Vi-n 1 Một thời, một số đông Tỷ-kheo trưởng lão trú ở Macchikàsanda, tại rừng Ambāṭaka.
Vi-n 2 Rồi gia chủ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
—Bạch chư Thượng tọa, mong rằng chư vị Trưởng lão ngày mai nhận lời mời dùng bữa ăn của con.
Các Tỷ-kheo trưởng lão im lặng nhận lời.
Vi-n 4 Rồi gia chủ Citta, sau khi biết các Tỷ-kheo trưởng lão đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão, thân phía hữu hướng về các vị ấy rồi ra đi.
Vi-n 5 Các Tỷ-kheo trưởng lão ấy, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của gia chủ Citta; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 6 Rồi gia chủ Citta đi đến Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 7 Ngồi một bên, gia chủ Citta bạch Tôn giả Thera:
—Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn, hay thế giới là không thường còn? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?”. Lại có thêm 62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Bạch Thượng tọa, các tà kiến này do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt, chúng không có mặt?
Khi được nói vậy, Tôn giả Thera im lặng.
Vi-n 8 Lần thứ hai, gia chủ Citta …
Vi-n 9 Lần thứ ba, gia chủ Citta bạch Tôn giả Thera:
—Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn, hay thế giới là vô thường? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?” Lại có thêm 62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Bạch Thượng tọa, các tà kiến này do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt, chúng không có mặt?
Lần thứ ba, Tôn giả Thera giữ im lặng.
Vi-n 10 Lúc bấy giờ, Tôn giả Isidattà là Tỷ-kheo mới tu nhất trong chúng Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 11 Rồi Tôn giả Isidattà thưa với Tôn giả Thera:
—Bạch Thượng tọa, con xin trả lời câu hỏi ấy của gia chủ Citta.
—Này Isidattà, hãy trả lời câu hỏi ấy của gia chủ Citta.
Vi-n 12 —Này Gia chủ, có phải Ông hỏi như sau: “Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: ‘Thế giới là thường còn … ‘ Bạch Thượng tọa, các tà kiến này do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt, chúng không có mặt” chăng?
—Thưa vâng, bạch Thượng tọa.
—Này Gia chủ, một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn, hay thế giới là vô thường? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?” Lại có thêm 62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Này Gia chủ, do thân kiến có mặt, nên các tà kiến này có mặt. Do thân kiến không có mặt, nên chúng không có mặt?
Vi-n 13 —Bạch Thượng tọa, như thế nào là thân kiến có mặt?
—Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân. Họ quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc … quán thọ như là tự ngã … tưởng … các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Gia chủ, là thân kiến có mặt.
Vi-n 14 —Và như thế nào, bạch Thượng tọa, là thân kiến không có mặt?
—Ở đây, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử được thấy các bậc Thánh, thuần phục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, được thấy các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị ấy không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, không quán thọ … tưởng … hành … không quán thức như tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Gia chủ, là thân kiến không có mặt.
Vi-n 15 —Bạch Thượng tọa, Tôn đức (Ayyo) Isidattà từ đâu đến?
—Này Gia chủ, tôi từ Avanti đến.
—Bạch Thượng tọa, tại Avanti, có một thiện nam tử tên Isidattà, một người bạn xa cách của chúng tôi, đã xuất gia tu hành?
—Thưa phải, này Gia chủ.
—Bạch Thượng tọa, hiện nay Tôn giả ấy ở đâu?
Khi được nói vậy, Tôn giả Isidattà im lặng.
—Bạch Thượng tọa, có phải Tôn đức ấy là Isidattà chăng?
—Thưa phải, này Gia chủ.
—Vậy bạch Thượng tọa, Tôn đức Isidattà hãy thỏa thích ở tại Macchikàsanda. Khả ái là rừng Ambāṭaka! Con sẽ hết sức cố gắng để cúng dường Tôn đức Isidattà với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
—Thật là lời nói chí thiện, này Gia chủ.
Vi-n 16 Rồi Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời nói của Tôn giả Isidattà, tự tay làm thỏa mãn, tự tay cúng dường các Tỷ-kheo trưởng lão với các món ăn thượng hạng loại cứng và loại mềm.
Vi-n 17 Rồi các Tỷ-kheo trưởng lão, sau khi ăn xong, rời tay khỏi bát, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 18 Rồi Tôn giả Thera nói với Tôn giả Isidattà:
—Lành thay, này Hiền giả Isidattà, câu hỏi này đã được Hiền giả trả lời. Câu hỏi này không được ta trả lời. Này Hiền giả Isidattà, trong dịp khác, nếu câu hỏi tương tự khởi lên, Hiền giả hãy trả lời như vậy.
