjanī piṇḍolyaṁ,
pālileyyena puṇṇamāti.