Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại Andhakavinda.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi ở ngoài trời, trong bóng đêm, trong khi trời mưa từng hột một.
Vi-n 3 Rồi Phạm thiên Sahampati, trong khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Andhakavinda, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Vi-n 4 Ðứng một bên, Phạm thiên Sahampati nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy ở chỗ núi non,
Xa vắng các xóm làng,
Hãy sống đời giải thoát,
Từ bỏ các kiết sử!
Nếu tại đấy không đạt
Ðiều Ông ưa, Ông thích,
Hãy sống giữa chúng Tăng,
Hộ trì, giữ chánh niệm,
Và bộ hành khất thực,
Nhà này đến nhà khác,
Các căn được hộ trì,
Thận trọng, giữ chánh niệm.
Hãy ở chỗ núi non,
Xa vắng các xóm làng,
Thoát ly mọi sợ hãi,
Vô úy, sống giải thoát.
Những chỗ có rắn độc,
Có đêm chớp, sấm vang,
Trong đêm đen tối mịt,
Vị Tỷ-kheo lặng ngồi,
Không run, không hoảng sợ,
Lông tóc không dựng ngược,
Chính mắt con thấy vậy,
Không phải chỉ nghe đồn.
Chính trong một Phạm hạnh,
Ngàn người thoát tử thần.
Hơn năm trăm hữu học,
Mười, mười lần một trăm,
Tất cả chúng Dự lưu,
Khỏi sanh loại bàng sanh.
Còn các vị còn lại,
Theo con đều hưởng phước,
Con đếm không kể xiết,
Sợ rơi vào vọng ngữ.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā māgadhesu viharati andhakavinde.
Tena kho pana samayena bhagavā rattandhakāratimisāyaṁ abbhokāse nisinno hoti, devo ca ekamekaṁ phusāyati.
Atha kho brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ andhakavindaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Ekamantaṁ ṭhito kho brahmā sahampati bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Sevetha pantāni senāsanāni,
Careyya saṁyojanavippamokkhā;
Sace ratiṁ nādhigaccheyya tattha,
Saṅghe vase rakkhitatto satīmā.
Kulākulaṁ piṇḍikāya caranto,
Indriyagutto nipako satimā;
Sevetha pantāni senāsanāni,
Bhayā pamutto abhaye vimutto.
Yattha bheravā sarīsapā,
Vijju sañcarati thanayati devo;
Andhakāratimisāya rattiyā,
Nisīdi tattha bhikkhu vigatalomahaṁso.
Idañhi jātu me diṭṭhaṁ,
nayidaṁ itihītihaṁ;
Ekasmiṁ brahmacariyasmiṁ,
sahassaṁ maccuhāyinaṁ.
Bhiyyo pañcasatā sekkhā,
dasā ca dasadhā dasa;
Sabbe sotasamāpannā,
atiracchānagāmino.
Athāyaṁ itarā pajā,
puññabhāgāti me mano;
Saṅkhātuṁ nopi sakkomi,
musāvādassa ottapan”ti.
At one time the Buddha was staying in the land of the Magadhans at Andhakavinda.
Now at that time the Buddha was meditating in the open during the dark of night, while a gentle rain drizzled down.
Then, late at night, the glorious divinity Sahampati, lighting up the entirety of Andhakavinda, went up to the Buddha, bowed, stood to one side,
and recited these verses in the Buddha’s presence:
“One should frequent secluded lodgings,
and practice to be released from fetters.
If you don’t find enjoyment there,
live in the Saṅgha, self-protected and mindful.
Walking for alms from family to family,
with senses guarded, alert and mindful.
One should frequent secluded lodgings,
free of fear, freed in the fearless.
Where dreadful serpents slither,
where the lightning flashes and the heavens thunder
in the dark of the night;
there meditates a mendicant, free of goosebumps.
For this is ever seen by me,
it isn’t just the testament of hearsay.
Within a single spiritual dispensation
there are a thousand conquerors of Death.
And of trainees, more than five hundred,
and ten times ten tens,
are all stream-enterers,
freed from rebirth in the animal realm.
And as for the rest of folk
who I think have shared in merit—
I couldn’t even number them,
for fear of speaking falsely.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại Andhakavinda.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi ở ngoài trời, trong bóng đêm, trong khi trời mưa từng hột một.
Vi-n 3 Rồi Phạm thiên Sahampati, trong khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Andhakavinda, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Vi-n 4 Ðứng một bên, Phạm thiên Sahampati nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy ở chỗ núi non,
Xa vắng các xóm làng,
Hãy sống đời giải thoát,
Từ bỏ các kiết sử!
Nếu tại đấy không đạt
Ðiều Ông ưa, Ông thích,
Hãy sống giữa chúng Tăng,
Hộ trì, giữ chánh niệm,
Và bộ hành khất thực,
Nhà này đến nhà khác,
Các căn được hộ trì,
Thận trọng, giữ chánh niệm.
Hãy ở chỗ núi non,
Xa vắng các xóm làng,
Thoát ly mọi sợ hãi,
Vô úy, sống giải thoát.
Những chỗ có rắn độc,
Có đêm chớp, sấm vang,
Trong đêm đen tối mịt,
Vị Tỷ-kheo lặng ngồi,
Không run, không hoảng sợ,
Lông tóc không dựng ngược,
Chính mắt con thấy vậy,
Không phải chỉ nghe đồn.
Chính trong một Phạm hạnh,
Ngàn người thoát tử thần.
Hơn năm trăm hữu học,
Mười, mười lần một trăm,
Tất cả chúng Dự lưu,
Khỏi sanh loại bàng sanh.
Còn các vị còn lại,
Theo con đều hưởng phước,
Con đếm không kể xiết,
Sợ rơi vào vọng ngữ.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā māgadhesu viharati andhakavinde.
Tena kho pana samayena bhagavā rattandhakāratimisāyaṁ abbhokāse nisinno hoti, devo ca ekamekaṁ phusāyati.
Atha kho brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ andhakavindaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Ekamantaṁ ṭhito kho brahmā sahampati bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Sevetha pantāni senāsanāni,
Careyya saṁyojanavippamokkhā;
Sace ratiṁ nādhigaccheyya tattha,
Saṅghe vase rakkhitatto satīmā.
Kulākulaṁ piṇḍikāya caranto,
Indriyagutto nipako satimā;
Sevetha pantāni senāsanāni,
Bhayā pamutto abhaye vimutto.
Yattha bheravā sarīsapā,
Vijju sañcarati thanayati devo;
Andhakāratimisāya rattiyā,
Nisīdi tattha bhikkhu vigatalomahaṁso.
Idañhi jātu me diṭṭhaṁ,
nayidaṁ itihītihaṁ;
Ekasmiṁ brahmacariyasmiṁ,
sahassaṁ maccuhāyinaṁ.
Bhiyyo pañcasatā sekkhā,
dasā ca dasadhā dasa;
Sabbe sotasamāpannā,
atiracchānagāmino.
Athāyaṁ itarā pajā,
puññabhāgāti me mano;
Saṅkhātuṁ nopi sakkomi,
musāvādassa ottapan”ti.