Ekaṁ samayaṁ sambahulā therā bhikkhū macchikāsaṇḍe viharanti ambāṭakavane.
Atha kho citto gahapati yena therā bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā there bhikkhū abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho citto gahapati there bhikkhū etadavoca:
“adhivāsentu me, bhante, therā svātanāya bhattan”ti.
Adhivāsesuṁ kho therā bhikkhū tuṇhībhāvena.
Atha kho citto gahapati therānaṁ bhikkhūnaṁ adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā there bhikkhū abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho therā bhikkhū tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena cittassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁsu.
Atha kho citto gahapati yena therā bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā there bhikkhū abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho citto gahapati āyasmantaṁ theraṁ etadavoca:
“yā imā, bhante thera, anekavihitā diṭṭhiyo loke uppajjanti:
‘sassato lokoti vā, asassato lokoti vā, antavā lokoti vā, anantavā lokoti vā, taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā.
Yāni cimāni dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni brahmajāle bhaṇitāni;
imā nu kho, bhante, diṭṭhiyo kismiṁ sati honti, kismiṁ asati na hontī”ti?
Evaṁ vutte, āyasmā thero tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho citto gahapati …pe…
tatiyampi kho citto gahapati āyasmantaṁ theraṁ etadavoca:
“yā imā, bhante thera, anekavihitā diṭṭhiyo loke uppajjanti—
sassato lokoti vā, asassato lokoti vā, antavā lokoti vā, anantavā lokoti vā, taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā.
Yāni cimāni dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni brahmajāle bhaṇitāni;
imā nu kho, bhante, diṭṭhiyo kismiṁ sati honti, kismiṁ asati na hontī”ti?
Tatiyampi kho āyasmā thero tuṇhī ahosi.
Tena kho pana samayena āyasmā isidatto tasmiṁ bhikkhusaṅghe sabbanavako hoti.
Atha kho āyasmā isidatto āyasmantaṁ theraṁ etadavoca:
“byākaromahaṁ, bhante thera, cittassa gahapatino etaṁ pañhan”ti?
“Byākarohi tvaṁ, āvuso isidatta, cittassa gahapatino etaṁ pañhan”ti.
“Evañhi tvaṁ, gahapati, pucchasi:
‘yā imā, bhante thera, anekavihitā diṭṭhiyo loke uppajjanti—
sassato lokoti vā …pe…;
imā nu kho, bhante, diṭṭhiyo kismiṁ sati honti, kismiṁ asati na hontī’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yā imā, gahapati, anekavihitā diṭṭhiyo loke uppajjanti:
‘sassato lokoti vā, asassato lokoti vā, antavā lokoti vā anantavā lokoti vā, taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā.
Yāni cimāni dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni brahmajāle bhaṇitāni;
imā kho, gahapati, diṭṭhiyo sakkāyadiṭṭhiyā sati honti, sakkāyadiṭṭhiyā asati na hontī’”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti?
“Idha, gahapati, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ;
vedanaṁ attato samanupassati …pe…
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Evaṁ kho, gahapati, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti?
“Idha, gahapati, sutavā ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto
na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ;
na vedanaṁ …
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Evaṁ kho, gahapati, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti.
“Kuto, bhante, ayyo isidatto āgacchatī”ti?
“Avantiyā kho, gahapati, āgacchāmī”ti.
“Atthi, bhante, avantiyā isidatto nāma kulaputto amhākaṁ adiṭṭhasahāyo pabbajito?
Diṭṭho so āyasmatā”ti?
“Evaṁ, gahapatī”ti.
“Kahaṁ nu kho so, bhante, āyasmā etarahi viharatī”ti?
Evaṁ vutte, āyasmā isidatto tuṇhī ahosi.
“Ayyo no, bhante, isidatto”ti?
“Evaṁ, gahapatī”ti.
“Abhiramatu, bhante, ayyo isidatto macchikāsaṇḍe.
Ramaṇīyaṁ ambāṭakavanaṁ.
Ahaṁ ayyassa isidattassa ussukkaṁ karissāmi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan”ti.
“Kalyāṇaṁ vuccati, gahapatī”ti.
Atha kho citto gahapati āyasmato isidattassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā there bhikkhū paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho therā bhikkhū bhuttāvino onītapattapāṇino uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu.
Atha kho āyasmā thero āyasmantaṁ isidattaṁ etadavoca:
“sādhu kho taṁ, āvuso isidatta, eso pañho paṭibhāsi.
