Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.
Vi-n 2 Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình?
—Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
Vi-n 4 —Nhưng vì sao, bạch Thế Tôn, đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp một cách hoàn toàn trọn vẹn; đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp không hoàn toàn trọn vẹn như vậy?
—Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông, Ông kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy.
Vi-n 5 Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở đây, một người cày ruộng có ba thửa ruộng, một loại tốt, một loại bậc trung, một loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Người cày ruộng ấy muốn gieo hột giống, thời gieo ở thuở ruộng nào trước, ruộng tốt, hay ruộng bậc trung, hay ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc?
—Bạch Thế Tôn, người gia chủ cày ruộng muốn gieo hột giống, gieo vào thửa ruộng tốt; sau khi gieo ở đấy xong, lại gieo vào thửa ruộng loại trung; sau khi gieo ở đấy xong, vị ấy có thể gieo hay không gieo hạt giống vào thửa ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Vì sao? Tối thiểu cũng có thể làm món ăn cho các trâu bò.
Vi-n 6 —Ví như thửa ruộng tốt, này Thôn trưởng, là các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni của Ta. Ðối với họ, Ta thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
Vi-n 7 Ví như thửa ruộng loại trung, này Thôn trưởng, là các vị nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
Vi-n 8 Ví như thửa ruộng xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ hiểu được chỉ một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Vi-n 9 Ví như, này Thôn trưởng, một người có ba bình nước, một bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước; một bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước; một bình nước nứt rạn, chảy nước, thấm nước. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Nếu có người muốn chứa nước, người ấy sẽ chứa nước ở đâu trước, người ấy chứa bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước, hay bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước, hay bình nước nứt rạn, chảy nước và thấm nước?
—Bạch Thế Tôn, người ấy muốn chứa nước, người ấy sẽ chứa vào bình nước không có nứt rạn, không có chảy nước, không có thấm nước. Sau khi chứa nước vào đấy rồi, người ấy mới chứa nước vào bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước. Sau khi chứa nước vào đấy rồi, người ấy mới chứa nước hay không chứa nước vào bình nước bị nứt rạn, bị chảy nước, bị thấm nước. Vì sao? Vì ít nhứt cũng có thể dùng để rửa vật dụng.
Vi-n 10 —Ví dụ với bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước, này Thôn trưởng, là các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
Vi-n 11 Ví dụ với cái bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước, này Thôn trưởng, là các nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
Vi-n 12 Ví dụ với cái bình nước bị nứt rạn, bị chảy nước, bị thấm nước, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ chỉ hiểu được một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Vi-n 13 Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharati pāvārikambavane.
Atha kho asibandhakaputto gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“nanu, bhante, bhagavā sabbapāṇabhūtahitānukampī viharatī”ti?
“Evaṁ, gāmaṇi, tathāgato sabbapāṇabhūtahitānukampī viharatī”ti.
“Atha kiñcarahi, bhante, bhagavā ekaccānaṁ sakkaccaṁ dhammaṁ deseti, ekaccānaṁ no tathā sakkaccaṁ dhammaṁ desetī”ti?
“Tena hi, gāmaṇi, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi.
Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, idhassu kassakassa gahapatino tīṇi khettāni—ekaṁ khettaṁ aggaṁ, ekaṁ khettaṁ majjhimaṁ, ekaṁ khettaṁ hīnaṁ jaṅgalaṁ ūsaraṁ pāpabhūmi.
Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, asu kassako gahapati bījāni patiṭṭhāpetukāmo kattha paṭhamaṁ patiṭṭhāpeyya, yaṁ vā aduṁ khettaṁ aggaṁ, yaṁ vā aduṁ khettaṁ majjhimaṁ, yaṁ vā aduṁ khettaṁ hīnaṁ jaṅgalaṁ ūsaraṁ pāpabhūmī”ti?
“Asu, bhante, kassako gahapati bījāni patiṭṭhāpetukāmo yaṁ aduṁ khettaṁ aggaṁ tattha patiṭṭhāpeyya. Tattha patiṭṭhāpetvā yaṁ aduṁ khettaṁ majjhimaṁ tattha patiṭṭhāpeyya. Tattha patiṭṭhāpetvā yaṁ aduṁ khettaṁ hīnaṁ jaṅgalaṁ ūsaraṁ pāpabhūmi tattha patiṭṭhāpeyyapi, nopi patiṭṭhāpeyya.
Taṁ kissa hetu?