Neso pañho maṁ paṭibhāsi.
Tenahāvuso isidatta, yadā aññathāpi evarūpo pañho āgaccheyya, taññevettha paṭibhāseyyā”ti.
Atha kho āyasmā isidatto senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya macchikāsaṇḍamhā pakkāmi.
Yaṁ macchikāsaṇḍamhā pakkāmi, tathā pakkantova ahosi, na puna paccāgacchīti.
Tatiyaṁ.
At one time several senior mendicants were staying near Macchikāsaṇḍa in the Wild Mango Grove.
Then Citta the householder went up to them, bowed, sat down to one side, and said to them,
“Sirs, would the senior monks please accept tomorrow’s meal from me?”
They consented with silence.
Then, knowing that the senior mendicants had consented, Citta got up from his seat, bowed, and respectfully circled them, keeping them on his right, before leaving.
Then when the night had passed, the senior mendicants robed up in the morning and, taking their bowls and robes, went to Citta’s home, and sat down on the seats spread out.
So he went up to them, bowed, sat down to one side, and said to the senior venerable:
“Honorable Senior, there are many different views that arise in the world. For example:
the cosmos is eternal, or not eternal, or finite, or infinite; the soul and the body are one and the same, or the soul is one thing, the body another; after death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists.
And also the sixty-two misconceptions spoken of in “The Divine Net”.
When what exists do these views come to be? When what doesn’t exist do these views not come to be?”
When he said this, the senior venerable kept silent.
For a second time …
And for a third time, Citta said to him:
“Honorable Senior, there are many different views that arise in the world. …
When what exists do these views come to be? When what doesn’t exist do these views not come to be?”
And a second time and a third time the senior venerable kept silent.
Now at that time Venerable Isidatta was the most junior mendicant in that Saṅgha.
He said to the senior venerable,
“Honorable Senior, may I answer Citta’s question?”
“Answer it, Reverend Isidatta.”
“Householder, is this your question:
‘There are many different views that arise in the world …
When what exists do these views come to be? When what doesn’t exist do these views not come to be?’”
“Yes, sir.”
“Householder, there are many different views that arise in the world. For example:
the cosmos is eternal, or not eternal, or finite, or infinite; the soul and the body are one and the same, or the soul is one thing, the body another; after death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists.
And also the sixty-two misconceptions spoken of in “The Divine Net”.
These views come to be when substantialist view exists. When substantialist view does not exist they do not come to be.”
“But sir, how does substantialist view come about?”
“It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons.
They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form.
They regard feeling …
perception …
choices …
consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness.
That’s how substantialist view comes about.”
“But sir, how does substantialist view not come about?”
“It’s when a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons.
They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form.
They don’t regard feeling …
perception …
choices …
consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness.
That’s how substantialist view does not come about.”
“Sir, where has Master Isidatta come from?”
“I come from Avanti, householder.”
“Sir, there’s a friend of mine named Isidatta who I’ve never met. He’s gone forth from a good family in Avanti.
Have you met him?”
“Yes, householder.”
“Sir, where is that venerable now staying?”
When he said this, Isidatta kept silent.
“Sir, are you that Isidatta?”
“Yes, householder.”
“Sir, I hope Master Isidatta is happy here in Macchikāsaṇḍa,
for the Wild Mango Grove is lovely.
I’ll make sure that Master Isidatta is provided with robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.”
“That’s nice of you to say, householder.”
Then Citta, having approved and agreed with what Isidatta said, served and satisfied the senior mendicants with his own hands with delicious fresh and cooked foods.
When the senior mendicants had eaten and washed their hands and bowls, they got up from their seats and left.
Then the senior venerable said to Venerable Isidatta,
“Isidatta, it’s good that you felt inspired to answer that question, because I didn’t.
So when a similar question comes up, you should also answer it as you feel inspired.”
But Isidatta set his lodgings in order and, taking his bowl and robe, left Macchikāsaṇḍa,
never to return.
Vi-n 1 Một thời, một số đông Tỷ-kheo trưởng lão trú ở Macchikàsanda, tại rừng Ambāṭaka.
Vi-n 2 Rồi gia chủ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
—Bạch chư Thượng tọa, mong rằng chư vị Trưởng lão ngày mai nhận lời mời dùng bữa ăn của con.
Các Tỷ-kheo trưởng lão im lặng nhận lời.
Vi-n 4 Rồi gia chủ Citta, sau khi biết các Tỷ-kheo trưởng lão đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão, thân phía hữu hướng về các vị ấy rồi ra đi.
Vi-n 5 Các Tỷ-kheo trưởng lão ấy, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của gia chủ Citta; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 6 Rồi gia chủ Citta đi đến Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 7 Ngồi một bên, gia chủ Citta bạch Tôn giả Thera:
—Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn, hay thế giới là không thường còn? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?”. Lại có thêm 62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Bạch Thượng tọa, các tà kiến này do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt, chúng không có mặt?
Khi được nói vậy, Tôn giả Thera im lặng.
Vi-n 8 Lần thứ hai, gia chủ Citta …
Vi-n 9 Lần thứ ba, gia chủ Citta bạch Tôn giả Thera:
—Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn, hay thế giới là vô thường? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?” Lại có thêm 62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Bạch Thượng tọa, các tà kiến này do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt, chúng không có mặt?
Lần thứ ba, Tôn giả Thera giữ im lặng.
Vi-n 10 Lúc bấy giờ, Tôn giả Isidattà là Tỷ-kheo mới tu nhất trong chúng Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 11 Rồi Tôn giả Isidattà thưa với Tôn giả Thera:
—Bạch Thượng tọa, con xin trả lời câu hỏi ấy của gia chủ Citta.
—Này Isidattà, hãy trả lời câu hỏi ấy của gia chủ Citta.
Vi-n 12 —Này Gia chủ, có phải Ông hỏi như sau: “Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: ‘Thế giới là thường còn … ‘ Bạch Thượng tọa, các tà kiến này do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt, chúng không có mặt” chăng?
—Thưa vâng, bạch Thượng tọa.
—Này Gia chủ, một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn, hay thế giới là vô thường? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?” Lại có thêm 62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Này Gia chủ, do thân kiến có mặt, nên các tà kiến này có mặt. Do thân kiến không có mặt, nên chúng không có mặt?
Vi-n 13 —Bạch Thượng tọa, như thế nào là thân kiến có mặt?
—Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân. Họ quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc … quán thọ như là tự ngã … tưởng … các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Gia chủ, là thân kiến có mặt.
Vi-n 14 —Và như thế nào, bạch Thượng tọa, là thân kiến không có mặt?
—Ở đây, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử được thấy các bậc Thánh, thuần phục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, được thấy các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị ấy không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, không quán thọ … tưởng … hành … không quán thức như tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Gia chủ, là thân kiến không có mặt.
Vi-n 15 —Bạch Thượng tọa, Tôn đức (Ayyo) Isidattà từ đâu đến?
—Này Gia chủ, tôi từ Avanti đến.
—Bạch Thượng tọa, tại Avanti, có một thiện nam tử tên Isidattà, một người bạn xa cách của chúng tôi, đã xuất gia tu hành?
—Thưa phải, này Gia chủ.
—Bạch Thượng tọa, hiện nay Tôn giả ấy ở đâu?
Khi được nói vậy, Tôn giả Isidattà im lặng.
—Bạch Thượng tọa, có phải Tôn đức ấy là Isidattà chăng?
—Thưa phải, này Gia chủ.
—Vậy bạch Thượng tọa, Tôn đức Isidattà hãy thỏa thích ở tại Macchikàsanda. Khả ái là rừng Ambāṭaka! Con sẽ hết sức cố gắng để cúng dường Tôn đức Isidattà với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
—Thật là lời nói chí thiện, này Gia chủ.
Vi-n 16 Rồi Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời nói của Tôn giả Isidattà, tự tay làm thỏa mãn, tự tay cúng dường các Tỷ-kheo trưởng lão với các món ăn thượng hạng loại cứng và loại mềm.
Vi-n 17 Rồi các Tỷ-kheo trưởng lão, sau khi ăn xong, rời tay khỏi bát, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 18 Rồi Tôn giả Thera nói với Tôn giả Isidattà:
—Lành thay, này Hiền giả Isidattà, câu hỏi này đã được Hiền giả trả lời. Câu hỏi này không được ta trả lời. Này Hiền giả Isidattà, trong dịp khác, nếu câu hỏi tương tự khởi lên, Hiền giả hãy trả lời như vậy.
Ekaṁ samayaṁ sambahulā therā bhikkhū macchikāsaṇḍe viharanti ambāṭakavane.
Atha kho citto gahapati yena therā bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā there bhikkhū abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho citto gahapati there bhikkhū etadavoca:
“adhivāsentu me, bhante, therā svātanāya bhattan”ti.
Adhivāsesuṁ kho therā bhikkhū tuṇhībhāvena.