Antamaso gobhattampi bhavissatī”ti.
“Seyyathāpi, gāmaṇi, yaṁ aduṁ khettaṁ aggaṁ; evameva mayhaṁ bhikkhubhikkhuniyo.
Tesāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi.
Taṁ kissa hetu?
Ete hi, gāmaṇi, maṁdīpā maṁleṇā maṁtāṇā maṁsaraṇā viharanti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, yaṁ aduṁ khettaṁ majjhimaṁ; evameva mayhaṁ upāsakaupāsikāyo.
Tesaṁ pāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi.
Taṁ kissa hetu?
Ete hi, gāmaṇi, maṁdīpā maṁleṇā maṁtāṇā maṁsaraṇā viharanti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, yaṁ aduṁ khettaṁ hīnaṁ jaṅgalaṁ ūsaraṁ pāpabhūmi; evameva mayhaṁ aññatitthiyā samaṇabrāhmaṇaparibbājakā.
Tesaṁ pāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi.
Taṁ kissa hetu?
Appeva nāma ekaṁ padampi ājāneyyuṁ taṁ nesaṁ assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyāti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, purisassa tayo udakamaṇikā—eko udakamaṇiko acchiddo ahārī aparihārī, eko udakamaṇiko acchiddo hārī parihārī, eko udakamaṇiko chiddo hārī parihārī.
Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, asu puriso udakaṁ nikkhipitukāmo kattha paṭhamaṁ nikkhipeyya, yo vā so udakamaṇiko acchiddo ahārī aparihārī, yo vā so udakamaṇiko acchiddo hārī parihārī, yo vā so udakamaṇiko chiddo hārī parihārī”ti?
“Asu, bhante, puriso udakaṁ nikkhipitukāmo, yo so udakamaṇiko acchiddo ahārī aparihārī tattha nikkhipeyya, tattha nikkhipitvā, yo so udakamaṇiko acchiddo hārī parihārī tattha nikkhipeyya, tattha nikkhipitvā, yo so udakamaṇiko chiddo hārī parihārī tattha nikkhipeyyapi, nopi nikkhipeyya.
Taṁ kissa hetu?
Antamaso bhaṇḍadhovanampi bhavissatī”ti.
“Seyyathāpi, gāmaṇi, yo so udakamaṇiko acchiddo ahārī aparihārī; evameva mayhaṁ bhikkhubhikkhuniyo.
Tesāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi.
Taṁ kissa hetu?
Ete hi, gāmaṇi, maṁdīpā maṁleṇā maṁtāṇā maṁsaraṇā viharanti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, yo so udakamaṇiko acchiddo hārī parihārī; evameva mayhaṁ upāsakaupāsikāyo.
Tesāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi.
Taṁ kissa hetu?
Ete hi, gāmaṇi, maṁdīpā maṁleṇā maṁtāṇā maṁsaraṇā viharanti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, yo so udakamaṇiko chiddo hārī parihārī; evameva mayhaṁ aññatitthiyā samaṇabrāhmaṇaparibbājakā.
Tesāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi.
Taṁ kissa hetu?
Appeva nāma ekaṁ padampi ājāneyyuṁ, taṁ nesaṁ assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Evaṁ vutte, asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante …pe…
upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Sattamaṁ.
At one time the Buddha was staying near Nāḷandā in Pāvārika’s mango grove.
Then Asibandhaka’s son the chief went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, doesn’t the Buddha live full of sympathy for all living beings?”
“Yes, chief.”
“So why then, sir, do you teach some people thoroughly and others less thoroughly?”
“Well then, chief, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like.
What do you think? Suppose a farmer has three fields: one is good, one is average, and one is poor—bad ground of sand and salt.
What do you think? When that farmer wants to plant seeds, where would he plant them first: the good field, the average one, or the poor one?”
“Sir, he’d plant them first in the good field, then the average, then he may or may not plant seed in the poor field.
Why is that?
Because at least it can be fodder for the cattle.”
“To me, the monks and nuns are like the good field.
I teach them the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure.
Why is that?
Because they live with me as their island, asylum, shelter, and refuge.
To me, the laymen and laywomen are like the average field.
I also teach them the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure.
Why is that?
Because they live with me as their island, asylum, shelter, and refuge.
To me, the ascetics, brahmins, and wanderers of other religions are like the poor field, the bad ground of sand and salt.
I also teach them the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure.
Why is that?
Hopefully they might understand even a single sentence, which would be for their lasting welfare and happiness.