Atha kho citto gahapati therānaṁ bhikkhūnaṁ adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā there bhikkhū abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho therā bhikkhū tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena cittassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁsu.
Atha kho citto gahapati yena therā bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā there bhikkhū abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho citto gahapati āyasmantaṁ theraṁ etadavoca:
“yā imā, bhante thera, anekavihitā diṭṭhiyo loke uppajjanti:
‘sassato lokoti vā, asassato lokoti vā, antavā lokoti vā, anantavā lokoti vā, taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā.
Yāni cimāni dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni brahmajāle bhaṇitāni;
imā nu kho, bhante, diṭṭhiyo kismiṁ sati honti, kismiṁ asati na hontī”ti?
Evaṁ vutte, āyasmā thero tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho citto gahapati …pe…
tatiyampi kho citto gahapati āyasmantaṁ theraṁ etadavoca:
“yā imā, bhante thera, anekavihitā diṭṭhiyo loke uppajjanti—
sassato lokoti vā, asassato lokoti vā, antavā lokoti vā, anantavā lokoti vā, taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā.
Yāni cimāni dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni brahmajāle bhaṇitāni;
imā nu kho, bhante, diṭṭhiyo kismiṁ sati honti, kismiṁ asati na hontī”ti?
Tatiyampi kho āyasmā thero tuṇhī ahosi.
Tena kho pana samayena āyasmā isidatto tasmiṁ bhikkhusaṅghe sabbanavako hoti.
Atha kho āyasmā isidatto āyasmantaṁ theraṁ etadavoca:
“byākaromahaṁ, bhante thera, cittassa gahapatino etaṁ pañhan”ti?
“Byākarohi tvaṁ, āvuso isidatta, cittassa gahapatino etaṁ pañhan”ti.
“Evañhi tvaṁ, gahapati, pucchasi:
‘yā imā, bhante thera, anekavihitā diṭṭhiyo loke uppajjanti—
sassato lokoti vā …pe…;
imā nu kho, bhante, diṭṭhiyo kismiṁ sati honti, kismiṁ asati na hontī’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yā imā, gahapati, anekavihitā diṭṭhiyo loke uppajjanti:
‘sassato lokoti vā, asassato lokoti vā, antavā lokoti vā anantavā lokoti vā, taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā.
Yāni cimāni dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni brahmajāle bhaṇitāni;
imā kho, gahapati, diṭṭhiyo sakkāyadiṭṭhiyā sati honti, sakkāyadiṭṭhiyā asati na hontī’”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti?
“Idha, gahapati, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ;
vedanaṁ attato samanupassati …pe…
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Evaṁ kho, gahapati, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti?
“Idha, gahapati, sutavā ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto
na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ;
na vedanaṁ …
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Evaṁ kho, gahapati, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti.
“Kuto, bhante, ayyo isidatto āgacchatī”ti?
“Avantiyā kho, gahapati, āgacchāmī”ti.
“Atthi, bhante, avantiyā isidatto nāma kulaputto amhākaṁ adiṭṭhasahāyo pabbajito?
Diṭṭho so āyasmatā”ti?
“Evaṁ, gahapatī”ti.
“Kahaṁ nu kho so, bhante, āyasmā etarahi viharatī”ti?
Evaṁ vutte, āyasmā isidatto tuṇhī ahosi.
“Ayyo no, bhante, isidatto”ti?
“Evaṁ, gahapatī”ti.
“Abhiramatu, bhante, ayyo isidatto macchikāsaṇḍe.
Ramaṇīyaṁ ambāṭakavanaṁ.
Ahaṁ ayyassa isidattassa ussukkaṁ karissāmi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan”ti.
“Kalyāṇaṁ vuccati, gahapatī”ti.
Atha kho citto gahapati āyasmato isidattassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā there bhikkhū paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho therā bhikkhū bhuttāvino onītapattapāṇino uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu.
Atha kho āyasmā thero āyasmantaṁ isidattaṁ etadavoca:
“sādhu kho taṁ, āvuso isidatta, eso pañho paṭibhāsi.
Neso pañho maṁ paṭibhāsi.
Tenahāvuso isidatta, yadā aññathāpi evarūpo pañho āgaccheyya, taññevettha paṭibhāseyyā”ti.
Atha kho āyasmā isidatto senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya macchikāsaṇḍamhā pakkāmi.
Yaṁ macchikāsaṇḍamhā pakkāmi, tathā pakkantova ahosi, na puna paccāgacchīti.
Tatiyaṁ.