Suppose a person had three water jars: one that’s uncracked and nonporous; one that’s uncracked but porous; and one that’s cracked and porous.
What do you think? When that person wants to store water, where would they store it first: in the jar that’s uncracked and nonporous, the one that’s uncracked but porous, or the one that’s cracked and porous?”
“Sir, they’d store water first in the jar that’s uncracked and nonporous, then the one that’s uncracked but porous, then they may or may not store water in the one that’s cracked and porous.
Why is that?
Because at least it can be used for washing the dishes.”
“To me, the monks and nuns are like the water jar that’s uncracked and nonporous.
I teach them the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure.
Why is that?
Because they live with me as their island, asylum, shelter, and refuge.
To me, the laymen and laywomen are like the water jar that’s uncracked but porous.
I also teach them the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure.
Why is that?
Because they live with me as their island, asylum, shelter, and refuge.
To me, the ascetics, brahmins, and wanderers of other religions are like the water jar that’s cracked and porous.
I also teach them the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure.
Why is that?
Hopefully they might understand even a single sentence, which would be for their lasting welfare and happiness.”
When he said this, Asibandhaka’s son the chief said to the Buddha,
“Excellent, sir! Excellent! …
From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.
Vi-n 2 Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình?
—Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
Vi-n 4 —Nhưng vì sao, bạch Thế Tôn, đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp một cách hoàn toàn trọn vẹn; đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp không hoàn toàn trọn vẹn như vậy?
—Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông, Ông kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy.
Vi-n 5 Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở đây, một người cày ruộng có ba thửa ruộng, một loại tốt, một loại bậc trung, một loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Người cày ruộng ấy muốn gieo hột giống, thời gieo ở thuở ruộng nào trước, ruộng tốt, hay ruộng bậc trung, hay ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc?
—Bạch Thế Tôn, người gia chủ cày ruộng muốn gieo hột giống, gieo vào thửa ruộng tốt; sau khi gieo ở đấy xong, lại gieo vào thửa ruộng loại trung; sau khi gieo ở đấy xong, vị ấy có thể gieo hay không gieo hạt giống vào thửa ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Vì sao? Tối thiểu cũng có thể làm món ăn cho các trâu bò.
Vi-n 6 —Ví như thửa ruộng tốt, này Thôn trưởng, là các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni của Ta. Ðối với họ, Ta thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
Vi-n 7 Ví như thửa ruộng loại trung, này Thôn trưởng, là các vị nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
Vi-n 8 Ví như thửa ruộng xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ hiểu được chỉ một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Vi-n 9 Ví như, này Thôn trưởng, một người có ba bình nước, một bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước; một bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước; một bình nước nứt rạn, chảy nước, thấm nước. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Nếu có người muốn chứa nước, người ấy sẽ chứa nước ở đâu trước, người ấy chứa bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước, hay bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước, hay bình nước nứt rạn, chảy nước và thấm nước?
—Bạch Thế Tôn, người ấy muốn chứa nước, người ấy sẽ chứa vào bình nước không có nứt rạn, không có chảy nước, không có thấm nước. Sau khi chứa nước vào đấy rồi, người ấy mới chứa nước vào bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước. Sau khi chứa nước vào đấy rồi, người ấy mới chứa nước hay không chứa nước vào bình nước bị nứt rạn, bị chảy nước, bị thấm nước. Vì sao? Vì ít nhứt cũng có thể dùng để rửa vật dụng.
Vi-n 10 —Ví dụ với bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước, này Thôn trưởng, là các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
Vi-n 11 Ví dụ với cái bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước, này Thôn trưởng, là các nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
Vi-n 12 Ví dụ với cái bình nước bị nứt rạn, bị chảy nước, bị thấm nước, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ chỉ hiểu được một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Vi-n 13 Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharati pāvārikambavane.
Atha kho asibandhakaputto gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“nanu, bhante, bhagavā sabbapāṇabhūtahitānukampī viharatī”ti?
“Evaṁ, gāmaṇi, tathāgato sabbapāṇabhūtahitānukampī viharatī”ti.
“Atha kiñcarahi, bhante, bhagavā ekaccānaṁ sakkaccaṁ dhammaṁ deseti, ekaccānaṁ no tathā sakkaccaṁ dhammaṁ desetī”ti?
“Tena hi, gāmaṇi, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi.
Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, idhassu kassakassa gahapatino tīṇi khettāni—ekaṁ khettaṁ aggaṁ, ekaṁ khettaṁ majjhimaṁ, ekaṁ khettaṁ hīnaṁ jaṅgalaṁ ūsaraṁ pāpabhūmi.
Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, asu kassako gahapati bījāni patiṭṭhāpetukāmo kattha paṭhamaṁ patiṭṭhāpeyya, yaṁ vā aduṁ khettaṁ aggaṁ, yaṁ vā aduṁ khettaṁ majjhimaṁ, yaṁ vā aduṁ khettaṁ hīnaṁ jaṅgalaṁ ūsaraṁ pāpabhūmī”ti?
“Asu, bhante, kassako gahapati bījāni patiṭṭhāpetukāmo yaṁ aduṁ khettaṁ aggaṁ tattha patiṭṭhāpeyya. Tattha patiṭṭhāpetvā yaṁ aduṁ khettaṁ majjhimaṁ tattha patiṭṭhāpeyya. Tattha patiṭṭhāpetvā yaṁ aduṁ khettaṁ hīnaṁ jaṅgalaṁ ūsaraṁ pāpabhūmi tattha patiṭṭhāpeyyapi, nopi patiṭṭhāpeyya.
Taṁ kissa hetu?
Antamaso gobhattampi bhavissatī”ti.
“Seyyathāpi, gāmaṇi, yaṁ aduṁ khettaṁ aggaṁ; evameva mayhaṁ bhikkhubhikkhuniyo.
Tesāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi.
Taṁ kissa hetu?
Ete hi, gāmaṇi, maṁdīpā maṁleṇā maṁtāṇā maṁsaraṇā viharanti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, yaṁ aduṁ khettaṁ majjhimaṁ; evameva mayhaṁ upāsakaupāsikāyo.
Tesaṁ pāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi.
Taṁ kissa hetu?
Ete hi, gāmaṇi, maṁdīpā maṁleṇā maṁtāṇā maṁsaraṇā viharanti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, yaṁ aduṁ khettaṁ hīnaṁ jaṅgalaṁ ūsaraṁ pāpabhūmi; evameva mayhaṁ aññatitthiyā samaṇabrāhmaṇaparibbājakā.
Tesaṁ pāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi.
Taṁ kissa hetu?
Appeva nāma ekaṁ padampi ājāneyyuṁ taṁ nesaṁ assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyāti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, purisassa tayo udakamaṇikā—eko udakamaṇiko acchiddo ahārī aparihārī, eko udakamaṇiko acchiddo hārī parihārī, eko udakamaṇiko chiddo hārī parihārī.
Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, asu puriso udakaṁ nikkhipitukāmo kattha paṭhamaṁ nikkhipeyya, yo vā so udakamaṇiko acchiddo ahārī aparihārī, yo vā so udakamaṇiko acchiddo hārī parihārī, yo vā so udakamaṇiko chiddo hārī parihārī”ti?
“Asu, bhante, puriso udakaṁ nikkhipitukāmo, yo so udakamaṇiko acchiddo ahārī aparihārī tattha nikkhipeyya, tattha nikkhipitvā, yo so udakamaṇiko acchiddo hārī parihārī tattha nikkhipeyya, tattha nikkhipitvā, yo so udakamaṇiko chiddo hārī parihārī tattha nikkhipeyyapi, nopi nikkhipeyya.
Taṁ kissa hetu?
Antamaso bhaṇḍadhovanampi bhavissatī”ti.
“Seyyathāpi, gāmaṇi, yo so udakamaṇiko acchiddo ahārī aparihārī; evameva mayhaṁ bhikkhubhikkhuniyo.
Tesāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi.
Taṁ kissa hetu?
Ete hi, gāmaṇi, maṁdīpā maṁleṇā maṁtāṇā maṁsaraṇā viharanti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, yo so udakamaṇiko acchiddo hārī parihārī; evameva mayhaṁ upāsakaupāsikāyo.
Tesāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi.
Taṁ kissa hetu?
Ete hi, gāmaṇi, maṁdīpā maṁleṇā maṁtāṇā maṁsaraṇā viharanti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, yo so udakamaṇiko chiddo hārī parihārī; evameva mayhaṁ aññatitthiyā samaṇabrāhmaṇaparibbājakā.
Tesāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi.
Taṁ kissa hetu?
Appeva nāma ekaṁ padampi ājāneyyuṁ, taṁ nesaṁ assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Evaṁ vutte, asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante …pe…
upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Sattamaṁ.